Cannabigerol (CBG) – một cannabinoid tiềm năng

CBG được coi là tiền thân của các cannabinoids khác. Điều này là do CBG-A, dạng axit của CBG, khi được đun nóng sẽ bị phá vỡ để tạo thành CBG, CBD, THC và CBC.

Mặc dù nghiên cứu về CBG còn hạn chế, các nghiên cứu cho thấy rằng nó mang lại nhiều lợi ích.

CBG có thể cải thiện các tình trạng sức khỏe sau đây:

  • Bệnh viêm ruột: Nghiên cứu năm 2013 được thực hiện trên chuột cho thấy CBG dường như làm giảm tình trạng viêm liên quan đến viêm ruột
  • Bệnh tăng nhãn áp:  CBG có thể có hiệu quả trong điều trị bệnh tăng nhãn áp vì nó làm giảm áp lực nội nhãn.
  • Rối loạn chức năng bàng quang:  Một số cannabinoid ảnh hưởng đến sự co bóp của bàng quang. Một nghiên cứu năm 2015 đã xem xét năm loại cannabinoid khác nhau ảnh hưởng đến bàng quang và kết luận rằng CBG cho thấy nhiều hứa hẹn nhất trong việc điều trị rối loạn chức năng bàng quang.
  • Bệnh Huntington: Nghiên cứu năm 2015 trên chuột cho thấy CBG có thể có các đặc tính bảo vệ thần kinh, có tác dụng tốt lên bệnh lý thoái hoá tế bào thần kinh như Huntington. Nghiên cứu kết luận rằng CBG có thể cho thấy sự hứa hẹn trong điều trị các tình trạng thoái hóa thần kinh khác.
  • Nhiễm khuẩn:  Nghiên cứu năm 2008 gợi ý rằng CBG có thể giết chết vi khuẩn, đặc biệt tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) gây ra tình trạng nhiễm trùng khó điều trị và khá nguy hiểm.
  • Ung thư: Nghiên cứu năm 2014 xem xét ung thư ruột kết ở chuột và kết luận rằng CBG có thể làm giảm sự phát triển của các tế bào ung thư và các khối u khác.
  • Chán ăn: CBG có thể kích thích sự thèm ăn. Tác dụng kích thích sự thèm ăn có thể được sử dụng để giúp đỡ những người mắc các bệnh như HIV hoặc ung thư.

Mặc dù các nghiên cứu này rất hứa hẹn nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu đầy đủ về cách thức hoạt động của CBG trong cơ thể.

Người ta biết rất ít về tác dụng phụ của dầu CBG hoặc các dạng khác của CBG, không có đủ nghiên cứu để nói về tác dụng phụ tiềm ẩn mà nó có thể gây ra cho con người.

Không có nhiều thông tin về cách CBG có thể tương tác với các loại thuốc kê đơn hoặc không kê đơn, cũng như vitamin hoặc chất bổ sung.

Nếu bạn dùng bất kỳ loại thuốc nào, tốt nhất nên kiểm tra kỹ với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn trước khi thử dầu CBG. Điều này đặc biệt quan trọng nếu bạn dùng một loại thuốc thận trọng khi dùng với bưởi. 

CBD có thể ảnh hưởng cách cơ thể bạn chuyển hóa các loại thuốc này. Đừng ngừng dùng bất kỳ loại thuốc nào để sử dụng dầu CBG trừ khi nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn yêu cầu bạn làm như vậy.

Nên sử dụng các sản phẩm dầu chiết xuất toàn phần, chúng chứa nhiều loại cannabinoid, các cannabinoid hoạt động tốt nhất khi chúng được kết hợp với nhau (hiệu ứng cộng hưởng). Đặc biệt, sự kết hợp giữa CBD và CBG cho nhiều lợi ích.

Nguồn tham khảo thêm: 

  • https://www.healthline.com/health/cbg-oil#takeaway
  • https://www.forbes.com/sites/janellelassalle/2019/09/11/why-cbg-cannabigerol-expensive-produce/#eebcb592f771
  • https://weedmaps.com/news/2019/08/what-is-cbg/
  • https://wayofleaf.com/education/cbg-what-is-cbg-how-does-it-work-and-what-is-it-used-for
  • https://mgretailer.com/business/science-tech/is-cbg-the-new-cbd/https://surgeonfishcbd.com/cbg-benefits/

 

Dịch giả: Sunny Ngọc Mai

Tham khảo thêm: Healthline – Meet CBG, the New Cannabinoid on the Block

CBG và khả năng tiêu diệt tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) – sát thủ vô hình trong bệnh viện

Gần đây, những nhà nghiên cứu tại Đại học McMaster ở Canada đã công bố một bài báo khoa học mô tả lại cách thức mà cannabigerol, một loại cannabinoid phổ biến hay còn gọi là CBG, đã tiêu diệt nhiều chủng MRSA – tụ cầu vàng kháng methicillin. Các nhà nghiên cứu do Eric D. Brown dẫn đầu, đã tiến xa hơn các nghiên cứu trước đây bằng cách thử nghiệm CBD trên loài gặm nhấm thay vì trên đĩa petri. Những kết quả này có thể là một bước khởi đầu để biến CBG trở thành một loại kháng sinh mới nhất trên thị trường.

MRSA: Một Vấn Đề Nghiêm Trọng Tại Các Bệnh Viện

MRSA là một vấn đề nhức nhối đối với các bệnh viện trên toàn thế giới. Cứ ba người thì có một người mang vi khuẩn tụ cầu vàng Staphylococcus aureus trong mũi của họ. S. aureus là một loại vi khuẩn phổ biến thường vô hại trừ khi nó xâm nhập vào các vết thương hở, trong trường hợp này đôi khi nó có thể dẫn đến tử vong do nhiễm trùng.

Hầu hết các ca nhiễm trùng tụ cầu khuẩn có thể được điều trị thành công bằng thuốc kháng sinh. Nhưng qua nhiều năm, một dạng tụ cầu khuẩn kháng kháng sinh, được gọi là MRSA (Tụ cầu vàng kháng methicillin), đã trở thành một mối nguy hiểm thật sự.

Cứ 100 người thì có khoảng 5 người mang khuẩn MRSA. Và trong khi các ca nhiễm trùng MRSA thường là dạng nhẹ, nhưng nếu khó điều trị, chúng có thể trở nên nguy hiểm. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp người nhiễm MRSA bị ức chế miễn dịch, chẳng hạn như những người tiếp xúc với MRSA trong các bệnh viện.

MRSA thường gặp nhất ở những ca nhiễm trùng da và mô mềm. Nó có thể gây ra các vết sưng đỏ và vết loét. Hoặc nó có thể làm cho các vết thương bị mưng mủ, từ từ tiêu diệt các mô.

Mọi thứ trở nên cực kỳ khó khăn khi MRSA xâm nhập vào cơ thể. Cụm từ “viêm hoại tử” được sử dụng rất nhiều trong việc mô tả những ảnh hưởng gây ra bởi các tình trạng nhiễm trùng này. MRSA có thể gây nhiễm trùng xương, nhiễm trùng phổi, và thậm chí gây ra nhiễm trùng chết người ở tim và đường máu. Các bác sĩ trên toàn thế giới đang cảm thấy tuyệt vọng trong công cuộc tìm kiếm các phương pháp điều trị để có thể ngăn chặn nó. Thật không may, rất khó để tìm ra những loại kháng sinh mới. Loại kháng sinh mới nhất được phát triển là hơn 30 năm trước.

Cần Sa Như Một Chất Kháng Khuẩn

Các nhà nghiên cứu đã biết được đặc tính kháng khuẩn của cần sa trong nhiều thập kỷ. Ban đầu họ không biết chính xác hợp chất nào mang đến những tác dụng mà họ thấy được, nhưng một nghiên cứu gần đây đã bắt đầu cho biết chính xác loại cannabinoid nào mang đến hiệu quả chống khuẩn.

Nhóm nghiên cứu của Đại học McMaster đã thử nghiệm 18 loại cannabinoid trên các chủng MRSA phổ biến nhất và nhận thấy rằng gần như tất cả các loại cannabinoid đều có tác dụng chống khuẩn.

Một điều rất thú vị là khi ăn, hợp chất Δ9-THC bị phá vỡ thành 11-OH-THC – hợp chất này hoàn toàn không mang đến hiệu quả trong việc tiêu diệt vi rút. Điều này có thể giúp ngừng lại việc sử dụng THC dạng ăn để điều trị trong các nghiên cứu về kháng sinh trong tương lai.

Bảy loại hợp chất cannabinoid, gồm có CBG, CBD, CBN, CBCA, Δ9-THC, và Δ8-THC, là hiệu quả nhất. Chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn tại mức nồng độ đủ thấp để đảm bảo cho việc nghiên cứu sâu hơn, CBG cho thấy hiệu quả ở mức nồng độ đặc biệt thấp.

Khả Năng Tiêu Diệt MRSA Của CBG

Một trong những lý do mà MRSA rất khó để điều trị là do màng sinh học mà các tế bào vi khuẩn tự tạo ra để bảo vệ chúng.

Màng sinh học được xem như là một chiếc áo giáp của vi khuẩn. CBG không chỉ có khả năng ngăn chặn việc hình thành màng sinh học mà còn có thể phá vỡ chúng. Đó cũng là lý do vì sao nó lại có hiệu quả trong việc tiêu diệt MRSA ở mức nồng độ tương đối thấp.

Nhưng liệu CBG sẽ làm điều tương tự đối với các tế bào máu? Như vậy sẽ là một dấu hiệu gây độc tế bào, và cũng là một báo hiệu dừng lại để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành cho các tế bào hồng cầu ở người tiếp xúc với CBG, và kết quả là các tế bào vẫn khỏe mạnh. Vì thế, dường như CBG có thể loại bỏ lớp màng sinh học của MRSA, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn các tế bào máu.

Đối Phó Với Tế Bào “Persister”

Mối quan ngại chủ yếu đối với các loại thuốc kháng sinh tiềm năng đó chính là các cơ chế mà vi khuẩn sở hữu có thể khiến cho các loại kháng sinh kém hiệu quả hơn. Cơ chế đầu tiên trong số này có liên quan đến các tế bào vi khuẩn nằm vùng hay còn gọi là tế bào persister. Các tế bào persister có khả năng kháng kháng sinh mạnh mẽ, và có thể tái kích hoạt sau khi hết kháng sinh, làm tái nhiễm trùng vật chủ. CBG cho thấy có thể tiêu diệt tất cả các tế bào persister trong đĩa petri trong vòng 30 phút.

Một cơ chế rắc rối khác mà vi khuẩn đối phó với thuốc kháng sinh là thông qua việc đột biến, chúng có thể nhanh chóng chống lại một số loại thuốc kháng sinh cụ thể. Đó là cách mà một vi khuẩn dường như vô hại như tụ cầu khuẩn đã tiến hóa thành MRSA gây chết người.

Những nhà nghiên cứu đã tạo ra những mô hình giả lập để xem MRSA sẽ thích ứng với CBG nhanh đến mức nào. Thế nhưng không, CBG vẫn mang đến hiệu quả chống lại MRSA ngay cả khi họ đang cố gắng để chúng đột biến thành một chủng kháng kháng sinh. Mức độ nhạy cảm này là một yếu tố tối quan trọng trong việc phát triển nên một loại kháng sinh có tác dụng trong thời gian dài.

Điều Trị MRSA Ở Người

Vậy khi nào chúng ta mới có thể sử dụng CBG để điều trị MRSA ở người? Khi một hợp chất đã chứng minh được sự hiệu quả của nó trong đĩa petri, bước tiếp theo là tiến hành thử nghiệm nó trên động vật. Và đó chính xác là những gì những nhà nghiên cứu tại McMaster đã thực hiện. Họ sử dụng CBG để thực hiện điều trị trên chuột, và phát hiện ra rằng CBG có thể làm giảm lượng vi khuẩn ở chuột đi một nửa.

Liều hiệu quả nhất trong việc tiêu diệt vi khuẩn là 100mg/kg CBG dạng tiêm. Điều đó có nghĩa rằng nếu mở rộng thử nghiệm trên người thì cần một liều lượng tương đối lớn. 100mg/kg sẽ rơi vào khoảng một phần tư ounce (xấp xỉ 7g) CBG tinh khiết cho một người nặng khoảng 70kg. Không chỉ là một liều khá nặng, mà chúng ta thông thường cũng không áp dụng tiêm cannabinoid trên người. Thông thường, những ứng dụng y tế của cannabinoid là ở dạng uống, oromucosal, hoặc intranasal. Đây là tất cả những vấn đề cần được giải quyết trong các nghiên cứu tiếp theo.

Cân Bằng Giữa Hiệu Quả Và An Toàn

Mặc dù “các loại thuốc kháng sinh thường được sử dụng với liều lượng cao hơn so với nhiều loại thuốc khác và thường được sử dụng để đạt được mức độ hiệu quả cao hơn ở người so với hầu hết các loại thuốc khác”, Eric D. Brown cho biết, “nhu cầu sử dụng kháng sinh liều cao để đạt được sự hiệu quả thường không đi đôi với nhu cầu về tính an toàn và khả năng dung nạp. Thật vậy, đây là một trong những lý do dẫn đến có quá nhiều thất bại trong lịch sử phát hiện và điều chế thuốc kháng sinh. Nó khó có thể đạt được cả về mặt hiệu quả lẫn khả năng dung nạp. Tất nhiên, đây chính là lý do tại sao MRSA vẫn còn là một thách thức trong các bệnh viện”.

Mặc dù biết rằng CBG còn phải trải qua một chặng đường khá dài trước khi nó được chấp thuận đề điều trị MRSA, nhưng nó có thể không quá xa vời để hình dung được một ngày nào đó chúng ta có thể sử dụng cần sa để ngăn chặn loại vi khuẩn ăn thịt này.

Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Leafly – Study finds CBG useful in killing MRSA, the deadly hospital bacteria

Thuốc cần sa – Siêu kháng sinh của tương lai?

Photo Credit: Google Mosaic – Cannabinoids Battle Infection

Các chuyên gia y tế gọi vấn đề này là một tình trạng khẩn cấp trên toàn thế giới. Nạn dịch nhiễm trùng do vi khuẩn không thể kiểm soát được này sẽ gây tử vong cho vô số người già và những người bị suy giảm miễn dịch. Ngày nay, các phương pháp điều trị và phẫu thuật thường quy bao gồm cả các bệnh nhiễm khuẩn, một điều có phần hiếm gặp trong quá khứ.  Công cuộc hợp pháp hoá cần sa cần sa y tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu lâm sàng, đem lại một số phát hiện đáng khích lệ.  Một số nhà nghiên cứu lỗi lạc đang bắt đầu tự hỏi liệu các dạng siêu kháng sinh trong tương lai sẽ được tạo ra trên nền tảng từ các hoạt chất cannabinoid có trong cần sa hay không?

“Nếu không có những hành động phối hợp khẩn cấp của các bên liên quan, thế giới sẽ không thể tránh khỏi một kỷ nguyên hậu kháng sinh.  Các bệnh nhiễm trùng thường gặp và thương tích nhẹ vốn đã được điều trị hàng thập kỷ qua có thể sẽ một lần nữa gây ra nhiều thương vong cho loài người.” – Bác sĩ Keiji Fukuda thuộc Tổ chức Y tế Thế giới phát biểu qua đài BBC

Những loại thuốc kháng sinh đầu tiên xuất hiện trên thị trường vào năm 1911/1912 nhưng chúng khá độc, thậm chí một số có chứa arsen (bạn có tin nổi không).  Cho đến những năm 1930, thuốc kháng sinh vẫn không được kê toa một cách rộng rãi.  Trong Chiến tranh Thế giới thứ II, penicillin đã được sử dụng để cứu sống nhiều người lính.  Kể từ đó, đã có rất nhiều dòng kháng sinh đã được phát triển và đưa ra thị trường.  Các loại chính bao gồm:

  • Nhóm Penicillin:  penicillin và amoxicillin
  • Nhóm Cephalosporin: cephalexin (Keflex)
  • Nhóm Macrolide: erythromycin (E-Mycin), clarithromycin (Biaxin), và azithromycin (Zithromax)
  • Nhóm Fluoroquinolone: ciprofloxacin (Cipro), levofloxacin (Levaquin), và ofloxacin (Floxin)
  • Nhóm Sulfonamid: co-trimoxazole (Bactrim) và trimethoprim (Proloprim)
  • Nhóm Tetracycline: tetracycline (Sumycin, Panmycin) và doxycycline (Vibramycin)
  • Nhóm Aminoglycoside: gentamicin (Garamycin) và tobramycin (Tobrex)

Không may thay, một số bác sĩ và một số người nhận thuốc do họ kê toa đã dùng các loại thuốc kháng sinh này để chữa trị mọi thứ bệnh nhẹ và rối loạn vặt vãnh.  Trong quá trình tiến hóa, các vi khuẩn biến đổi để sinh tồn, một số đặc tính ngẫu nhiên mới xuất hiện đã giúp cho chúng có thể thích nghi với môi trường không ngừng thay đổi. Một lượng ít ỏi trong số những vi khuẩn bị thuốc kháng sinh tiêu diệt trong trận chiến ban đầu đã sống sót và cuối cùng còn phát triển mạnh mẽ.  Những “con siêu trùng”  mới xuất hiện này có thể chống chọi và sống sót trước mọi loại thuốc kháng sinh dùng để tấn công chúng.

“Thứ không giết được bạn thì sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.”

Theo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), hàng năm bệnh tụ cầu vàng kháng Methicillin (MRSA) gây ra hơn 10.000 ca tử vong.  CDC cho biết MRSA là hậu quả trực tiếp của việc kê đơn thuốc kháng sinh quá mức, đã biến vi khuẩn tụ cầu vàng thường gặp này thành một thứ ác quỷ.  Các biến chứng của MRSA dẫn đến sự tăng xác suất tử vong của người bệnh lên tới 60%.  MRSA là các dạng nhiễm trùng và nó đang biến chính bệnh viện và cơ sở y tế thành những nơi nguy hiểm.

Trong quá khứ, MRSA đã rình rập tấn công những người có hệ miễn dịch yếu; nhưng gần đây, chủng vi khuẩn này đang dần xâm lấn đến cả những nhóm người khỏe mạnh. Sự bùng phát của chúng có thể xảy ra tại các trường trung học, các đội bóng, hội nghị, và các tàu du lịch – đây chỉ mới là một vài trường hợp liệt kê chưa đầy đủ.  Mặc dù sổ sách của Tổng thống Obama đã có những tránh né khi đề cập đến việc cải thiện chăm sóc sức khoẻ tại Mỹ, nhưng ông vẫn đã ban hành một sắc luật với mục đích chiến đấu với các loại vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh. Dự thảo ngân sách dành cho vấn đề này là 1,2 tỷ đô la.  Hy vọng rằng số tiền này sẽ không bị lãng phí.

Cần sa trong vai trò một tác nhân kháng khuẩn – các kết quả nghiên cứu

Một số nghiên cứu khảo sát và thử nghiệm lâm sàng đã phát hiện thấy rằng cần sa có thể tiêu diệt MRSA cũng như nhiều loại vi khuẩn khác. Những phát hiện này đã mở rộng về chi tiết, nhằm nghiên cứu tính hiệu quả của  các cannabinoid (THC, CBD…) và các terpene (chất thơm) – những thành phần có tác dụng y tế chính yếu của loài cây này.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm 5 loại cannabinoid phổ biến nhất của cần sa để chống lại 6 chủng khác nhau, bao gồm các chủng EMRSA – là chủng vi khuẩn đã gây bùng phát dịch tại các bệnh viện. Họ phát hiện ra rằng mỗi một loại cannabinoid được thử nghiệm đều cho thấy có “hoạt tính mạnh” chống lại nhiều loại vi khuẩn.

“Một trong những ứng dụng thực tế nhất của các cannabinoid là có thể sử dụng chúng như thuốc bôi tại chỗ để điều trị các vết loét và thương tích trong môi trường bệnh viện, giảm bớt gánh nặng về các loại thuốc kháng sinh.” – Tiến sĩ Giovani

Nghiên cứu đã phát hiện các cannabinoid mang rất nhiều đặc tính y tế, như chống ung thư, chống viêm, chống lo âu, chống đau, giúp tái tạo xương và mô thần kinh, và nhiều lợi ích khác.

“Các hợp chất của cần sa đã được chứng minh khả năng chấm dứt hoạt động của MRSA.”  phát hiện của Tiến sĩ Giovanni Appendino và Tiến sĩ Simon Gibbons.

Nghiên cứu cho thấy, qua hàng triệu năm, các cannabinoid đã được cây cần sa phát triển như một cách thức chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.  Hoạt tính đặc biệt của cannabinoid vẫn được, bất chấp mọi sự thích ứng gần đây nhất của các siêu vi khuẩn, sự duy trì này có lẽ vì một lý do chính đáng.  Cây cần sa đã phát triển những cách tiêu diệt ký sinh trùng như vi khuẩn trong hàng triệu năm, trong khi loài người, bằng sự khôn ngoan hạn hẹp của mình, chỉ đang “làm chơi” chưa đầy một thế kỷ.

“Cơ chế thực tế mà cần sa tiêu diệt các loài ký sinh vẫn còn là một bí ẩn, tôi thực sự không dám đoán mò chúng hoạt động như thế nào, nhưng tính hiệu quả cao trong vai trò kháng sinh của loài cây cho thấy chúng hẳn phải có một cơ chế rất đặc thù.” – Tiến sĩ Gibbons

Lịch sử bị lãng quên – cần sa là thuốc kháng sinh

Khi mà các phát hiện “mới” này tạo ra sự phấn khích cho thế hệ các nhà nghiên cứu y học này thì cây cần sa đã được sử dụng không phải là hàng thế kỷ, mà là hàng thiên niên kỷ.  Ngay cả ở Mỹ, cần sa và cây gai dầu đã được sử dụng suốt 3 thế kỷ đầu tiên trong lịch sử đất nước này. Cần sa đã luôn hợp pháp cho tới những năm 1930, khi mà các nhóm vận động hành lang tìm cách loại bỏ sự cạnh tranh: các ông lớn trong ngành giấy/bột giấy và dầu khí đã thành công trong việc thuyết phục công chúng cả tin rằng cần sa là chính là một chất ma túy quái ác và là “kẻ thù hàng đầu của nhân dân”.  Thú vị thay, FED (Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ) đã không khi nào thuyết phục được cộng đồng y khoa rằng cần sa là thứ xấu xa, và Ủy ban Dược điển Hoa Kỳ đã chống lại việc loại bỏ cần sa khỏi danh mục các loại thuốc/ liệu pháp.

“Nhựa cần sa đã thành công trong việc điều trị cả bệnh uốn ván và dịch tả.” – Theo Tạp chí Y khoa cấp tỉnh ở London năm 1843

Các biên niên sử được phác họa đầy đủ với nhiều tài liệu tham khảo về di truyền cần sa y tế, bao gồm việc sử dụng làm thuốc kháng sinh và điều trị các chấn thương mạn tính và đặc biệt là các vấn đề của phụ nữ như chứng chuột rút, tính khí thất thường, các vấn đề về phụ khoa và đau nhức. Các học giả cho rằng tại Ai Cập cổ đại, các sách giấy cói (papyrus) đã ghi lại rằng cây gai dầu đã từng được sử dụng như một chất khử trùng. Từ những vùng tận cùng thế giới, các bộ lạc châu Phi sử dụng cần sa làm thuốc giảm đau, thuốc an thần và thuốc kháng sinh cho đến tận ngày nay. Trong nền y học dân gian Nam Mỹ, cần sa được sử dụng để điều trị bệnh lậu và lao.

“Chỉ trong vòng vài tháng, dầu cần sa đã làm được những thứ mà thuốc kháng sinh đã không giải quyết được trong bao nhiêu năm, nó đã thực sự trả lại cuộc sống này cho tôi, tôi đã gần như hoàn toàn suy nhược và sa sút, tôi cũng không thể đi bộ hoặc nói chuyện mà chỉ ngồi trên xe lăn để được bón cho ăn. Tôi đã đánh liều dùng thử dầu cần sa và thực sự nó có hiệu quả.” – Theo Nhà văn Shelley White

Nhóm nghiên cứu Nam Rhodesia báo cáo rằng các loại thuốc cần sa là phương thuốc để chữa bệnh than, nhiễm trùng huyết, bệnh lỵ, chứng tiểu tiện hemoglobin sốt rét kí-ninh nhiệt đới.  Theo CDC, mỗi năm có 300.000 ca mắc bệnh Lyme mới do xoắn khuẩn spirochete hoặc borrelia burgdorferi – lây truyền qua côn trùng, ve, bét.  Khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh Lyme thuộc dạng bệnh mãn tính.


ĐỌC THÊM

Cannabinoid, hệ miễn dịch và mạng xytokin.

Cannabinoid đã chứng minh là có vai trò như những chất điều hòa quan trọng trong nhiều chứng rối loạn kể cả các bệnh của hệ miễn dịch. Việc đánh giá các hậu quả sinh học của các thay đổi xytokine do thuốc gây ra trở nên quan trọng, xét đến các tác động của xytokine lên hệ miễn dịch và liệu trước các ảnh hưởng của chúng đến bệnh ung thư, chứng viêm, bệnh tự miễn, tổn thương não, tạo cụm máu.

Sự hiện diện và chức năng điều hòa các thụ thể cannabinoid trong tế bào miễn dịch.

Bài báo này xem xét các tài liệu liên quan đến sự phân bố và chức năng của thụ thể cannabinoid trong hệ miễn dịch và đặt ra các nghi vấn về sự liên quan của chúng đến hiệu quả điều hòa miễn dịch của cannabinoids, THC, CBD… Trong 30 năm qua, hoạt động nghiên cứu về người và động vật lạm dụng ma túy được tiêm bằng nhiều loại cannabinoid, cũng như các mô hình trong ống nghiệm – nuôi cấy tế bào miễn dịch, đã chứng minh rằng cần sa và cannabinoid là các chất điều hoà miễn dịch. Các thụ thể cannabinoid, CB1 và CB2, được phát hiện thấy trong tế bào miễn dịch, cho thấy chúng điều chỉnh các ảnh hưởng của cannabinoid lên hệ miễn dịch.

Cannabinoid kháng khuẩn từ dòng cần sa sativa: nghiên cứu cấu trúc-hoạt tính.

Khi được quan sát cùng nhau, các quan sát thu được cho thấy rằng một nửa prenyl của cannabinoid chủ yếu có vai trò như một chất điều biến ái lực lipid ở cấp độ tế bào.  Hiệu lực cannabinoid mạnh rõ ràng cho thấy đây là một biệt dược, tuy nhiên, các cơ chế hoạt động sâu rộng thì cho đến nay vẫn khó xác định được một cách rõ ràng.

Cannabinoid và các bệnh nhiễm vi-rut

Cannabinoid được phát hiện thấy là những hệ enzyme phụ thuộc Ca2+ suy yếu và kháng viêm, nằm trong nhân của đáp ứng viêm và virus tế bào sẵn có. Khi các đáp ứng vật chủ do virus gây ra dẫn đến bệnh lý miễn dịch trong mô hình loài gặm nhấm đối với MS, TMEV-IDD, hoặc trong một bệnh nhiễm trùng mãn tính của hệ thần kinh do virus nL, BDV, thì việc điều trị bằng cannabinoid được phát hiện là có lợi.

THC kiểm soát: hợp lực cần sa tiềm năng và hiệu ứng cộng hưởng cần cannabinoid thực vật-terpenoid

Các bằng chứng khoa học đưa ra cho các thành phần thực vật phi cannabinoid (như terpene) đóng vai trò như một loại thuốc giải độc cho các tác động gây nhiễm độc của THC có thể cải thiện chỉ chỉ số trị liệu của chúng. Có thể áp dụng các phương pháp khảo sát hiệu ứng cộng hưởng trong các thí nghiệm trong tương lai. Quá trình hợp lực cannabinoid thực vật-terpenoid, nếu được chứng minh, sẽ đưa đến những triển vọng to lớn và liên tục về các sản phẩm trị liệu mới.

“Rễ cây thạch xương bồ (calamus) có thể là thuốc giải độc tốt nhất đối với các tác động tiêu cực của cần sa. . . Nếu một người hút một ít bột rể cây thạch xương bồ với cần sa thì các tác dụng phụ độc hại của thuốc sẽ hoàn toàn không còn.”

Cần sa và các bệnh nhiễm khuẩn

Các nghiên cứu động vật chi tiết và trong ống nghiệm.

Cần sa, miễn dịch và nhiễm trùng.

Những kết quả hấp dẫn này cho thấy trong những điều kiện nhất định, cannabinoid có thể cân bằng miễn dịch và tăng cường quá trình điều trị (điều trị) bệnh. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu nhiều hơn để xác định cả nguy cơ về sức khoẻ của việc lạm dụng cần sa và vai trò của hệ thống thụ thể/ phối tử trong việc điều hòa miễn dịch và cân bằng nội môi.

Dữ liệu về canabinoid chưa xử lý – Hiệu quả kháng khuẩn chống lại các chủng vi sinh vật tuyển chọn – không dành cho người không chuyên

  1. Caiffa, W. T., Vlahov, D., Graham, N. M. H., Astemborski, J., Solomon, L., Nelson, K. E., and Munoz, A. Am. J. Resp. Crit. Care Med. 1994, 150, 1593– 1598
  2. Roth, M. D., Whittaker, K., Salehi, K., Tashkin, D. P., and Baldwin, G. C. J. Neuroimmunol. 2004, 147, 82– 86

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Krjci, Z. Lekarske Listy 1952, 7, 500– 503ChemAbstr195248, 78326 
    (b) Ferenczy, L., Gracza, L., and Jakobey, I. Naturwissenschaften 1958, 45, 188 [CrossRef], [CAS]

(c) Krejci, Z. Pharmazie 1958, 13, 155– 156 [PubMed], [CAS]

(d) Rabinovich, A. S., Aizenman, B. L., and Zelepukha, S. I. Mikrobiol. Zh 1959, 21, 40– 48 (PubMed ID 14435632) [PubMed], [CAS]

(e) Turner, C. E., Elsohly, M. A., and Boeren, E. G. J. Nat. Prod. 1980, 43, 169– 243

  1. Schultz, O. E. and Haffner, G. A. Z. Naturforsch. 1959, 14b, 98– 100

[CAS]

  1. Turner, C. E. and Elsohly, M. A. J. Clin. Pharmacol. 1981, 21, 283S– 291S

[PubMed], [CAS]

  1. Elsohly, H. N., Turner, C. E., Clark, A. M., and Elsohly, M. A. J. Pharm. Sci. 1982, 71, 1319– 1323

[CrossRef], [PubMed]

  1. Van Klingeren, B. and Ten Ham, M. Lab. Chemother. Natl. Inst. Public Health 1976, 42, 9– 12; ChemAbstr197685, 14622
  2. Molnar, J., Csiszar, K., Nishioka, I., and Shoyama, Y. Acta Microb. Hung. 1986, 33, 221– 231

[PubMed], [CAS]

  1. Barrett, C. T. and Barrett, J. F. Curr. Opin. Biotechnol. 2003, 14, 621– 626

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Gibbons, S. Nat. Prod. Rep. 2004, 21, 263– 277

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Stavri, M., Piddock, L. J. V., and Gibbons, S. J. Antimicrob. Chemother. 2007, 59, 1247– 1260

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Smith, E. C. J., Kaatz, G. W., Seo, S. M., Wareham, N., Williamson, E. M., and Gibbons, S. Antimicrob. Agents Chemother. 2007, 51, 4480– 4483

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Richardson, J. F. and Reith, S. J. Hosp. Infect. 1993, 25, 45– 52

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Kaatz, G. W., Seo, S. M., and Ruble, C. A. Antimicrob. Agents Chemother. 1993, 37, 1086– 1094

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Ross, J. I., Farrell, A. M., Eady, E. A., Cove, J. H., and Cunliffe, W. J. J. Antimicrob. Chemother. 1989, 24, 851– 862

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Gibbons, S. and Udo, E. E. Phytother. Res. 2000, 14, 139– 140

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Mechoulam, R., McCallum, N. K., and Burstein, S. Chem. Rev. 1976, 76, 75– 112

[ACS Full Text ], [CAS]

(b) Elsohly, M. A. and Slade, D. Life Sci. 2005, 78, 539– 548

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Ghosh, R., Todd, A. R., and Wilkinson, S. J. Chem. Soc. 1940, 1393– 1396

[CrossRef], [

By MMJDOCTORONLINE Staff

Dịch giả: Tiềm Long

Nguồn: mmjdoctoronline

 

Bài viết được xem nhiều nhất