Kiểm soát tình trạng buồn nôn bằng cần sa

Hợp chất cannabinoid CBD không gây hiệu ứng say, tương tác với các thụ thể giải phóng serotonin, và việc sử dụng với liều tương đối nhỏ được chứng minh là có hiệu quả giúp giảm tình trạng buồn nôn và nôn mửa.

Laura là một bác sĩ, người đã dành hầu hết thời gian khám chữa bệnh của mình trong việc điều trị các chứng rối loạn do lạm dụng chất gây nghiện, và chưa từng trải qua việc điều trị bằng cần sa. Sự ác cảm với việc sử dụng cần sa khi cô ấy đang trong quá trình hóa trị ung thư vú không khiến tôi cảm thấy ngạc nhiên. Nôn mửa và lo lắng là điều không thể tránh khỏi, đang dần được loại bỏ. Tôi đã cùng Laura tham gia đào tạo về y học gia đình và tôi đánh giá cao hiệu quả điều trị của cần sa đối với những bệnh nhân mắc bệnh ung thư của mình, nhưng thật khó để Laura có thể chấp nhận được lời khuyên từ tôi.

Cuối cùng, tôi đã giới thiệu cho cô ấy một máy hóa hơi đã được hiệu chuẩn – một phương pháp giúp làm giảm đau nhanh chóng, nhưng khác với cách thức “hút cần sa sau một góc vườn” mà cô ấy đã tưởng tượng ra. Cô ấy bắt đầu với một giống cần sa giàu CBD với tỷ lệ 2 CBD : 1 THC, hy vọng rằng hiệu ứng say sẽ đủ nhẹ để cô ấy có thể chịu đựng được.

Tôi đã nhận được cuộc gọi từ Laura ba ngày sau lần hóa trị gần nhất của cô ấy, và tôi nhanh chóng hỏi rằng liệu việc sử dụng cần sa có hiệu quả với cô ấy không. Lúc đầu tôi cảm thấy hơi lo lắng vì cô ấy đã bật khóc, nhưng khi hiểu được những lời của cô ấy, tôi cảm thấy rất vui mừng. Cô ấy nói rằng: “nó có hiệu quả nhanh hơn, tốt hơn và hoàn thiện hơn bất kỳ đơn thuốc nào mà bác sĩ ung thư đã đưa cho tôi”.

Nếu bạn cảm thấy buồn nôn khi đọc về những đoạn khiến bạn cảm thấy buồn nôn, bạn có thể chuyển đến cuối bài viết này và bỏ qua những chi tiết có thể gây buồn nôn. Buồn nôn là như vậy đó – rất dễ cảm thấy nếu bạn có khuynh hướng như vậy.

Buồn nôn và nôn mửa là hai vấn đề riêng biệt, khác nhau – rõ ràng có liên quan đến nhau, nhưng hoàn toàn khác nhau về nguyên nhân và phương thức điều trị. Những người bị nôn mửa đều biết rằng buồn nôn còn khó chịu hơn so với nôn mửa vì đây là một cảm giác liên tục và khó có thể kiểm soát.

Tình trạng buồn nôn là gì?

Buồn nôn và nôn mửa là những cơ chế bảo vệ trong cơ thể con người, và xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn và có thể điều trị được, mặc dù hơi khó khăn. Tuy nhiên, nếu buồn nôn không phải là tình trạng ngắn hạn? Điều gì sẽ xảy ra nếu nó là một tác dụng phụ không thể tránh khỏi, hoặc mãn tính, và không có dấu hiệu thuyên giảm?

Nếu không tìm được nguyên nhân gây buồn nôn, tốt nhất bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ để họ giúp tìm ra những vấn đề ẩn sâu bên trong. Điều này đặc biệt đúng nếu cảm giác buồn nôn không hết trong vòng từ 1-2 ngày vì đó có thể là dấu hiệu của các vấn đề nghiêm trọng hơn.

Những nguyên nhân có thể gây buồn nôn:

Đau nửa đầu
Chấn thương đầu
Co giật
Những bệnh có liên quan đến tai, bao gồm cả nhiễm trùng
Say tàu xe
Rối loạn hệ tiêu hóa
Viêm ruột thừa
Viêm gan
Viêm tụy
Nhiễm trùng do vi khuẩn hay vi rút
Khi thực hiện các liệu pháp điều trị – hóa trị hoặc những liệu pháp khác
Nhiễm độc – asen, thuốc trừ sâu, ricin9
Thai nghén
Đau tim
Cơn đau
Rối loạn tâm thần hay cảm xúc

Buồn nôn hoạt động như thế nào?

Chuyện gì sẽ diễn ra trong cơ thể khi chúng ta cảm thấy buồn nôn? Não bộ, hệ tiêu hóa và hệ thần kinh đều có liên quan một phần trong tình trạng này. Chúng ta biết nhiều về cơ chế sinh lý của tình trạng nôn mửa hơn là buồn nôn, vì thế chúng ta có những liệu pháp tốt hơn để làm giảm tình trạng này.

Chìa khóa để kiểm soát các triệu chứng dường như chính là các thụ thể trong não bộ và hệ tiêu hóa, giúp sản xuất và liên kết với serotonin – một chất dẫn truyền thần kinh. Zofran, một loại thuốc chống nôn nổi tiếng, hoạt động bằng cách ngăn chặn cảm giác buồn nôn khi giải phóng serotonin.

Kiểm soát cảm giác buồn nôn với cannabinoid

Hợp chất cannabinoid CBD không gây hiệu ứng say, tương tác với các thụ thể giải phóng serotonin, và khi được dùng với liều tương đối nhỏ đã được chứng minh là có hiệu quả giúp giảm tình trạng buồn nôn và nôn mửa. CBD cũng có hiệu quả trong việc giảm bớt lo lắng, từ đó có thể giúp bệnh nhân kiểm soát cơn buồn nôn mãn tính.

THC cũng hoạt động tương đối hiệu quả đối với một số bệnh nhân như là một loại cannabinoid chống buồn nôn. Khi THC liên kết với các thụ thể CB1 trong một số vùng cụ thể trong não bộ, nó có tác dụng làm giảm tình trạng nôn mửa. Một số tác dụng phụ ảnh hưởng đến tinh thần của THC nếu không quá mạnh mẽ, trong trường hợp này, cũng mang đến những hiệu quả khả quan. Việc tạo ra một trạng thái tinh thần tích cực là rất hữu ích cho bất kỳ ai đang phải trải qua quá trình hóa trị, hoặc cho bất kỳ ai mắc phải chứng buồn nôn mãn tính, khó điều trị.

CBDA một acid dạng thô của CBD, thậm chí nó còn hoạt động mạnh mẽ hơn tại các thụ thể giải phóng serotonin, và các nghiên cứu lâm sàng (trên động vật) chỉ ra rằng CBDA là một chất chống buồn nôn có tác dụng mạnh, mạnh hơn cả CBD và THC. CBDA là một dạng CBD có trong nhiều giống cần sa giàu CBD, trước khi chúng được sấy khô hay hóa hơi. Trong quá trình đốt nóng, CBDA biến thành CBD, giống như THCA thông qua quá trình decarboxylation trở thành THC. Hiện tại, nguồn CBDA tốt nhất đến từ các giống cần sa tươi, chứa nhiều hàm lượng CBD, tuy nhiên trong tương lai các trạm y tế có thể cung cấp những sản phẩm từ CBDA cho những bệnh nhân có nhu cầu.

Cảm giác buồn nôn khi điều trị ung thư

Trạng thái tinh thần trong quá trình hóa trị có thể gồm có “hiệu ứng nocebo” – một phản ứng tiêu cực trong việc điều trị – có thể dẫn đến các cơn buồn nôn có thể dự đoán được. Chỉ cần nghĩ về những tác dụng phụ không thể tránh khỏi cũng khiến bạn cảm thấy nặng nề. Điều này đặc biệt đúng khi thực hiện hóa trị lần đầu tiên không đạt được hiệu quả như mong muốn. Thuốc chống nôn kê toa không thật sự mang lại hiệu quả đối với những cơn buồn nôn đã được dự đoán trước, nhưng cần sa thì cho thấy những tác dụng tiềm năng. Giáo sư Linda Parker, một nhà khoa học về khoa học thần kinh hành vi tại đại học Guelph tại Ontario, Canada đã phát hiện ra rằng một số cannabinoid gồm có THC, CBD và CBDA có thể giúp làm giảm bớt những cơn buồn nôn trên mô hình thử nghiệm trên động vật. Các thử nghiệm lâm sàng trên người là cực kỳ cần thiết.

Bắt đầu từ đâu?

Đối với những bệnh nhân có cảm giác buồn nôn do hóa trị, xạ trị hay những nguyên nhân khác có thể xác định được, thì cần sa có thể mang đến những hiệu quả tích cực. THC, CBD và CBDA đều cho thấy được những tác dụng tiềm năng trong nghiên cứu phòng thí nghiệm và được chứng minh là có hiệu quả đối với những bệnh nhân điều trị bằng cần sa tại nhà. Chiết xuất cần sa toàn phần có hiệu quả hơn bất kỳ loại cannabinoid đơn lẻ nào, tuy nhiên nếu có ý định sử dụng phương pháp này thì sẽ bắt đầu bằng loại cannabinoid nào?

Điều đó phụ thuộc phần nào vào trải nghiệm của bệnh nhân đối với phương thuốc này. Nếu bạn chưa bao giờ thử cần sa trước đây, tốt nhất bạn nên bắt đầu với một phương thuốc giàu CBD nhưng vẫn có có chứa một ít hàm lượng THC trong đó, như cách Laura đã làm. Khi cơ thể bạn đã quen với thuốc, bạn có thể tăng liều lượng THC nếu cần thiết. Và nếu bạn có thể dùng được loại CBDA không gây hiệu ứng say, thì đó cũng là phương thuốc tốt.

Việc sử dụng cần sa để điều trị chứng buồn nôn và tình trạng nôn mửa do hóa trị và xạ trị, được nhiều bác sĩ chấp nhận – nhưng mặt khác họ cũng không khuyên dùng cần sa. Nó mang đến sự hiệu quả, khả năng dung nạp tốt, và mặc dù chúng ta vẫn chưa thể hiểu rõ hoàn toàn tất cả các cơ chế hoạt động của chúng. Bệnh nhân nên được biết về nguồn gốc của liệu pháp cần sa mà họ sẽ sử dụng (nơi trồng và điều chế), và chỉ sử dụng loại cần sa không bị nhiễm tạp chất. Nếu sử dụng đúng loại cũng như liều lượng thích hợp, thì có thể làm giảm tình trạng buồn nôn bằng đơn liều giống như Laura vậy.

Stacey Kerr là một nhà giáo, bác sĩ và là một tác giả đang sinh sống và làm việc tại Bắc California. Bác sĩ Kerr đã dành nhiều năm làm việc trong phòng khám tư nhân cho đến khi cô ấy quyết định viết sách và tham gia giảng dạy toàn thời gian. Sau vài năm làm việc cùng với Society of Cannabis Clinicians và đồng phát triển khóa học trực tuyến toàn diện đầu tiên về các loại thuốc được điều chế từ cannabinoid, cô ấy hiện đang đảm nhiệm vai trò Giám đốc Y khoa của Hawaiian Ethos. Bài báo này ban đầu do Hawaiian Ethos xuất bản.

Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Project CBD – Managing Nausea with Cannabis

Cần sa và chứng đau cơ xơ hóa

Nghiên cứu mới: Tác dụng của cần sa trong điều trị chứng đau cơ xơ hóa

Điều trị tận gốc nguyên nhân gây ra cơn đau dai dẳng

Đau cơ xơ hóa là một tình trạng khó chữa được đặc trưng bởi các cơn đau và suy nhược mãn tính. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Clinical and Experimental Rheumatology đã chứng minh rằng cần sa có thể mang đến hiệu quả trong việc cải thiện những vấn đề này, ít nhất là có hiệu quả đối với một số bệnh nhân.

Nhìn chung, nghiên cứu về cần sa còn gặp nhiều khó khăn về phương pháp luận do các quy định lỗi thời cho rằng cần sa nguy hiểm hơn cả fentanyl hay oxycontin. Tuy nhiên, những nhà khoa học người Ý đã đưa ra một nghiên cứu khác biệt có thể áp dụng cho những người đang thử sử dụng cần sa để điều trị chứng đau cơ xơ hóa. 

Đối tượng nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu chỉ tuyển chọn hơn một trăm bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Luigi Sacco tại Milan, Ý. Sáu mươi sáu người trong số đó được phỏng vấn trong sáu tháng điều trị. Độ tuổi tham gia trung bình là 52, và hơn 90% bệnh nhân là phụ nữ (phụ nữ chiếm phần lớn người bị đau cơ xơ hóa).

Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị cho những bệnh nhân bị các cơn đau dai dẳng, khó chữa – nghĩa là người sử dụng thuốc ổn định nhưng không thấy thuyên giảm. Có dưới một nửa số bệnh nhân đang sử dụng 2 loại thuốc khác, trong khi một phần ba số bệnh nhân khác có dùng ít nhất 3 loại thuốc. Những loại thuốc này là thuốc an thần dạng nặng, bao gồm thuốc giảm đau nhóm opioid, thuốc chống co giật, thuốc phong bế thần kinh và thuốc chống trầm cảm.

Với độ mạnh của các loại thuốc mà những bệnh nhân này đang sử dụng, thật đáng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng gần một nửa số bệnh nhân (47%) đã đạt được hiệu quả (khi sử dụng cần sa) đủ để làm giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau của họ.

Từ 1/3 cho đến 1/2 số bệnh nhân đã cảm thấy được những cải thiện đáng chú ý trong giấc ngủ, các triệu chứng lo âu, trầm cảm và các cơn đau. Đa số bệnh nhân bị thừa cân hay béo phì, và cần sa có vẻ hiệu quả hơn đối với những bệnh nhân có cân nặng cao hơn. Một số bệnh nhân tham gia đã bị loại trừ, bao gồm cả những người đã sử dụng cần sa và những người bị bệnh thấp khớp hay mắc các cơn đau khác.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: “Có thể cân nhắc sử dụng [Cần sa y tế] phụ trợ, đặc biệt là ở nhóm dân số [đau cơ xơ hóa] bị rối loạn giấc ngủ và xuất hiện các triệu chứng trầm cảm nhẹ”.

Chuẩn độ cồn thuốc

Việc cân đối liều lượng cần sa rất phức tạp, vì thế các nhà nghiên cứu người Ý đã sử dụng một chiến lược thường được áp dụng cho bệnh nhân. Họ đã sử dụng hai loại hoa cần sa phân loại dược phẩm, một loại giàu hàm lượng THC và một loại cân bằng. Loại cân bằng có chứa nhiều hàm lượng CBD hơn.

Cả hai đều được chế tạo thành cồn thuốc có ống nhỏ giọt để định lượng. Bệnh nhân tham gia được khuyên dùng 2 liều mỗi ngày, sử dụng loại cân bằng vào buổi sáng và loại giàu THC vào buổi tối. THC có thể giúp hỗ trợ giấc ngủ và dường như là một loại thuốc giảm đau hiệu quả hơn so với CBD, vì thế việc từ chối sử dụng chúng một cách hoàn toàn là một quyết định không khôn ngoan. Tuy nhiên, tác dụng gây say của THC là một hiệu quả tiêu cực đối với người đang đi làm và người có cuộc sống bình thường. Nghiên cứu này đã cho những bệnh nhân mắc chứng đau cơ xơ hóa một cơ hội để sử dụng những công thức khác nhau, phù hợp với độ nhạy và nhịp sinh học cá nhân của riêng họ.

Không có liều lượng cụ thể nào – nghiên cứu y khoa cho đến nay vẫn chưa tìm ra được một liều lượng thống nhất, và thực thế là không tồn tại liều lượng lý tưởng, mà cần phải cân nhắc dựa trên nhiều tình trạng y tế khác nhau.

Thay vào đó, những nhà nghiên cứu khuyến nghị bệnh nhân thử 10-30 giọt vào mỗi buổi sáng và tối. Chuẩn độ một cách từ từ dựa trên sự thoải mái của bệnh nhân, họ có thể sử dụng lên đến 120 giọt mỗi ngày. Điều này có nghĩa là bắt đầu với liều thấp nhất 4mg THC và 2mg CBD – chia thành hai liều. Liều cao hơn có thể lên đến gần 27mg THC và 8mg CBD, và hầu hết sử dụng THC vào ban đêm. 

Giải quyết về đề nền tảng

Hơn 1/3 số bệnh nhân cảm nhận được những cải thiện về mặt lâm sàng trong giấc ngủ và các triệu chứng đau cơ xơ hóa. Một nửa số bệnh nhân nói rằng họ cảm thấy sự thuyên giảm vừa phải đối với tình trạng lo âu và trầm cảm sau khi cần sa được thêm vào chế độ điều trị của họ.

Đây là một chủ đề khá phổ biến – bằng chứng còn mâu thuẫn về việc liệu cần sa có thể điều trị chứng trầm cảm hay mất ngủ. Tuy nhiên, khi những vấn đề này chỉ là thứ phát đối với tình trạng đau mãn tính hay đau cơ xơ hóa, thì cannabinoid được chứng minh là khá hiệu quả. Dường như họ đang điều trị những vấn đề nền tảng, thay vì là các triệu chứng.

Bác sĩ Ethan Russo đưa ra giả thuyết rằng chứng đau cơ xơ hóa, cùng với chứng đau nửa đầu, có thể là biểu hiện của hội chứng thiếu hụt cannabinoid nội sinh. Lý thuyết này cho rằng một số biểu hiện bệnh nhất định xuất hiện khi hệ thống endocannabinoid quá yếu để có thể điều hòa tốt nhiều hệ thống sinh lý dưới sự kiểm soát của chính nó. Nếu sự thiếu hụt cannabinoid nội sinh gây ra một số loại bệnh nhất định, thì việc dùng các hợp chất cannabinoid thực vật như CBD và THC sẽ giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh, thay vì chỉ làm giảm nhẹ một số triệu chứng.

Trên thực tế, gần một nửa bệnh nhân đã có thể cắt giảm lượng thuốc mà họ sử dụng – với 21% đã hoàn toàn ngưng sử dụng các loại thuốc khác. “Điều này nói lên sự hài lòng mang tính chủ quan của họ về hiệu quả và tác dụng phụ của MCT [Điều trị bằng cần sa y tế]”, nghiên cứu cho biết.

Đối tượng sử dụng?

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 60 người là phụ nữ và chỉ có 6 người là nam giới. Vì thế, không thể xác định được liệu giới tính có ảnh hưởng đến kết quả điều trị hay không. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân có số cân nặng cao hơn thì dường như nhận được hiệu quả nhiều hơn. Điều này có thể liên quan đến tỷ lệ béo phì thấp hơn ở những người sử dụng cần sa, điều thường được quan sát thấy khi nghiên cứu về cách thức cần sa ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Cũng có những cách giải thích khác rằng CBD và THC là các phân tử dầu di chuyển tự do trong các mô mỡ. Vì thế những nhà nghiên cứu đã suy đoán rằng những người có nhiều chất béo trong cơ thể có thể hấp thụ cannabinoid tốt hơn, dẫn đến kết quả điều trị khả quan hơn.

Lợi ích của cần sa đối với chứng lo âu và trầm cảm cũng đáng được chú ý – 80% người bị đau cơ xơ hóa có xuất hiện các triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Một liệu pháp điều trị tiềm năng

Trong số 102 bệnh nhân tham gia ban đầu, khoảng một phần ba đã rời khỏi nghiên cứu trong vòng sáu tháng. Đó là một tỷ lệ duy trì hợp lý cho một nghiên cứu lâm sàng như thế này. Nhưng điều quan trọng là phải xem xét ai đã rời đi và tại sao, khi điều này có thể làm sai lệch kết quả. Mười một bệnh nhân tham gia đã ngừng điều trị một cách dứt khoát – vì cần sa không có tác dụng, nó gây ra các tác dụng phụ vừa phải hoặc quá đắt. Mười bệnh nhân tham gia vẫn sử dụng cần sa nhưng rời khỏi cuộc nghiên cứu khi họ chuyển sang bệnh viện khác. Mười lăm người còn lại đã từ bỏ cuộc nghiên cứu và không được kể đến.

Có khoảng từ 1-3 người tham gia gặp phải các tác dụng phụ nhẹ hoặc trung bình (như chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn và khô miệng). Một số ít bệnh nhân tham gia báo cáo rằng những triệu chứng trở nên tệ hơn sau khi bắt đầu sử dụng cần sa, mặc dù nó có thể khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi.

Cần sa có phải là một liệu pháp điều trị tiềm năng?

Những nhà nghiên cứu dường như nghĩ như thế, đặc biệt là khi phải đối mặt với những phương pháp truyền thống: “MCT [Điều trị bằng cần sa y tế] đã được chứng minh là một phương pháp hỗ trợ an toàn hơn nhiều so với khi điều trị bằng thuốc giảm đau nhóm opioid, liên quan đến nguy cơ rủi ro cao và không hiệu quả trong việc điều trị FM [đau cơ xơ hóa]; hơn nữa, MCT không có bất kỳ đặc tính gây nghiện đáng kể nào khi tăng liều hay hội chứng sau cai nghiện. Mối bận tâm quan trọng hơn là khả năng dung nạp, vì mặc dù các triệu chứng sẽ giảm sau ba tháng điều trị, nhưng thời gian điều trị lâu hơn có thể làm giảm hiệu quả, mặc dù điều này có thể tránh được bằng cách chuẩn độ liều lượng một cách cực kỳ chậm”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Project CBD – New Study: Cannabis is effective for Fibromyalgia

Hội chứng ruột kích thích (IBS) và cần sa

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là chẩn đoán phổ biến nhất được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa, chỉ riêng Hoa Kỳ, đã có tới 35 triệu người mắc phải hội chứng này. IBS được đặc trưng bởi các triệu chứng đau bụng, chướng bụng, đầy hơi và thay đổi thói quen đi tiêu mà không tìm thấy tổn thương thực thể nào (táo bón, tiêu chảy hoặc hỗn hợp). Nguyên nhân cụ thể gây ra IBS vẫn chưa được xác định, mặc dù có thể do sự thiếu hụt các hợp chất cannabinoid nội sinh. Thông thường, sẽ không có bất thường nào được tìm thấy trong kết quả xét nghiệm máu hay nội soi, khiến cho hội chứng này chỉ được chẩn đoán dựa trên tiền sử và những triệu chứng của bệnh nhân, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác. Người bị IBS thường phải đối mặt với các tình trạng khác như đau cơ xơ hóa, đau nửa đầu, viêm khớp thái dương hàm, thường xuyên mệt mỏi, trào ngược dạ dày thực quản hay đau vùng chậu mãn tính. Thường xuyên bị căng thẳng có liên quan đến cả sự phát triển và/hoặc các cơn IBS, cũng nên được xem là một vấn đề quan trọng trong việc điều trị.

Có ba nghiên cứu trên người đã được công bố về việc sử dụng cần sa y tế trong việc điều trị IBS, tất cả đều có sử dụng THC tổng hợp làm phương thuốc nghiên cứu. Không có gì đáng ngạc nhiên, một nghiên cứu trong số đó báo cáo rằng tất cả người tham gia đều bị tác dụng phụ và không có kết quả khả quan; Tuy nhiên, liều lượng THC cho nghiên cứu này lên đến 10 mg, rõ ràng là quá liều đối với những người chưa từng sử dụng cần sa. Nghiên cứu thứ 2 sử dụng liều lượng thấp hơn – 2,5 mg hoặc 5 mg THC tổng hợp so với nhóm sử dụng giả dược, và cho thấy rằng những người tham gia bị tiêu chảy do IBS hay đi tiêu hỗn hợp có giảm nhu động ruột, nghĩa là THC đã làm chậm tốc độ thức ăn di chuyển qua ruột. Và nghiên cứu thứ ba có liên quan đến việc sử dụng dronabinol liều thấp (THC dược phẩm) trong hai ngày và không có hiệu quả đối với những người bị tiêu chảy do IBS. Tuy nhiên, những phát hiện từ các nghiên cứu sử dụng các hợp chất cannabinoid tổng hợp đơn lẻ rất khó để đạt được hiệu quả như những bệnh nhân có sử dụng cần sa với chiết xuất toàn phần. 

Về mặt lâm sàng, nhiều bệnh nhân có sử dụng cần sa y tế để điều trị IBS cho thấy những kết quả khả quan, hầu hết nói rằng “nó giúp làm dịu đường ruột”. Một số bệnh nhân nói rằng họ cảm nhận được hiệu quả một cách đáng kể khi sử dụng THC liều thấp vào buổi tối hay khi cần thiết để làm giảm hoạt động kích thích của đường ruột. Một số khác nói rằng họ sử dụng các sản phẩm từ CBD hàng ngày để kiểm soát các triệu chứng của IBS. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn cho biết rằng khi sử dụng THCA hay CBDA, hoặc kết hợp cả 2, với liều lượng thấp cũng có thể giúp cải thiện những triệu chứng của IBS. Chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục thể thao thường xuyên và kiểm soát căng thẳng giúp cho hệ thống endocannabinoid có thể hoạt động một cách hiệu quả, và trong trường hợp mắc hội chứng IBS, các bệnh nhân cho biết sự kết hợp giữa những loại cannabinoid là khá hiệu quả.

Điều quan trọng là những bệnh nhân bị rối loạn đường ruột phải hiểu rằng tình trạng viêm kéo dài sẽ mất nhiều thời gian hơn để có thể đáp ứng được với phương pháp điều trị bằng cannabinoid. Có thể mất từ 8-12 tuần để nhận thấy được sự hiệu quả, mặc dù có nhiều bệnh nhân nói rằng các triệu chứng đã thuyên giảm sau một vài tuần đầu tiên. Những thực phẩm có chứa các hợp chất cannabinoid có thể gây ra sự khó chịu cho dạ dày, vì thế phải luôn hiểu rõ về sản phẩm mà bạn định sử dụng để tránh tình trạng làm kích thích các triệu chứng. Những loại tecpen được cho là có hiệu quả trong việc hỗ trợ đường ruột bao gồm terpinolene, beta-caryophyllene, limonene và pinene.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

 

Israel đã trở thành trung tâm nghiên cứu về cần sa như thế nào?

Nhiều người chắc hẳn đã nghe nói về giáo sư Raphael Mechoulam, nhà khoa học người Israel và “cha đỡ đầu của cần sa”, người đã cô lập THC vào những năm 1960. Tuy nhiên, mối liên hệ của Israel với cần sa có nhiều điều hơn là một người đàn ông hay bất kỳ phát hiện khoa học nào.

Thực tế thú vị: Cần sa đã bị coi là bất hợp pháp ở Israel trước khi đất nước này thậm chí trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1948. Nó được đưa vào “Sắc lệnh về các loại ma túy nguy hiểm” năm 1936, do Cao ủy của nước Palestine viết (không có ý định chơi chữ) khi đất nước vẫn còn dưới sự cai trị của người Anh. Vào năm 1961, Israel tham gia với tư cách là một bên ký kết Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 của Liên hợp quốc, một văn kiện đặt nền móng cho việc cấm cần sa quốc tế như chúng ta đã biết. Vài năm sau, vào năm 1973, quốc hội Israel đã sửa đổi đạo luật năm 1936, nhưng đáng chú ý là vẫn làm cho nghiên cứu cần sa hợp pháp. Ngược lại, ở Mỹ, nghiên cứu về cần sa vẫn đang bị hạn chế cực kỳ bởi các lệnh cấm ma túy của liên bang.

Nghiên cứu cần sa đột phá

Giáo sư Raphael Mechoulam (Đại học Hebrew)

Vào đầu những năm 1960, ông Mechoulam, một nhà khoa học trẻ từ Viện khoa học Weizmann ở Israel đã bắt đầu nghiên cứu về cần sa. Theo ông Mechoulam, nghiên cứu về cần sa lúc bấy giờ hầu như bị bỏ quên vì hai lý do chính. Đầu tiên, cần sa là một chất bất hợp pháp, do đó các nhà khoa học và phòng thí nghiệm nghiên cứu không dễ tiếp cận. Ông nói với tạp chí Addiction: “Ngay cả khi có được sự hợp pháp cho việc nghiên cứu, nghiên cứu với cần sa vẫn là một cơn ác mộng trong phòng thí nghiệm.”

“Tôi đến gặp giám đốc hành chính của Viện khoa học Weizmann và chỉ hỏi anh ta rằng liệu anh ta có biết ai đó ở trụ sở cảnh sát hay không… anh ta đã gọi cho người đứng đầu ngành điều tra tại trụ sở cảnh sát – người mà anh ta đã chiến đấu cùng trong quân đội. Tôi nghe viên cảnh sát ấy hỏi: “Anh ấy [có nghĩa là tôi] có đáng tin cậy không?” Khi nhận được câu trả lời xác đáng, anh ta yêu cầu tôi đến thành phô Tel Aviv và nhờ đó tôi đã thu được 5 kg hashish Lebanon nhập lậu tuyệt hảo.” Giáo sư Mechoulam nói.

Lý do thứ hai là các dạng hợp chất hóa học hoạt động trong cây cần sa tinh khiết, dạng cô lập vẫn chưa có sẵn để nghiên cứu. Các loại thuốc bất hợp pháp chính có nguồn gốc thực vật khác, chẳng hạn như opium và coca, đã bị phân lập vào thế kỷ 19, tức là morphine và cocaine. Sự sẵn có của các hợp chất tinh khiết này giúp cho việc nghiên cứu sinh hóa, dược lý và lâm sàng trở nên khả thi. Đó là một công việc vất vả đối với giáo sư Mechoulam.

Thế hệ nhà nghiên cứu tiếp theo

Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của ông ở Jerusalem, Lumir Labs. (Ảnh Matan Weil / The Cannigma)

Ông đã cùng với một số đồng nghiệp thành lập một nhóm nghiên cứu cần sa. Người đầu tiên tham gia là Yuval Shvo, họ cùng nhau phân lập lại và thiết lập cấu trúc của cannabidiol, còn được gọi là CBD. CBD lần đầu tiên được nhà hóa học Roger Adams phân lập vào những năm 1940 nhưng cấu trúc của nó chỉ được biết đến một phần, đây là bước đột phá đầu tiên của nhóm Mechoulam. Ngay sau đó, hai người khác – Yehiel Gaoni, người vừa hoàn thành bằng tiến sĩ hóa học hữu cơ ở Sorbonne. Và Haviv Edery, một người nhập cư từ Argentina vài năm trước đó, cũng đã tham gia nhóm. Mục tiêu của họ là giải mã điều bí ẩn về cần sa đầu tiên — bằng cách nhận dạng các thành phần hoạt động của cần sa. Đầu tiên, họ xác định cấu trúc của THC, tiếp tục với việc phát hiện ra một số cannabinoid “nhỏ” khác.

Vào cuối những năm 1980, phần lớn thế hệ tiếp theo của các nhà nghiên cứu cần sa đã thực hiện một số công việc quan trọng nhất của họ ở Israel, cùng với ông Mechoulam. Hai nhân vật chủ chốt là Bill Devane, một thành viên của nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ra thụ thể đầu tiên của cần sa, và Lumír Hanuš, một nhà nghiên cứu người Séc đã tham gia nghiên cứu cannabinoid ở nơi quê nhà. Cùng với Mechoulam, cả hai đã phát hiện ra Anandamide vào năm 1992, cannabinoid nội sinh đầu tiên (hay còn gọi là endocannabinoid). Công việc của họ, cùng nhau và tách biệt nhau, đã dẫn đến việc phát hiện ra hệ thống endocannabinoid, được coi là một bước đột phá khác về khoa học và y học. Cả Devane và Hanuš đều đã tham gia rất nhiều vào nghiên cứu cần sa kể từ đó.

Nghiên cứu cần sa của Israel cũng đã ảnh hưởng đến công việc quan trọng diễn ra ở nước ngoài. Ví dụ, siêu sao nghiên cứu cần sa, Tiến sĩ Ethan Russo, người chịu trách nhiệm về sự phổ biến của các khái niệm như Hiệu ứng cộng hưởng và Sự thiếu hụt endocannabinoid lâm sàng (CECD), bắt đầu nghiên cứu cần sa của mình vào cuối những năm 1990 và tiến sĩ Russo xem ông Mechoulam là một trong những người cố vấn của mình.

Điều kiện chín muồi cho các nghiên cứu lâm sàng

Một người đàn ông trong viện dưỡng lão Israel được cho sử dụng cần sa từ máy hóa hơi. (Ảnh Chameleon’s Eye / Shutterstock)

Bộ Y tế Israel bắt đầu cấp giấy phép sử dụng cần sa y tế cho từng bệnh nhân vào cuối những năm 1990. Các chỉ định phổ biến để điều trị bằng cần sa là bệnh HIV / AIDS và ung thư, nhưng trên thực tế chỉ một số ít bệnh nhân xin giấy phép và thậm chí một số ít được cấp.

Hầu hết các bệnh nhân đủ điều kiện đều rất ốm yếu và không có khả năng thông quan và do quá trình cấp phép quan liêu khó có thể xin giấy phép trồng cần sa để chữa bệnh. Nếu bệnh nhân có kiếm được cây hoặc hạt giống cần sa, thì hầu hết mọi người đều thiếu kiến thức và thiết bị để tự trồng cần sa.

Tất cả những điều ấy đã thay đổi khi một số người có giấy phép thành lập một tập thể trồng cần sa, Tikun Olam (tiếng Do Thái có nghĩa là “sửa chữa thế giới”). Nhóm tình nguyện viên này đã nhận được giấy phép trồng 100 cây cần sa cho những bệnh nhân khác, đồng thời cũng giới thiệu việc sử dụng cần sa y tế cho những người cao niên, đi từ nhà hưu dưỡng này sang nhà hưu dưỡng khác, quảng bá việc sử dụng cần sa cho mục đích chữa bệnh. Cuối cùng, số lượng người có giấy phép nhiều đến mức Tikun Olam không thể tiếp tục hoạt động như một tổ chức phi chính phủ và trở thành một công ty tư nhân vào năm 2010. 7 nhà sản xuất cần sa khác bắt đầu hoạt động tại quốc gia này cùng năm đó.

Việc sử dụng cần sa trong y tế ở Israel tiếp tục tăng lên hàng năm, với 2.000 bệnh nhân được điều trị vào năm 2009, 22.000 bệnh nhân vào năm 2015 và khoảng 50.000 bệnh nhân vào năm 2019. Sự tăng trưởng này đã tạo điều kiện cho nhiều hơn và các loại nghiên cứu cần sa khác nhau. Trước hoạt động của Tikun Olam, nghiên cứu ở Israel chủ yếu là tiền lâm sàng nhưng với khả năng tiếp cận với một lượng lớn bệnh nhân cần sa y tế, các nghiên cứu lâm sàng về bệnh nhân thực bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là đối với các bệnh như: động kinh, bệnh Alzheimer, ung thư, bệnh Crohn, và viêm loét đại tràng.

Đồng thời, một thế hệ nhà nghiên cứu cần sa mới đã ra đời. Hai ví dụ điển hình là Dedi Meiri từ Học viện Công nghệ Technion-Israel, và Yossi Tam từ Đại học Hebrew ở Jerusalem. Meiri điều hành Phòng thí nghiệm Sinh học Ung thư và Nghiên cứu Cannabinoid điều tra các đối tượng ví dụ như tiềm năng điều trị của cannabinoid và ông chủ yếu tập trung vào các loại ung thư, bệnh động kinh và bệnh tiểu đường. Yossi Tam là Trưởng Trung tâm Đa ngành Nghiên cứu Cannabinoid tại Đại học Hebrew, bao gồm hàng chục nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu các chủ đề như: viêm, đau, hệ thống miễn dịch, sự trao đổi chất và ung thư.

Mặc dù chương trình cần sa y tế của Israel bắt đầu từ những năm 1990, nó vẫn còn rất nhiều hạn chế. Bệnh nhân thường phàn nàn về việc tiếp cận, khó xin đơn thuốc và chi phí cao mà không được bảo hiểm y tế chi trả.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: How Israel Became a Cannabis Research Hub, Written by Matan Weil

Hiệu quả của cần sa y tế trong việc điều trị tình trạng trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một bệnh rất phổ biến, ảnh hưởng đến 20% dân số ở độ tuổi trưởng thành. Tình trạng này xảy ra khi các chất có trong dạ dày trào ngược lên thực quản, gây ra các triệu chứng như ợ chua, đau ngực, khó nuốt và/hoặc cảm giác có vật cản trong cổ họng. GERD thường được điều trị bằng thuốc; tuy nhiên, có một số báo cáo nói về khả năng gia tăng nguy cơ mất trí và mắc phải ung thư khi sử dụng những loại thuốc này. Những biện pháp can thiệp khả thi khác bao gồm sự thay đổi trong chế độ ăn uống, giữ tư thế đứng thẳng sau khi ăn, giảm cân và ngưng sử dụng thuốc lá.

Các nghiên cứu trên mô hình động vật đã chỉ ra rằng những hợp chất cannabinoid có thể kích thích thụ thể CB1 ức chế tiết axit và làm giảm tổn thương và viêm cho niêm mạc dạ dày. Một nghiên cứu tiền lâm sàng cũng cho thấy rằng khả năng kích hoạt thụ thể CB1 của hợp chất cannabinoid đã giữ cho cơ vòng thực quản dưới (“cánh cổng” giữa thực quản và dạ dày, có tác dụng giữ cho các chất tại dạ dày không trào ngược lên thực quản) đóng kín, do đó làm giảm tình trạng trào ngược. Trong một nghiên cứu trên người, THC được đưa cho người tình nguyện với tình trạng khỏe mạnh đã được chứng minh là có thể là giảm tỷ lệ trào ngược (mặc dù có xảy ra một số vấn đề vì sử dụng liều lượng cao và gây ra một số tác dụng phụ). Tuy nhiên, rõ ràng là chúng ta cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa để có thể hiểu rõ vai trò của cần sa trong việc điều trị GERD.

Về mặt lâm sàng, một số bệnh nhân được điều trị GERD bằng cần sa y tế cho thấy kết quả khả quan, mặc dù một số khác thì không. (Chúng ta vẫn còn chưa rõ lý do chính xác vì sao một số bệnh nhân có thể đáp ứng với cần sa và một số khác thì không). Những báo cáo mang tính chủ quan từ những bệnh nhân có phản ứng tích cực cho biết họ có ít đợt ợ chua hơn và nếu có, thì khi sử dụng cần sa y tế sẽ làm giảm đi sự khó chịu trong cơ thể của họ.

Hầu hết các bệnh nhân có kết quả điều trị khả quan đều có sử dụng THC trong phác đồ điều trị của họ, vì đây dường như là loại cannabinoid hữu ích nhất trong việc điều trị GERD. Một số bệnh nhân cho biết những sản phẩm có tỷ lệ CBD:THC thấp (như 1:1, 2:1 hay 4:1) cũng giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh GERD với tác dụng ít say hơn so với những sản phẩm có THC chiếm ưu thế. Ngoài ra, hai tecpen có trong cần sa, là limonene và terpinolene, cũng được cho là có hiệu quả trong việc điều trị GERD.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

Cần sa: Đường mũi vs Đường miệng

Để giảm thiểu những tác hại xấu của cần sa, bạn cần phải hiểu sự khác biệt giữa hai cách sử dụng cần sa phổ biến nhất.

Sau đây là tóm tắt khác biệt chính giữa việc dùng cần sa qua đường mũi và dùng cần sa qua đường miệng. Bao gồm các mẹo hữu ích để gặp ít rủi ro hơn khi sử dụng cần sa.

Vietnamese translation by Cần Sa Y Tế – Medical Cannabis Vietnam
© All rights belong to Canadian Centre on Substance Use and Addiction

 

 

Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19

Photo: iStock-Darren415©

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng cần sa y tế có thể có tiềm năng trong việc điều trị các triệu chứng của COVID-19.

COVID-19 không có dấu hiệu chậm lại và vắc-xin sẽ được công bố trong vài tháng, thậm chí một năm. Sự nôn nóng để dùng loại thuốc đã có mặt trên thị trường dẫn đến việc một số chính phủ phải mua vào kịch liệt nhằm giảm tác động của một loại vi rút ngấm ngầm.

Cùng với việc rất nhiều chuyên gia y tế đang tìm kiếm một phương pháp chữa trị – hoặc, thất bại đó, chiến lược phòng ngừa tốt nhất ngoài khẩu trang và giãn cách xã hội – là nên lùi lại một bước để xem vai trò của cần sa y tế trong việc giúp giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bởi COVID-19 như thế nào.

Coronavirus hoạt động như thế nào?

Vi rút sử dụng các protein có bề mặt gai nhọn của nó để bám vào các thụ thể được tìm thấy trên các tế bào khỏe mạnh, đặc biệt là các thụ thể được tìm thấy trong phổi. Các protein virus này đi qua các thụ thể ACE2; và một khi chúng đã vào được bên trong, coronavirus sẽ bắt giữ các tế bào khỏe mạnh và nắm quyền chỉ huy. Cuối cùng, nó giết chết một số tế bào khỏe mạnh.

Vi rút tác động đến hệ hô hấp bằng cách di chuyển xuống đường hô hấp của bạn. Bao gồm miệng, mũi, họng và phổi. Tuy nhiên, do đường hô hấp dưới có nhiều thụ thể ACE2 hơn phần còn lại của đường hô hấp, COVID-19 có nhiều khả năng di chuyển sâu hơn các loại vi rút khác như cảm lạnh thông thường. Đây là điều làm cho COVID-19 mạnh hơn so với cảm lạnh trung bình hoặc các loại cúm khác. Khi vi rút xâm nhập vào phổi, nó khiến người ta khó thở – đặc biệt hơn là nó dẫn đến viêm phổi.

Đối với hầu hết mọi người (khoảng 80%), các triệu chứng là ho và sốt. Đối với những người không may bị nặng hơn, tình trạng nhiễm trùng có thể trở nên rất nặng. Khoảng 5 đến 8 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu, một số người sẽ bị khó thở và có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) vài ngày sau đó.

Cần sa có tác dụng gì?

Các cannabinoid như cannabidiol (CBD) có lịch sử sử dụng an toàn và chứa một số đặc tính có thể hữu ích trong việc điều trị các triệu chứng y tế nhất định: CBD có đặc tính chống viêm và có thể hoạt động như một chất chống co mạch, có khả năng giảm đau và giảm lo lắng. Kết hợp với các cannabinoid và tecpen khác, cũng như can thiệp lâm sàng cần thiết, CBD có nhiều tiềm năng để điều trị các triệu chứng của vi rút như COVID-19. Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa cũng đã được chứng minh là làm giảm đông máu ở các mô hình thí nghiệm động vật; người ta biết rằng nhiều tác dụng tiêu cực trên toàn cơ thể của COVID-19 dường như có liên quan đến việc đông máu bị thay đổi, vì thế có thể cần sa có thể hữu ích trong việc kiểm soát những di chứng này.

Cần sa y tế có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị COVID-19 hay không?

Phòng ngừa

Cho đến nay, phạm vi và khoảng cách của dữ liệu nghiên cứu có thể xác minh được mối liên kết giữa việc cannabinoid và việc phòng ngừa COVID-19 là còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các cách tiếp cận mới để phòng ngừa COVID-19 bao gồm một nghiên cứu đã giám định khả năng kết hợp của CBD vào các dung dịch uống; chẳng hạn như nước súc miệng và thuốc súc họng nhằm mục đích “giảm hoặc điều chỉnh mức ACE2 trong các mô có nguy cơ cao”. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ ACE2 thay đổi trong quá trình tiến triển của COVID-19 và do đó khả năng điều chỉnh các mức này trở nên đặc biệt quan trọng vì ACE2 đã được chứng minh là cần thiết cho chức năng phổi trong các mô hình động vật nhiễm virus SARS.

Giảm mức độ nghiêm trọng và tác động

Trong các phân tích về COVID-19, người ta quan tâm nhiều đến Hội chứng phóng thích Cytokine (Cytokine Release Syndrome – CRS), trong đó quá nhiều protein cytokine được giải phóng trong cơ thể: những protein này có thể tấn công phổi và áp đảo hệ thống miễn dịch bằng cách căng phồng phổi quá mức. Các bằng chứng ban đầu đã chỉ ra rằng CBD và THC có thể có ích trong việc điều trị những bệnh nhân có phản ứng viêm trong cơ thể đã có khả năng gây bệnh.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào khả năng của các cannabinoid và các terpen nhằm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch mà không ngăn chặn nó. Những phát hiện ban đầu trong một nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi nhà sản xuất terpene Eybna và công ty nghiên cứu và phát triển cần sa CannaSoul Analytics. Cả hai đều đến từ Israel, họ dường như đã chỉ ra rằng sự kết hợp của các tecpen và các cannabinoid được sử dụng có hiệu quả gấp hai lần so với khi sử dụng thuốc chống viêm dexamethasone để giảm viêm từ COVID-19. Nghiên cứu vẫn chưa được thẩm định bình duyệt.

Một phương pháp mới khác hiện đang được nghiên cứu ở Israel là phát triển một phương pháp điều trị tế bào tiềm năng bằng cách sử dụng các túi ngoại bào exosomes và nạp CBD để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mục đích của công nghệ này là “nhắm mục tiêu vào hệ thống thần kinh trung ương và coronavirus COVID-19”. Các túi ngoại bào exosomes được nạp CBD có khả năng cung cấp tương tác hiệp đồng cao của các đặc tính chống viêm bằng cách nhắm cụ thể vào các cơ quan bị tổn thương chẳng hạn như các tế bào phổi đã bị nhiễm trùng.

Có thể làm gì để tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực này?

Nghiên cứu về tiềm năng y tế của cần sa nổi tiếng vì sự phức tạp của các quy trình ứng dụng và khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp cần sa. Ở Úc, việc chỉ sử dụng CBD mà không có hàm lượng THC trong các hoạt động nghiên cứu yêu cầu cơ sở học thuật đó phải xin giấy phép đặc biệt để cho phép họ thu thập và lưu trữ cannabinoid vì nó vẫn là một loại thuốc thuộc Bảng 9 ở đất nước này mặc dù chúng không có đặc tính tác động đến thần kinh.

Đại dịch COVID-19 có thể sẽ tiếp tục trong nhiều tháng nữa; và đây có thể không phải là loại coronavirus mới nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong đời. Do đó, phận sự nằm ở các chính phủ có trách nhiệm làm cho việc nghiên cứu tiềm năng của các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như cần sa, dễ dàng hơn cho các cơ quan nghiên cứu và phòng thí nghiệm tư nhân.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Health Europa | Medicinal cannabis may play a significant role during COVID-19

Continue reading “Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19”

Cannabidiol (CBD) là gì? Và nó có thể giúp ích như thế nào?

Ngày nay, nhiều người tiêu dùng có ý thức hơn trong việc lựa chọn sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Họ chọn các sản phẩm có nguồn gốc đến từ tự nhiên. Đứng đầu trong danh sách những sản phẩm yêu thích đó là dầu CBD, dầu CBD được lựa chọn vì nhiều lợi ích sức khỏe của nó. Vậy CBD có tác dụng gì? Dầu CBD là một phương thuốc tự nhiên cho những cơn đau mãn tính, bệnh lo âu và trầm cảm. Cannabidiol (CBD) là một cannabinoid có trong cây gai dầu. CBD không tác động đến thần kinh giống như một hợp chất nổi tiếng khác, được gọi là tetrahydrocannabinol (THC),

Ngoài ra, các sản phẩm CBD được biết là có khả năng kiểm soát các triệu chứng của một số bệnh lý y tế.

Tổng quan về CBD

CBD là một trong 113 cannabinoid được tìm thấy trong cây gai dầu. Trái ngược với những quan niệm thông thường về người anh cùng họ, nó không mang đến cảm giác “high” của tetrahydrocannabinol (THC). Ngược lại, nó mang lại hiệu ứng dễ chịu, đó là lý do tại sao nó được sử dụng phổ biến nhất để giảm mức độ căng thẳng.

Khi cơ thể tiêu thụ cannabinoid này, nó sẽ ảnh hưởng đến các thụ thể được gọi là CB1 và CB2. Các thụ thể này được tìm thấy trên khắp cơ thể, nhưng thụ thể CB1 chủ yếu được tìm thấy trong não trong khi thụ thể CB2 chủ yếu được tìm thấy trên tế bào của hệ thống miễn dịch. Mạng lưới phức tạp này được gọi là hệ thống endocannabinoid (ECS).

Sự tương tác giữa CBD và hệ thống ECS trong cơ thể chúng ta làm giảm chứng viêm và cảm giác đau. Đáng chú ý, CBD cũng giúp tăng cường mức độ anandamide trong cơ thể. Phân tử này hoạt động xuyên suốt hệ thống endocannabinoid, hay còn được gọi là “phân tử phúc lạc”.

Nó chịu trách nhiệm cho hiệu ứng “runner high” mà tất cả chúng ta trải qua trong hoặc sau khi tập thể dục cường độ cao.

Dầu CBD tốt cho điều gì?

Nghiên cứu cho thấy rằng dầu CBD có thể tốt cho một số bệnh lý. Dưới đây là danh sách những lợi ích mà hợp chất này có thể mang lại.

– Chống mụn trứng cá: Nhờ khả năng điều chỉnh sản xuất bã nhờn trong cơ thể, CBD có thể là câu trả lời cho tình trạng mụn trứng cá phổ biến ở nhiều người.

– Giảm co giật: Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng nhỏ cho thấy CBD có thể giúp giảm co giật ở những người bị bệnh động kinh.

– Giảm đau: Vì CBD hoạt động trực tiếp đến các thụ thể đau trong hệ thống ECS, hầu hết mọi người sử dụng dầu CBD để giảm đau do viêm khớp hoặc chấn thương.

– Giảm chứng mất ngủ: CBD có thể làm giảm các triệu chứng mất ngủ bằng cách giúp người dùng bình tĩnh và thư giãn. Điều này giúp bạn có giấc ngủ ngon và dài hơn.

Điều quan trọng cần lưu ý là dầu CBD không phải là chất thay thế cho bất kỳ loại thuốc kê đơn nào, nhưng nó có hàng loạt những lợi ích riêng. Nếu bạn có bất kỳ nghi ngờ nào về cách sử dụng dầu CBD, bạn có thể tham khảo ý kiến bác sĩ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hoạt chất này không có khả năng bị lạm dụng hoặc phụ thuộc.

Các sản phẩm CBD được phân loại ở các dạng chiết xuất toàn phần, phổ rộng (broad-spectrum) và phân lập (isolate). Sự khác biệt chính giữa ba loại là sự hiện diện của các cannabinoid khác. Ví dụ, CBD phân lập chỉ chứa cannabidiol tinh khiết.

Mặt khác, CBD chiết xuất toàn phần và CBD phổ rộng chứa các cannabinoid khác được chiết xuất từ nguyên liệu thực vật thô ngoài cannabidiol. Chiết xuất toàn phần còn chứa một lượng nhỏ THC trong khi phổ rộng không có THC.

CBD chiết xuất toàn phần có số lượng cannabinoid nhiều nhất – tất cả hợp lại để mang lại lợi ích y tế mạnh nhất. Lượng THC hợp pháp được phép có trong tất cả các sản phẩm CBD là 0,3%. Lượng THC nhỏ đó sẽ không làm cho sản phẩm có tác dụng ảnh hưởng đến tâm lý.

CBD có hợp pháp không?

Khi Dự luật Nông trại (Farm Bill) được ký thành luật vào tháng 12 năm 2018, chiết xuất CBD từ cây gai dầu và các sản phẩm có lượng THC dưới 0,3% đã được hợp pháp hóa ở cấp liên bang.
Gần đây, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã phê duyệt Epidiolex, loại thuốc có chứa cannabidiol (CBD) với thành phần hoạt tính. Công dụng của nó là điều trị các cơn co giật liên quan đến hai dạng động kinh hiếm gặp là hội chứng Lennox-Gastaut (LGS) hoặc hội chứng Dravet ở bệnh nhi từ 2 tuổi trở lên. Đây là loại thuốc CBD kê toa đầu tiên được FDA chấp thuận.

Tóm lược

Sự gia tăng của CBD và THC chỉ mới bắt đầu với một loại thuốc được FDA chấp thuận. Với nhiều nghiên cứu hơn nữa trong tương lai, hy vọng rằng tinh dầu từ thiên nhiên này có thể giúp chữa khỏi dứt điểm các bệnh lý lâu đời ở người.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Chiang Rai Times | What is Cannabidiol CBD Oil from Cannabis Good For?

Hiệu ứng cộng hưởng trong cần sa có thật hay không?

Cho dù bạn là một người sử dụng lâu năm hay mới sử dụng loại thảo mộc này, bạn có thể đã nghe nói về hiệu ứng cộng hưởng. Hiện tượng này nói về sức mạnh tổng hợp diễn ra khi sử dụng kết hợp THC, CBD, cannabinoid thứ yếu, và tecpen để mang lại lợi ích cho sức khỏe.

Hiện tượng cộng hưởng này thường được gắn liền với “thuốc từ cây tự nhiên” hoặc “sức mạnh tổng hợp của toàn bộ thành phần trong cây”, và nó dựa trên cơ sở rằng các sản phẩm cần sa với nhiều hợp chất đa dạng có thể mang lại những lợi ích sức khỏe mà các hợp chất và cannabinoid cô lập không thể làm được.

Giáo sư Raphael Mechoulam và giáo sư Shimon Ben-Shabat lần đầu tiên nghiên cứu về sức mạnh cộng hưởng của toàn bộ các thành phần trong cây vào năm 1998. Nghiên cứu của họ lập luận rằng hệ thống endocannabinoid của cơ thể phản ứng tốt hơn với chiết xuất từ cần sa tự nhiên bằng cách tăng hoạt động của hai thụ thể endocannabinoid cơ bản. Sức mạnh cộng hưởng tiềm năng này là gợi ý cho câu hỏi tại sao các loại thuốc  tự nhiên thường hiệu quả hơn các loại thuốc chỉ chứa một thành phần hoạt chất được phân lập từ cây đó.

Một loạt các nghiên cứu khoa học được tiến hành trong vòng vài năm trở lại đây đã và đang tiếp tục tìm hiểu và khám phá sâu hơn về chủ để này. Các nhà khoa học đang điều tra, khảo sát những hợp chất điển hình được cho là thúc đẩy hiệu ứng cộng hưởng và thậm chí một nghiên cứu đã đưa ra nghi vấn rằng liệu hiệu ứng cộng hưởng có bị thổi phồng quá mức hay không.

Theo một số kết quả nghiên cứu, các cơ chế thúc đẩy hiệu ứng cộng hưởng này không hề đơn giản như những gì mà giới marketing cần sa vẫn thường nói với chúng ta.

Vậy chúng ta thực sự biết gì về hiệu ứng cộng hưởng?

Đầu tiên, có bằng chứng cho thấy một số cannabinoid làm tăng tác dụng của các cannabinoid khác. Ví dụ: THC có thể nâng cao hiệu quả điều trị của phương pháp trị liệu sử dụng CBD; và các cannabinoid thứ yếu cũng có thể đóng góp lợi ích nhất định.

Trong một nghiên cứu tiến hành trên tế bào ung thư vú được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và động vật thí nghiệm, các nhà khoa học phát hiện ra sự có mặt của các cannabinoid phụ trong cần sa giúp cải thiện kết quả thí nghiệm. Tiến sĩ, bác sĩ Ethan Russo – một nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về tác dụng cộng hưởng trong cần sa và cũng là giám đốc điều hành của tổ chức khoa học CReDO đã đưa ra kết luận rằng:  “Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa có hiệu quả hơn là THC phân lập tinh khiết trong việc tiêu diệt khối u và hạn chế sự phát triển của chúng.” Tác dụng cộng hưởng trong chiết xuất cần sa có thể được giải thích bởi sự xuất hiện với hàm lượng đáng kể của cannabigerol (CBG) và tetrahydrocannabinolic (THCA) trong chiết xuất, bên cạnh THC.

Hơn nữa, nghiên cứu này còn so sánh hiệu quả điều trị bệnh động kinh tình trạng nặng khi sử dụng CBD phân lập so với chiết xuất từ cây cần sa, kết quả thu được là chiết xuất từ cây cần sa cho tác dụng tương đương và với liều lượng ít hơn 20%, tiến sĩ Russo cho hay. Nhưng đối với tiến sĩ – bác sĩ Jordan Tishler, một chuyên gia trị liệu sử dụng cần sa và là cố vấn cho trường đại học Y Havard, một số yếu tố liên quan đến tác dụng cộng hưởng đã được làm sáng tỏ nhưng vẫn còn quá chung chung. Ví dụ, có những bằng chứng hiển nhiên là CBD ảnh hưởng đến khả năng liên kết của THC tại thụ thể của nó, từ đó làm ảnh hướng đến tác dụng của THC.

Ông nói: “Hiệu ứng cộng hưởng cũng giải thích tại sao THC tinh khiết không đặc biệt hiệu quả, và cần sa tự nhiên vẫn tốt hơn.” Tuy nhiên, ông cũng lập luận rằng các tác động của hiệu ứng cộng hưởng đã được ngoại suy quá mức khỏi các bằng chứng khoa học hiện tại. “Quan điểm rằng các hợp chất hóa học khác là quan trọng để CBD có hiệu quả hiện vẫn chưa được ủng hộ.”

Tishler cũng nói rõ rằng vai trò của các cannabinoid thứ yếu như CBG hoặc CBN vẫn chưa được hiểu đầy đủ trong mối tương quan với THC hoặc các cannabinoid khác. “Nói cách khác, nhiều phân tử có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động của THC, nhưng điều này không có nghĩa là chúng có vai trò hỗ trợ các cannabinoid khác,” ông nói.

Trong khi các nhà khoa học đang xem xét những điều này, thì một cách hiểu mới cho hiệu ứng cộng hưởng đã được đề xuất. Hiệu ứng này có thể được sử dụng để hiểu để giải thích hai hiện tượng riêng biệt:

– Tác dụng cộng hưởng nội phân tử, đề cập đến tương tác giữa các cannabinoid và các  tecpen.Tác dụng cộng hưởng liên phân tử, biểu thị tương tác giữa cannabinoid với cannabinoid hoặc giữa các tecpen với nhau.

Trong khi đã có những bằng chứng khẳng định về tác dụng liên phân tử thì vẫn có rất ít nghiên cứu về các tương tác nội phân tử.

Tecpen là gì?

Sự đóng góp chung là tecpen là một nhân tố quan trọng trong hiệu ứng cộng hưởng. Tuy nhiên, nghiên cứu về sức mạnh tổng hợp cannabinoid-terpene vẫn còn tương đối ít ỏi cho đến gần đây. Một nhóm các phát hiện được công bố trong năm qua cho thấy rằng tecpen có thể không góp phần vào hiệu ứng cộng hưởng theo cách mà chúng ta đã tin tưởng.

Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 3 năm 2020, tecpen có trong cần sa có thể không tạo hiệu ứng cộng hưởng chút nào. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy năm trong số các tecpen phổ biến nhất – myrcene, α- và β-pinen, β-caryophyllene, và limonene – tham gia tạo hiệu ứng cộng hưởng bằng cách liên kết với các thụ thể cannabinoid của cơ thể.

Theo nghiên cứu khác được công bố trong năm nay, cũng không có bằng chứng nào cho thấy tecpen tạo điều kiện cho hiệu ứng cộng hưởng liên phân tử- khi cannabinoid và tecpen hoạt động cùng nhau – bằng cách tương tác với các con đường tác động của cannabinoid khác nhau trong cơ thể.

Tuy nhiên, nghiên cứu khác lại cho thấy, những kết quả này là chưa thuyết phục. Trong một nghiên cứu vào tháng 4 năm 2020 trên chuột, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ba loại tecpen cần sa phổ biến — humulene, pinene và geraniol — đã kích hoạt thụ thể CB1. Thụ thể CB1 chịu trách nhiệm tạo ra các phản ứng sinh lý, chẳng hạn như giảm nhận thức về cơn đau. Các tecpen này đã khởi động các phản ứng sinh lý đặc hiệu với CB1 ở chuột, cho thấy tecpen có thể mang lại lợi ích điều trị.

Theo Tishler, không có đủ bằng chứng cho thấy tecpen góp phần tạo nên sức mạnh cộng hưởng trong cần sa toàn phần. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các hợp chất thơm này không hiệu quả. Tishler nói: “Có hai ngoại lệ. “Myrcene, gây buồn ngủ nhưng một cách độc lập, chứ không phải là khi một phần của hiệu ứng cộng hưởng; và β-caryophyllene có thể quan trọng trong việc kiểm soát cơn đau”.

Vậy hiệu ứng cộng hưởng có thực sự tồn tại?

Tishler nói rằng hiệu ứng cộng hưởng là một hiện tượng thực tế bị hiểu nhầm. Ông nói: “Hiện tại, hiểu biết của chúng tôi về các tương tác của hiệu ứng cộng hưởng là khá hạn chế. Không có đủ dữ liệu để cho ra mắt các sản phẩm hoặc đề xuất cụ thể dựa trên các cannabinoid hoặc tecpen khác. Điều đó không có nghĩa là hiệu ứng cộng hưởng không có thật, nhưng chúng tôi chưa thực sự chắc chắn về các cơ chế hoạt động của nó.”

“Ở khía cạnh lâm sàng, các sản phẩm THC và CBD nguyên chất có vẻ kém hiệu quả hơn so với cần sa tự nhiên, điều đó cho thấy thực sự có các chất hoạt chất khác có tác dụng trong đó – chỉ là vẫn chưa rõ chúng là loại nào và cách hoạt động ra sao.” Tishler nói.

Bất chấp những phát hiện mâu thuẫn xuất hiện trong một số tài liệu, Ethan Russo vẫn là người ủng hộ nhiệt tình cho hiệu ứng cộng hưởng. Ông khẳng định: “Mặc dù vẫn có một số những thất bại trong việc chứng minh lợi ích của các chất cộng hưởng, có thể là do các chế phẩm không được tối ưu hóa về mặt điều trị, khái niệm về hiệu ứng cộng hưởng đang dần được khai thác đúng hướng.”

Russo chỉ ra các tiêu chuẩn không nhất quán về chất lượng cần sa là nguyên nhân dẫn đến những kết quả trái ngược.

Russo giải thích: “Việc tiếp cận các loại thuốc làm từ cần sa chất lượng cao và hiệu quả nhất vẫn là một thách thức to lớn đối với người tiêu dùng hoặc người chăm sóc của họ. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin phân tích và an toàn, bao gồm hồ sơ cannabinoid và terpenoid hoàn chỉnh thông qua các kết quả xét nghiệm của các lô hàng có sẵn tại điểm bán. Điều này cũng cần phải đi kèm với việc giáo dục tốt hơn về những tác dụng dược lý của các thành phần cannabinoid và terpenoid khác nhau”.

 

Dịch giả: Lê Quỳnh Anh

Nguồn: Leafy | Is the cannabis entourage effect real?

Cannabinoid và bệnh ung thư trong lâm sàng

Phỏng theo tài liệu “Healing with Cannabis: The Evolution of the Endocannabinoid System and How Cannabinoids Help Relieve PTSD, Pain, MS, Anxiety, and More”(đăng tải trên tạp chí Skyhorse, 2020).

Tiến sĩ Donald l. Abrams là bác sĩ chuyên khoa ung thư học tại bệnh viện đa khoa San Francisco, bác sĩ chuyên khoa ung thư tích hợp tại Trung tâm Y học Tích hợp Osher của Đại học California – San Francisco (UCSF), đồng thời là giáo sư y học lâm sàng tại UCSF. Ông cũng là thành viên của một ủy ban gồm 16 người từ các ngành nghề khác nhau, tạo nên cuốn sách 486 trang: Những tác động tới sức khỏe của Dầu gai và các cannabonoids: Hệ thống bằng chứng hiện tại, được cập nhật năm 2017 vấn đề từ Viện Hàn Lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia.

“Tôi là một chuyên gia nghiên cứu về ung thư ở San Francisco tính đến nay được 36 năm, và tôi dám nói rằng hầu hết các bệnh nhân ung thư tôi từng chăm sóc đều từng sử dụng dầu gai”, Abram nói trong một cuộc phỏng vấn ngày 3/5/2019, “Nhưng không có ngày nào trôi qua mà tôi không thấy một bệnh nhân ung thư chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, mất ngủ, đau đớn, trầm cảm hoặc lo lắng, và nếu tôi có một loại thuốc có thể giảm buồn nôn và nôn mửa, tăng cường sự thèm ăn, giảm đau, cải thiện giấc ngủ và tâm trạng, tôi coi đó là một can thiệp có giá trị. Thay vì viết đơn thuốc cho năm hoặc sáu loại dược phẩm mà tất cả chúng đều có thể tương tác với nhau hoặc với hóa trị liệu họ đang sử dụng, tôi có thể giới thiệu một loại thực vật rất an toàn”.

Những năm 1970, khi Abrams còn là một bác sĩ thực tập và cư trú tại San Francisco, nhiều người đã sử dụng cần sa, kể cả những người trẻ tuổi bị ung thư. Ông bắt đầu trở thành nghiên cứu sinh về ung thư tại UCSF vào năm 1980, thời điểm mà cần sa đang trở nên phổ biến còn trên thị trường thì không có nhiều loại thuốc chống nôn hiệu quả.

“Chúng tôi có prochlorperazine, hoặc Compazine, và Tigan [trimethobenzamine hydrochloride]… nhưng chúng không thực sự hiệu quả,” Abrams nói, “và những người trẻ tuổi mắc những bệnh ung thư của người trẻ, chẳng hạn như bệnh Hodgkin hoặc ung thư tinh hoàn, nói với chúng tôi,“Bác sĩ biết gì không? Cần sa là một liệu pháp chống buồn nôn hiệu quả, tốt hơn so với những thuốc kê đơn của ông”. Abrams cho rằng đó là điều khiến Viện Y tế Quốc gia Viện Ung thư Quốc gia và một số công ty dược phẩm nghiên cứu delta-9 THC tổng hợp như một loại thuốc chống buồn nôn tiềm năng.

“Một số nghiên cứu được thực hiện vào những năm 70 và 80 cho phép cả dronabinol [THC tổng hợp trong viên nang] và nabilone [chất tương tự THC dạng uống] được chấp thuận để điều trị chứng buồn nôn và nôn do hóa trị liệu vào năm 1985. Tôi không chắc mình đã sử dụng bao nhiêu trong số đó cho bệnh nhân trong khoảng thời gian này” ông nói thêm,“ nhưng vào năm 1992, FDA đã mở rộng chỉ định sử dụng dronabinol để điều trị chứng chán ăn liên quan đến giảm cân ở bệnh nhân HIV. ”

Đó là lần đầu tiên anh ấy thực sự bắt đầu với dronabinol, Abrams giải thích, “bởi vì tôi đã trở thành bác sĩ AIDS sau khóa đào tạo để trở thành một chuyên gia về ung thư và khi đó, tôi bắt đầu kê rất nhiều dronabinol. Và bệnh nhân nói, ‘Bạn có thể giữ nó. Tôi thích hút cần sa hơn vì [dronabinol] mất quá nhiều thời gian để phát huy tác dụng và khi đã phát huy tác dụng thì tôi thấy quá say. ‘”Delta-9 THC trong dầu mè [dronabinol được bán trên thị trường là Marinol] là một loại thuốc rất khác với cần sa nguyên cây, Abrams nói. “Đó là những gì tôi học được trong thử nghiệm lâm sàng đầu tiên của mình.”

Dầu gai nguyên cây và THC (tetrahydrocannabinol)

Vào giữa những năm 1990 và cho đến ngày nay, Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy (NIDA) là nơi cung cấp cần sa chính thức duy nhất cho các thử nghiệm lâm sàng. Và NIDA nhận được chỉ thị từ quốc hội rằng chỉ tài trợ cho các nghiên cứu điều tra các chất gây nghiện như các chất các hợp chất gây nghiện chứ không phải là tác nhân điều trị, Abrams nói.

See the source image
Tiến sỹ Donald Abrams

“Vì vậy, họ không bao giờ có thể tài trợ cho một nghiên cứu mà tôi đang cố gắng thực hiện – để chỉ ra rằng cần sa mang lại lợi ích cho bệnh nhân AIDS – nhưng họ có thể tài trợ cho một nghiên cứu để xem liệu bệnh nhân HIV sử dụng chất ức chế protease hít cần sa có an toàn hay không. Vì vậy, nghiên cứu đó cuối cùng đã được tài trợ. “Đây là nghiên cứu về dầu gai đầu tiên do NIH tài trợ. Một phần ba số bệnh nhân dùng dronabinol, 2,5 mg, ba lần một ngày, một phần ba hút một điếu thuốc lá từ NIDA nguyên cây, và một phần ba dùng giả dược dronabinol.

“Mỗi bệnh nhân ở Trung tâm Nghiên cứu Lâm sàng Tổng quát của chúng tôi trong 25 ngày, trong đó 21 ngày họ uống dronabinol hoặc hút cần sa. Và đối với tôi, rất rõ ràng rằng những bệnh nhân nào đang sử dụng dronabinol, do họ nằm trên giường suốt cả ngày, hoàn toàn mệt mỏi. Trong khi đó, các bệnh nhân sử dụng dầu gai đã dậy và nhảy múa, dọn dẹp phòng của họ, và rất nhiều hoạt động nữa. Vì vậy, vâng, ”Abrams nói,“ Tôi nghĩ nó chắc chắn là một loại thuốc khác biệt”.

“Một điều khá ấn tượng trong kinh nghiệm của ông với các bệnh nhân ung thư, Abrams nói thêm, đó là “rất nhiều bệnh nhân ung thư vào giai đoạn cuối của cuộc đời họ được cho sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện bởi các bác sĩ ung thư có thiện chí, những người đang cố gắng xoa dịu nỗi đau và nỗi khổ của họ, cả về thể chất và cảm xúc. Những bệnh nhân nói rằng, “Điều này không cho phép tôi giao tiếp với gia đình bởi vì tôi quá say thuốc. “Vì vậy, họ cai thuốc phiện và chỉ sử dụng cần sa, và họ thích điều đó hơn rất nhiều.”

Abrams cho biết cần sa y tế đã hợp pháp ở California trong hai mươi ba năm và được sử dụng với mục đích giải trí, tiêu khiển trong hai năm, tuy nhiên, những khi cần thiết sử dụng chỉ định y tế, Abrams sẽ viết một lá để bệnh nhân mang đến nơi cấp phát thuốc, và điều đó sẽ cho phép họ lấy cần sa trong một năm.

“Nhưng tôi không nói rằng có thể lạm dụng loại thuốc này quá nhiều, nhiều lần trong ngày”, ông nói. “Tôi không nghĩ cần sa là một loại thuốc cần có giấy hướng dẫn. Hầu hết mọi người có thể tìm ra cách sử dụng nó. Mỗi bệnh nhân là khác nhau, khả năng chịu đựng của họ cũng khác nhau – tôi nghĩ khuyến nghị tốt nhất là “bắt đầu với liều thấp và tăng dần”. Điều đó trở thành một câu thần chú”. Và Abrams cho rằng việc dược hóa cần sa là sai lầm.

“Tôi nghĩ chúng ta nên coi nó như một liệu pháp thực vật đã có từ 5.000 năm trước và có những lợi ích đáng kể,” bác sĩ ung thư nói. “Nhưng để nói rằng đó là một loại thần dược có thể không đúng. Tôi nghĩ nó nên được đối xử như cây cọ lá xẻ và cây cúc dại nhưng cần được quản lý như thuốc lá và rượu, và cho phép những người trưởng thành có trách nhiệm sử dụng nó khi họ thấy phù hợp”.

TÁC DỤNG CỦA DẦU GAI TRONG CÁC TRIỆU CHỨNG UNG THƯ & TÁC DỤNG PHỤ

Bác sĩ Dustin Sulak là một bác sĩ chỉnh xương tích hợp và chuyên gia về cần sa y tế, người có thực hành lâm sàng tập trung vào điều trị các tình trạng bệnh khó chữa ở người lớn và trẻ em từ năm 2009. Ông là người sáng lập Integr8 Health, có văn phòng tại Maine, theo dõi hơn 8.000 bệnh nhân sử dụng thuốc y tế cần sa và các phương thức chữa bệnh tích hợp khác. Sulak đã công bố trong các tài liệu đã được bình duyệt và các bài giảng cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên toàn thế giới về các ứng dụng lâm sàng của cần sa. Những thông tin dưới đây được điều chỉnh cho phù hợp (đã được sự cho phép) từ trang web giáo dục của Sulak, Healer.com, trang web cung cấp một loạt các chương trình về cần sa y tế, cũng như đào tạo về cần sa y tế và chương trình chứng nhận cho các bác sĩ, các chuyên gia y tế khác và người tiêu dùng.

Khi làm việc với bệnh nhân ung thư, các nỗ lực điều trị bằng cần sa thường đi theo hai con đường riêng biệt – sử dụng cần sa để giảm các triệu chứng và cải thiện khả năng dung nạp điều trị, hoặc sử dụng cần sa, thường ở liều lượng cao, để tiêu diệt ung thư. Theo Sulak, các mục tiêu không loại trừ lẫn nhau, nhưng mỗi mục tiêu yêu cầu một cách tiếp cận khác nhau để định liều.

Khi được sử dụng đúng cách, cần sa có thể là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả cho những bệnh nhân ung thư bị đau mãn tính, mất ngủ, buồn nôn và nôn do hóa trị liệu. Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng cannabinoid có thể ngăn chặn sự phát triển của đau thần kinh, một tác dụng phụ phổ biến của hóa trị liệu có thể hạn chế liều hoặc liệu trình hóa trị của bệnh nhân. Ngay cả sau khi bệnh ung thư thuyên giảm, nhiều bệnh nhân vẫn bị đau do thần kinh suy nhược mãn tính.

“Bệnh nhân thường có thể đạt được những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống với tác dụng phụ tối thiểu, sử dụng liều rất thấp cannabinoid trong khoảng 10 mg đến 60 mg mỗi ngày”, Sulak viết trong tài liệu khóa học của mình: “Sự kết hợp của THC, CBD, và các cannabinoid khác với nhiều tỷ lệ khác nhau có thể được sử dụng để tăng cường tác dụng và giảm thiểu tác dụng phụ của việc điều trị bằng cannabinoid”.

Cần sa y tế có thể giúp bệnh nhân chịu đựng các phương pháp điều trị ung thư thông thường như hóa trị và xạ trị, và có thể được sử dụng cùng với các phương pháp điều trị này với khả năng tương tác thuốc thấp. Điều này có nghĩa là hiếm khi có lý do để tránh kết hợp cần sa với các phương pháp điều trị ung thư thông thường (với một vài trường hợp ngoại lệ được lưu ý trong các tài liệu giáo dục).
Đối với những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối, cần sa mang lại nhiều lợi ích trong việc chăm sóc giảm nhẹ vào cuối cuộc đời. Sulak cho biết: “Đó là một sự bổ sung cực kỳ hữu ích cho các phương pháp điều trị thông thường trong chăm sóc sức khỏe giảm nhẹ.

TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ VÀ THÚC ĐẨY CHỮA LÀNH

Cùng với việc giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư, cannabinoid cũng cho thấy tác dụng chống ung thư trong nhiều mô hình thí nghiệm trên tế bào và động vật. Và có rất nhiều bằng chứng cho thấy ung thư ở người cũng đáp ứng với điều trị bằng cannabinoid, Sulak nhận xét. Một số bệnh nhân đã báo cáo việc sử dụng dầu gai thực sự giúp làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của khối u, những người khác đã thuyên giảm hoàn toàn các bệnh ung thư xâm lấn.

Bác sỹ Dustin Sulak

Để đạt được những tác dụng chống ung thư mạnh mẽ này, hầu hết bệnh nhân cần sử dụng liều cao hơn mức cần thiết để giảm triệu chứng – thường là 200 mg đến 2.000 mg cannabinoid mỗi ngày, hoặc tương đương với 1-2 ounce cần sa thảo dược mỗi tuần. Mức độ điều trị này có thể hiệu quả về chi phí nếu bệnh nhân hoặc người chăm sóc trồng cần sa ở ngoài trời, nhưng việc mua lượng thuốc này từ một nhà bán lẻ cần sa y tế có thể khá tốn kém.

Ở liều cao này, Sulak nói, “một nhà cung cấp dịch vụ y tế hiểu biết phải theo dõi quá trình điều trị để ngăn ngừa các tác dụng phụ và tương tác với điều trị ung thư thông thường. Bệnh nhân phải chuẩn độ cẩn thận để đạt được những liều cao này mà không có tác dụng phụ đáng kể. Đáng ngạc nhiên là liều trong khoảng 2.000 mg/ ngày có thể được dung nạp tốt”.

Ông cho biết thêm, bất kỳ phương pháp điều trị y tế nào cũng có những rủi ro nhất định, nhưng sử dụng cần sa liều cao không gây chết người mà còn an toàn hơn nhiều so với hóa trị liệu thông thường, mặc dù hiệu quả của cần sa liều cao đối với bệnh ung thư chưa được nghiên cứu ở người. Một số bệnh nhân sử dụng liều rất cao báo cáo về sự cải thiện vượt bậc cả về các triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Những người khác nhận thấy rằng ở liều lượng cực cao, cần sa không giúp giảm các triệu chứng như đau, lo lắng và rối loạn giấc ngủ – những lợi ích mà họ dễ dàng đạt được ở liều thấp hơn. Một số người không thể chịu đựng được những tác động bất lợi của cần sa liều cao và thấy mình bị sa thuốc, chệnh choạng và khó chịu.

KHÔNG CÓ CÔNG THỨC CHÍNH XÁC CHO MỌI NGƯỜI

Sulak nói rằng bệnh nhân và nghiên cứu sinh nên đề phòng bất kỳ ai tuyên bố có giải pháp chung để dùng cần sa điều trị ung thư. Internet có đầy đủ các tỷ lệ, liều lượng và các kế hoạch điều trị khác cho các loại ung thư cụ thể, nhưng nhiều tuyên bố trong số này dựa trên sự thành công của một bệnh nhân hoặc dựa trên những phát hiện có liên quan một phần từ tài liệu tiền lâm sàng (nghiên cứu tế bào và động vật).

Bệnh ung thư vô cùng phức tạp và “ngay cả với cùng một loại ung thư, ở hai người khác nhau cũng có thể phản ứng rất khác nhau với các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hoặc thay thế”, Sulak viết. Ông cho biết thêm: “Bởi vì chúng là những tế bào bất thường, ung thư làm những điều bất thường – như biểu hiện quá mức hoặc không biểu hiện được với các thụ thể cannabinoid. Môi trường sinh lý bên trong, di truyền, chế độ ăn uống và các yếu tố khác của mỗi cá nhân tạo ra một sự khác biệt. Kết quả khả quan từ một trường hợp hoặc một nghiên cứu không thể được áp dụng rộng rãi – tốt nhất là chúng có thể được sử dụng làm hướng dẫn. Một kế hoạch điều trị ung thư cũng phải tính đến các mục tiêu và sở thích cá nhân của một cá nhân”.

Cannabinoid chống lại ung thư thông qua các cơ chế hoạt động khác nhau, bao gồm kích hoạt tế bào chết, ngăn chặn sự phát triển và phân chia tế bào, ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu nuôi khối u và ngăn tế bào ung thư di chuyển đến các khu vực khác của cơ thể. Sulak lưu ý rằng hầu hết các trường hợp thành công khi sử dụng cần sa để tiêu diệt ung thư đều liên quan đến liều lượng cao, tuy nhiên một số bệnh nhân mô tả việc giảm đáng kể gánh nặng ung thư khi dùng liều lượng thấp đến trung bình.

Ông viết: “Không giống như các phương pháp điều trị hóa trị thông thường, chúng tôi biết rằng cannabinoid không gây độc cho các tế bào bình thường. Trong hóa trị liệu thông thường, phương pháp tường sử dụng là dùng một loại thuốc độc với tế bào ung thư hơn là đối với tế bào khỏe mạnh và trong mức độ chịu đựng của bệnh nhân. Các tác dụng phụ không thể chữa khỏi, như bệnh thần kinh ngoại biên hoặc suy dinh dưỡng do buồn nôn và nôn, thường là những yếu tố hạn chế trong điều trị”.

“Liều lượng cần sa có thể bị hạn chế bởi các tác dụng phụ”, Sulak khẳng định, “nhưng độc tính không dẫn đến những hạn chế lâu dài”.

Cheryl Pellerin, một nhà văn chuyên viết báo khoa học, là tác giả của Healing With Cannabis: The Evolution of the Endocannabinoid System và How Cannabinoid Help Relieve PTSD, Pain, MS, Loxiety, and More (Skyhorse Publishing), với lời tựa của Jeffrey Y. Hergenrather, MD. Cuốn sách đầu tiên của cô Trip: How Hallucinogens work in your brain , đã được dịch sang tiếng Pháp và Đức.

Dịch giả: Quỳnh Anh

Nguồn: Cannabinoid & cancer in the clinic | Project CBD

Bài viết được xem nhiều nhất