Một đánh giá khả quan về cơ chế hoạt động của CBD và những ứng dụng tiềm năng của nó trong liệu pháp điều trị ung thư

“CBD đã chứng minh được tác dụng chống tăng sinh và kích hoạt sự chết tế bào (apoptosis) mạnh mẽ trên nhiều loại ung thư khác nhau bao gồm cả trên các tế bào ung thư được nuôi cấy và tế bào ung thư trong mô hình thử nghiệm trên chuột”.

Cơ chế chống khối u là khác nhau tùy thuộc vào từng loại khối u, từ cơ chế ngừng chu chuyển tế bào đến tự thực bào, chết tế bào, hay sự kết hợp giữa các cơ chế.

Ngoài ra CBD cũng có thể ức chế khả năng di chuyển, xâm lấn và tạo mạch máu mới của khối u. Điều này cho thấy rằng CBD không những có thể tác động lên tế bào khối u mà còn ảnh hưởng đến vi môi trường quanh khối u, chẳng hạn bằng cách điều chỉnh sự xâm nhập của tế bào trung mô và tế bào miễn dịch.

Sự phụ thuộc của CBD vào các thụ thể của các endocannabinoid, CB1 và CB2, hoặc những thụ thể thuộc họ TRPV của các kênh trao đổi canxi, là khác nhau, cho thấy CBD có thể có đa đích tế bào và/hoặc những tế bào đích khác nhau trong các khối u khác nhau.

Về mặt cơ chế, CBD dường như có thể phá vỡ cân bằng nội môi oxy hóa khử của tế bào và gia tăng đáng kể ROS và ER stress, sau đó có thể kích hoạt cơ chế ngừng chu chuyển tế bào, tự thực bào và chết tế bào.

Đối với các nghiên cứu trong tương lai, điều quan trọng là phải làm sáng tỏ sự tương hỗ lẫn nhau giữa các con đường dẫn truyền tín hiệu khác nhau, chẳng hạn như ROS và ER stress, và quá trình viêm, để hiểu rõ hơn về cách thức mà liệu pháp CBD có thể phá vỡ cân bằng nội môi của tế bào ở cả tế bào khối u cũng như tế bào đang bị xâm chiếm, dẫn đến cái chết của tế bào ung thư và ức chế sự di chuyển, xâm lấn, di căn và hình thành mạch máu của khối u”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Seltzer ES, Watters AK, MacKenzie D Jr, Granat LM, Zhang D. Cannabidiol (CBD) as a Promising Anti-Cancer Drug. Cancers (Basel). 2020 Oct 30;12(11):E3203. doi: 10.3390/cancers12113203.

Kiểm soát tình trạng buồn nôn bằng cần sa

Hợp chất cannabinoid CBD không gây hiệu ứng say, tương tác với các thụ thể giải phóng serotonin, và việc sử dụng với liều tương đối nhỏ được chứng minh là có hiệu quả giúp giảm tình trạng buồn nôn và nôn mửa.

Laura là một bác sĩ, người đã dành hầu hết thời gian khám chữa bệnh của mình trong việc điều trị các chứng rối loạn do lạm dụng chất gây nghiện, và chưa từng trải qua việc điều trị bằng cần sa. Sự ác cảm với việc sử dụng cần sa khi cô ấy đang trong quá trình hóa trị ung thư vú không khiến tôi cảm thấy ngạc nhiên. Nôn mửa và lo lắng là điều không thể tránh khỏi, đang dần được loại bỏ. Tôi đã cùng Laura tham gia đào tạo về y học gia đình và tôi đánh giá cao hiệu quả điều trị của cần sa đối với những bệnh nhân mắc bệnh ung thư của mình, nhưng thật khó để Laura có thể chấp nhận được lời khuyên từ tôi.

Cuối cùng, tôi đã giới thiệu cho cô ấy một máy hóa hơi đã được hiệu chuẩn – một phương pháp giúp làm giảm đau nhanh chóng, nhưng khác với cách thức “hút cần sa sau một góc vườn” mà cô ấy đã tưởng tượng ra. Cô ấy bắt đầu với một giống cần sa giàu CBD với tỷ lệ 2 CBD : 1 THC, hy vọng rằng hiệu ứng say sẽ đủ nhẹ để cô ấy có thể chịu đựng được.

Tôi đã nhận được cuộc gọi từ Laura ba ngày sau lần hóa trị gần nhất của cô ấy, và tôi nhanh chóng hỏi rằng liệu việc sử dụng cần sa có hiệu quả với cô ấy không. Lúc đầu tôi cảm thấy hơi lo lắng vì cô ấy đã bật khóc, nhưng khi hiểu được những lời của cô ấy, tôi cảm thấy rất vui mừng. Cô ấy nói rằng: “nó có hiệu quả nhanh hơn, tốt hơn và hoàn thiện hơn bất kỳ đơn thuốc nào mà bác sĩ ung thư đã đưa cho tôi”.

Nếu bạn cảm thấy buồn nôn khi đọc về những đoạn khiến bạn cảm thấy buồn nôn, bạn có thể chuyển đến cuối bài viết này và bỏ qua những chi tiết có thể gây buồn nôn. Buồn nôn là như vậy đó – rất dễ cảm thấy nếu bạn có khuynh hướng như vậy.

Buồn nôn và nôn mửa là hai vấn đề riêng biệt, khác nhau – rõ ràng có liên quan đến nhau, nhưng hoàn toàn khác nhau về nguyên nhân và phương thức điều trị. Những người bị nôn mửa đều biết rằng buồn nôn còn khó chịu hơn so với nôn mửa vì đây là một cảm giác liên tục và khó có thể kiểm soát.

Tình trạng buồn nôn là gì?

Buồn nôn và nôn mửa là những cơ chế bảo vệ trong cơ thể con người, và xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn và có thể điều trị được, mặc dù hơi khó khăn. Tuy nhiên, nếu buồn nôn không phải là tình trạng ngắn hạn? Điều gì sẽ xảy ra nếu nó là một tác dụng phụ không thể tránh khỏi, hoặc mãn tính, và không có dấu hiệu thuyên giảm?

Nếu không tìm được nguyên nhân gây buồn nôn, tốt nhất bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ để họ giúp tìm ra những vấn đề ẩn sâu bên trong. Điều này đặc biệt đúng nếu cảm giác buồn nôn không hết trong vòng từ 1-2 ngày vì đó có thể là dấu hiệu của các vấn đề nghiêm trọng hơn.

Những nguyên nhân có thể gây buồn nôn:

Đau nửa đầu
Chấn thương đầu
Co giật
Những bệnh có liên quan đến tai, bao gồm cả nhiễm trùng
Say tàu xe
Rối loạn hệ tiêu hóa
Viêm ruột thừa
Viêm gan
Viêm tụy
Nhiễm trùng do vi khuẩn hay vi rút
Khi thực hiện các liệu pháp điều trị – hóa trị hoặc những liệu pháp khác
Nhiễm độc – asen, thuốc trừ sâu, ricin9
Thai nghén
Đau tim
Cơn đau
Rối loạn tâm thần hay cảm xúc

Buồn nôn hoạt động như thế nào?

Chuyện gì sẽ diễn ra trong cơ thể khi chúng ta cảm thấy buồn nôn? Não bộ, hệ tiêu hóa và hệ thần kinh đều có liên quan một phần trong tình trạng này. Chúng ta biết nhiều về cơ chế sinh lý của tình trạng nôn mửa hơn là buồn nôn, vì thế chúng ta có những liệu pháp tốt hơn để làm giảm tình trạng này.

Chìa khóa để kiểm soát các triệu chứng dường như chính là các thụ thể trong não bộ và hệ tiêu hóa, giúp sản xuất và liên kết với serotonin – một chất dẫn truyền thần kinh. Zofran, một loại thuốc chống nôn nổi tiếng, hoạt động bằng cách ngăn chặn cảm giác buồn nôn khi giải phóng serotonin.

Kiểm soát cảm giác buồn nôn với cannabinoid

Hợp chất cannabinoid CBD không gây hiệu ứng say, tương tác với các thụ thể giải phóng serotonin, và khi được dùng với liều tương đối nhỏ đã được chứng minh là có hiệu quả giúp giảm tình trạng buồn nôn và nôn mửa. CBD cũng có hiệu quả trong việc giảm bớt lo lắng, từ đó có thể giúp bệnh nhân kiểm soát cơn buồn nôn mãn tính.

THC cũng hoạt động tương đối hiệu quả đối với một số bệnh nhân như là một loại cannabinoid chống buồn nôn. Khi THC liên kết với các thụ thể CB1 trong một số vùng cụ thể trong não bộ, nó có tác dụng làm giảm tình trạng nôn mửa. Một số tác dụng phụ ảnh hưởng đến tinh thần của THC nếu không quá mạnh mẽ, trong trường hợp này, cũng mang đến những hiệu quả khả quan. Việc tạo ra một trạng thái tinh thần tích cực là rất hữu ích cho bất kỳ ai đang phải trải qua quá trình hóa trị, hoặc cho bất kỳ ai mắc phải chứng buồn nôn mãn tính, khó điều trị.

CBDA một acid dạng thô của CBD, thậm chí nó còn hoạt động mạnh mẽ hơn tại các thụ thể giải phóng serotonin, và các nghiên cứu lâm sàng (trên động vật) chỉ ra rằng CBDA là một chất chống buồn nôn có tác dụng mạnh, mạnh hơn cả CBD và THC. CBDA là một dạng CBD có trong nhiều giống cần sa giàu CBD, trước khi chúng được sấy khô hay hóa hơi. Trong quá trình đốt nóng, CBDA biến thành CBD, giống như THCA thông qua quá trình decarboxylation trở thành THC. Hiện tại, nguồn CBDA tốt nhất đến từ các giống cần sa tươi, chứa nhiều hàm lượng CBD, tuy nhiên trong tương lai các trạm y tế có thể cung cấp những sản phẩm từ CBDA cho những bệnh nhân có nhu cầu.

Cảm giác buồn nôn khi điều trị ung thư

Trạng thái tinh thần trong quá trình hóa trị có thể gồm có “hiệu ứng nocebo” – một phản ứng tiêu cực trong việc điều trị – có thể dẫn đến các cơn buồn nôn có thể dự đoán được. Chỉ cần nghĩ về những tác dụng phụ không thể tránh khỏi cũng khiến bạn cảm thấy nặng nề. Điều này đặc biệt đúng khi thực hiện hóa trị lần đầu tiên không đạt được hiệu quả như mong muốn. Thuốc chống nôn kê toa không thật sự mang lại hiệu quả đối với những cơn buồn nôn đã được dự đoán trước, nhưng cần sa thì cho thấy những tác dụng tiềm năng. Giáo sư Linda Parker, một nhà khoa học về khoa học thần kinh hành vi tại đại học Guelph tại Ontario, Canada đã phát hiện ra rằng một số cannabinoid gồm có THC, CBD và CBDA có thể giúp làm giảm bớt những cơn buồn nôn trên mô hình thử nghiệm trên động vật. Các thử nghiệm lâm sàng trên người là cực kỳ cần thiết.

Bắt đầu từ đâu?

Đối với những bệnh nhân có cảm giác buồn nôn do hóa trị, xạ trị hay những nguyên nhân khác có thể xác định được, thì cần sa có thể mang đến những hiệu quả tích cực. THC, CBD và CBDA đều cho thấy được những tác dụng tiềm năng trong nghiên cứu phòng thí nghiệm và được chứng minh là có hiệu quả đối với những bệnh nhân điều trị bằng cần sa tại nhà. Chiết xuất cần sa toàn phần có hiệu quả hơn bất kỳ loại cannabinoid đơn lẻ nào, tuy nhiên nếu có ý định sử dụng phương pháp này thì sẽ bắt đầu bằng loại cannabinoid nào?

Điều đó phụ thuộc phần nào vào trải nghiệm của bệnh nhân đối với phương thuốc này. Nếu bạn chưa bao giờ thử cần sa trước đây, tốt nhất bạn nên bắt đầu với một phương thuốc giàu CBD nhưng vẫn có có chứa một ít hàm lượng THC trong đó, như cách Laura đã làm. Khi cơ thể bạn đã quen với thuốc, bạn có thể tăng liều lượng THC nếu cần thiết. Và nếu bạn có thể dùng được loại CBDA không gây hiệu ứng say, thì đó cũng là phương thuốc tốt.

Việc sử dụng cần sa để điều trị chứng buồn nôn và tình trạng nôn mửa do hóa trị và xạ trị, được nhiều bác sĩ chấp nhận – nhưng mặt khác họ cũng không khuyên dùng cần sa. Nó mang đến sự hiệu quả, khả năng dung nạp tốt, và mặc dù chúng ta vẫn chưa thể hiểu rõ hoàn toàn tất cả các cơ chế hoạt động của chúng. Bệnh nhân nên được biết về nguồn gốc của liệu pháp cần sa mà họ sẽ sử dụng (nơi trồng và điều chế), và chỉ sử dụng loại cần sa không bị nhiễm tạp chất. Nếu sử dụng đúng loại cũng như liều lượng thích hợp, thì có thể làm giảm tình trạng buồn nôn bằng đơn liều giống như Laura vậy.

Stacey Kerr là một nhà giáo, bác sĩ và là một tác giả đang sinh sống và làm việc tại Bắc California. Bác sĩ Kerr đã dành nhiều năm làm việc trong phòng khám tư nhân cho đến khi cô ấy quyết định viết sách và tham gia giảng dạy toàn thời gian. Sau vài năm làm việc cùng với Society of Cannabis Clinicians và đồng phát triển khóa học trực tuyến toàn diện đầu tiên về các loại thuốc được điều chế từ cannabinoid, cô ấy hiện đang đảm nhiệm vai trò Giám đốc Y khoa của Hawaiian Ethos. Bài báo này ban đầu do Hawaiian Ethos xuất bản.

Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Project CBD – Managing Nausea with Cannabis

Cần sa và chứng đau cơ xơ hóa

Nghiên cứu mới: Tác dụng của cần sa trong điều trị chứng đau cơ xơ hóa

Điều trị tận gốc nguyên nhân gây ra cơn đau dai dẳng

Đau cơ xơ hóa là một tình trạng khó chữa được đặc trưng bởi các cơn đau và suy nhược mãn tính. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Clinical and Experimental Rheumatology đã chứng minh rằng cần sa có thể mang đến hiệu quả trong việc cải thiện những vấn đề này, ít nhất là có hiệu quả đối với một số bệnh nhân.

Nhìn chung, nghiên cứu về cần sa còn gặp nhiều khó khăn về phương pháp luận do các quy định lỗi thời cho rằng cần sa nguy hiểm hơn cả fentanyl hay oxycontin. Tuy nhiên, những nhà khoa học người Ý đã đưa ra một nghiên cứu khác biệt có thể áp dụng cho những người đang thử sử dụng cần sa để điều trị chứng đau cơ xơ hóa. 

Đối tượng nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu chỉ tuyển chọn hơn một trăm bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Luigi Sacco tại Milan, Ý. Sáu mươi sáu người trong số đó được phỏng vấn trong sáu tháng điều trị. Độ tuổi tham gia trung bình là 52, và hơn 90% bệnh nhân là phụ nữ (phụ nữ chiếm phần lớn người bị đau cơ xơ hóa).

Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị cho những bệnh nhân bị các cơn đau dai dẳng, khó chữa – nghĩa là người sử dụng thuốc ổn định nhưng không thấy thuyên giảm. Có dưới một nửa số bệnh nhân đang sử dụng 2 loại thuốc khác, trong khi một phần ba số bệnh nhân khác có dùng ít nhất 3 loại thuốc. Những loại thuốc này là thuốc an thần dạng nặng, bao gồm thuốc giảm đau nhóm opioid, thuốc chống co giật, thuốc phong bế thần kinh và thuốc chống trầm cảm.

Với độ mạnh của các loại thuốc mà những bệnh nhân này đang sử dụng, thật đáng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng gần một nửa số bệnh nhân (47%) đã đạt được hiệu quả (khi sử dụng cần sa) đủ để làm giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau của họ.

Từ 1/3 cho đến 1/2 số bệnh nhân đã cảm thấy được những cải thiện đáng chú ý trong giấc ngủ, các triệu chứng lo âu, trầm cảm và các cơn đau. Đa số bệnh nhân bị thừa cân hay béo phì, và cần sa có vẻ hiệu quả hơn đối với những bệnh nhân có cân nặng cao hơn. Một số bệnh nhân tham gia đã bị loại trừ, bao gồm cả những người đã sử dụng cần sa và những người bị bệnh thấp khớp hay mắc các cơn đau khác.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: “Có thể cân nhắc sử dụng [Cần sa y tế] phụ trợ, đặc biệt là ở nhóm dân số [đau cơ xơ hóa] bị rối loạn giấc ngủ và xuất hiện các triệu chứng trầm cảm nhẹ”.

Chuẩn độ cồn thuốc

Việc cân đối liều lượng cần sa rất phức tạp, vì thế các nhà nghiên cứu người Ý đã sử dụng một chiến lược thường được áp dụng cho bệnh nhân. Họ đã sử dụng hai loại hoa cần sa phân loại dược phẩm, một loại giàu hàm lượng THC và một loại cân bằng. Loại cân bằng có chứa nhiều hàm lượng CBD hơn.

Cả hai đều được chế tạo thành cồn thuốc có ống nhỏ giọt để định lượng. Bệnh nhân tham gia được khuyên dùng 2 liều mỗi ngày, sử dụng loại cân bằng vào buổi sáng và loại giàu THC vào buổi tối. THC có thể giúp hỗ trợ giấc ngủ và dường như là một loại thuốc giảm đau hiệu quả hơn so với CBD, vì thế việc từ chối sử dụng chúng một cách hoàn toàn là một quyết định không khôn ngoan. Tuy nhiên, tác dụng gây say của THC là một hiệu quả tiêu cực đối với người đang đi làm và người có cuộc sống bình thường. Nghiên cứu này đã cho những bệnh nhân mắc chứng đau cơ xơ hóa một cơ hội để sử dụng những công thức khác nhau, phù hợp với độ nhạy và nhịp sinh học cá nhân của riêng họ.

Không có liều lượng cụ thể nào – nghiên cứu y khoa cho đến nay vẫn chưa tìm ra được một liều lượng thống nhất, và thực thế là không tồn tại liều lượng lý tưởng, mà cần phải cân nhắc dựa trên nhiều tình trạng y tế khác nhau.

Thay vào đó, những nhà nghiên cứu khuyến nghị bệnh nhân thử 10-30 giọt vào mỗi buổi sáng và tối. Chuẩn độ một cách từ từ dựa trên sự thoải mái của bệnh nhân, họ có thể sử dụng lên đến 120 giọt mỗi ngày. Điều này có nghĩa là bắt đầu với liều thấp nhất 4mg THC và 2mg CBD – chia thành hai liều. Liều cao hơn có thể lên đến gần 27mg THC và 8mg CBD, và hầu hết sử dụng THC vào ban đêm. 

Giải quyết về đề nền tảng

Hơn 1/3 số bệnh nhân cảm nhận được những cải thiện về mặt lâm sàng trong giấc ngủ và các triệu chứng đau cơ xơ hóa. Một nửa số bệnh nhân nói rằng họ cảm thấy sự thuyên giảm vừa phải đối với tình trạng lo âu và trầm cảm sau khi cần sa được thêm vào chế độ điều trị của họ.

Đây là một chủ đề khá phổ biến – bằng chứng còn mâu thuẫn về việc liệu cần sa có thể điều trị chứng trầm cảm hay mất ngủ. Tuy nhiên, khi những vấn đề này chỉ là thứ phát đối với tình trạng đau mãn tính hay đau cơ xơ hóa, thì cannabinoid được chứng minh là khá hiệu quả. Dường như họ đang điều trị những vấn đề nền tảng, thay vì là các triệu chứng.

Bác sĩ Ethan Russo đưa ra giả thuyết rằng chứng đau cơ xơ hóa, cùng với chứng đau nửa đầu, có thể là biểu hiện của hội chứng thiếu hụt cannabinoid nội sinh. Lý thuyết này cho rằng một số biểu hiện bệnh nhất định xuất hiện khi hệ thống endocannabinoid quá yếu để có thể điều hòa tốt nhiều hệ thống sinh lý dưới sự kiểm soát của chính nó. Nếu sự thiếu hụt cannabinoid nội sinh gây ra một số loại bệnh nhất định, thì việc dùng các hợp chất cannabinoid thực vật như CBD và THC sẽ giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh, thay vì chỉ làm giảm nhẹ một số triệu chứng.

Trên thực tế, gần một nửa bệnh nhân đã có thể cắt giảm lượng thuốc mà họ sử dụng – với 21% đã hoàn toàn ngưng sử dụng các loại thuốc khác. “Điều này nói lên sự hài lòng mang tính chủ quan của họ về hiệu quả và tác dụng phụ của MCT [Điều trị bằng cần sa y tế]”, nghiên cứu cho biết.

Đối tượng sử dụng?

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 60 người là phụ nữ và chỉ có 6 người là nam giới. Vì thế, không thể xác định được liệu giới tính có ảnh hưởng đến kết quả điều trị hay không. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân có số cân nặng cao hơn thì dường như nhận được hiệu quả nhiều hơn. Điều này có thể liên quan đến tỷ lệ béo phì thấp hơn ở những người sử dụng cần sa, điều thường được quan sát thấy khi nghiên cứu về cách thức cần sa ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Cũng có những cách giải thích khác rằng CBD và THC là các phân tử dầu di chuyển tự do trong các mô mỡ. Vì thế những nhà nghiên cứu đã suy đoán rằng những người có nhiều chất béo trong cơ thể có thể hấp thụ cannabinoid tốt hơn, dẫn đến kết quả điều trị khả quan hơn.

Lợi ích của cần sa đối với chứng lo âu và trầm cảm cũng đáng được chú ý – 80% người bị đau cơ xơ hóa có xuất hiện các triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Một liệu pháp điều trị tiềm năng

Trong số 102 bệnh nhân tham gia ban đầu, khoảng một phần ba đã rời khỏi nghiên cứu trong vòng sáu tháng. Đó là một tỷ lệ duy trì hợp lý cho một nghiên cứu lâm sàng như thế này. Nhưng điều quan trọng là phải xem xét ai đã rời đi và tại sao, khi điều này có thể làm sai lệch kết quả. Mười một bệnh nhân tham gia đã ngừng điều trị một cách dứt khoát – vì cần sa không có tác dụng, nó gây ra các tác dụng phụ vừa phải hoặc quá đắt. Mười bệnh nhân tham gia vẫn sử dụng cần sa nhưng rời khỏi cuộc nghiên cứu khi họ chuyển sang bệnh viện khác. Mười lăm người còn lại đã từ bỏ cuộc nghiên cứu và không được kể đến.

Có khoảng từ 1-3 người tham gia gặp phải các tác dụng phụ nhẹ hoặc trung bình (như chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn và khô miệng). Một số ít bệnh nhân tham gia báo cáo rằng những triệu chứng trở nên tệ hơn sau khi bắt đầu sử dụng cần sa, mặc dù nó có thể khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi.

Cần sa có phải là một liệu pháp điều trị tiềm năng?

Những nhà nghiên cứu dường như nghĩ như thế, đặc biệt là khi phải đối mặt với những phương pháp truyền thống: “MCT [Điều trị bằng cần sa y tế] đã được chứng minh là một phương pháp hỗ trợ an toàn hơn nhiều so với khi điều trị bằng thuốc giảm đau nhóm opioid, liên quan đến nguy cơ rủi ro cao và không hiệu quả trong việc điều trị FM [đau cơ xơ hóa]; hơn nữa, MCT không có bất kỳ đặc tính gây nghiện đáng kể nào khi tăng liều hay hội chứng sau cai nghiện. Mối bận tâm quan trọng hơn là khả năng dung nạp, vì mặc dù các triệu chứng sẽ giảm sau ba tháng điều trị, nhưng thời gian điều trị lâu hơn có thể làm giảm hiệu quả, mặc dù điều này có thể tránh được bằng cách chuẩn độ liều lượng một cách cực kỳ chậm”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Project CBD – New Study: Cannabis is effective for Fibromyalgia

Hội chứng ruột kích thích (IBS) và cần sa

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là chẩn đoán phổ biến nhất được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa, chỉ riêng Hoa Kỳ, đã có tới 35 triệu người mắc phải hội chứng này. IBS được đặc trưng bởi các triệu chứng đau bụng, chướng bụng, đầy hơi và thay đổi thói quen đi tiêu mà không tìm thấy tổn thương thực thể nào (táo bón, tiêu chảy hoặc hỗn hợp). Nguyên nhân cụ thể gây ra IBS vẫn chưa được xác định, mặc dù có thể do sự thiếu hụt các hợp chất cannabinoid nội sinh. Thông thường, sẽ không có bất thường nào được tìm thấy trong kết quả xét nghiệm máu hay nội soi, khiến cho hội chứng này chỉ được chẩn đoán dựa trên tiền sử và những triệu chứng của bệnh nhân, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác. Người bị IBS thường phải đối mặt với các tình trạng khác như đau cơ xơ hóa, đau nửa đầu, viêm khớp thái dương hàm, thường xuyên mệt mỏi, trào ngược dạ dày thực quản hay đau vùng chậu mãn tính. Thường xuyên bị căng thẳng có liên quan đến cả sự phát triển và/hoặc các cơn IBS, cũng nên được xem là một vấn đề quan trọng trong việc điều trị.

Có ba nghiên cứu trên người đã được công bố về việc sử dụng cần sa y tế trong việc điều trị IBS, tất cả đều có sử dụng THC tổng hợp làm phương thuốc nghiên cứu. Không có gì đáng ngạc nhiên, một nghiên cứu trong số đó báo cáo rằng tất cả người tham gia đều bị tác dụng phụ và không có kết quả khả quan; Tuy nhiên, liều lượng THC cho nghiên cứu này lên đến 10 mg, rõ ràng là quá liều đối với những người chưa từng sử dụng cần sa. Nghiên cứu thứ 2 sử dụng liều lượng thấp hơn – 2,5 mg hoặc 5 mg THC tổng hợp so với nhóm sử dụng giả dược, và cho thấy rằng những người tham gia bị tiêu chảy do IBS hay đi tiêu hỗn hợp có giảm nhu động ruột, nghĩa là THC đã làm chậm tốc độ thức ăn di chuyển qua ruột. Và nghiên cứu thứ ba có liên quan đến việc sử dụng dronabinol liều thấp (THC dược phẩm) trong hai ngày và không có hiệu quả đối với những người bị tiêu chảy do IBS. Tuy nhiên, những phát hiện từ các nghiên cứu sử dụng các hợp chất cannabinoid tổng hợp đơn lẻ rất khó để đạt được hiệu quả như những bệnh nhân có sử dụng cần sa với chiết xuất toàn phần. 

Về mặt lâm sàng, nhiều bệnh nhân có sử dụng cần sa y tế để điều trị IBS cho thấy những kết quả khả quan, hầu hết nói rằng “nó giúp làm dịu đường ruột”. Một số bệnh nhân nói rằng họ cảm nhận được hiệu quả một cách đáng kể khi sử dụng THC liều thấp vào buổi tối hay khi cần thiết để làm giảm hoạt động kích thích của đường ruột. Một số khác nói rằng họ sử dụng các sản phẩm từ CBD hàng ngày để kiểm soát các triệu chứng của IBS. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn cho biết rằng khi sử dụng THCA hay CBDA, hoặc kết hợp cả 2, với liều lượng thấp cũng có thể giúp cải thiện những triệu chứng của IBS. Chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục thể thao thường xuyên và kiểm soát căng thẳng giúp cho hệ thống endocannabinoid có thể hoạt động một cách hiệu quả, và trong trường hợp mắc hội chứng IBS, các bệnh nhân cho biết sự kết hợp giữa những loại cannabinoid là khá hiệu quả.

Điều quan trọng là những bệnh nhân bị rối loạn đường ruột phải hiểu rằng tình trạng viêm kéo dài sẽ mất nhiều thời gian hơn để có thể đáp ứng được với phương pháp điều trị bằng cannabinoid. Có thể mất từ 8-12 tuần để nhận thấy được sự hiệu quả, mặc dù có nhiều bệnh nhân nói rằng các triệu chứng đã thuyên giảm sau một vài tuần đầu tiên. Những thực phẩm có chứa các hợp chất cannabinoid có thể gây ra sự khó chịu cho dạ dày, vì thế phải luôn hiểu rõ về sản phẩm mà bạn định sử dụng để tránh tình trạng làm kích thích các triệu chứng. Những loại tecpen được cho là có hiệu quả trong việc hỗ trợ đường ruột bao gồm terpinolene, beta-caryophyllene, limonene và pinene.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

 

Hiệu quả của cần sa y tế trong việc điều trị tình trạng trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một bệnh rất phổ biến, ảnh hưởng đến 20% dân số ở độ tuổi trưởng thành. Tình trạng này xảy ra khi các chất có trong dạ dày trào ngược lên thực quản, gây ra các triệu chứng như ợ chua, đau ngực, khó nuốt và/hoặc cảm giác có vật cản trong cổ họng. GERD thường được điều trị bằng thuốc; tuy nhiên, có một số báo cáo nói về khả năng gia tăng nguy cơ mất trí và mắc phải ung thư khi sử dụng những loại thuốc này. Những biện pháp can thiệp khả thi khác bao gồm sự thay đổi trong chế độ ăn uống, giữ tư thế đứng thẳng sau khi ăn, giảm cân và ngưng sử dụng thuốc lá.

Các nghiên cứu trên mô hình động vật đã chỉ ra rằng những hợp chất cannabinoid có thể kích thích thụ thể CB1 ức chế tiết axit và làm giảm tổn thương và viêm cho niêm mạc dạ dày. Một nghiên cứu tiền lâm sàng cũng cho thấy rằng khả năng kích hoạt thụ thể CB1 của hợp chất cannabinoid đã giữ cho cơ vòng thực quản dưới (“cánh cổng” giữa thực quản và dạ dày, có tác dụng giữ cho các chất tại dạ dày không trào ngược lên thực quản) đóng kín, do đó làm giảm tình trạng trào ngược. Trong một nghiên cứu trên người, THC được đưa cho người tình nguyện với tình trạng khỏe mạnh đã được chứng minh là có thể là giảm tỷ lệ trào ngược (mặc dù có xảy ra một số vấn đề vì sử dụng liều lượng cao và gây ra một số tác dụng phụ). Tuy nhiên, rõ ràng là chúng ta cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa để có thể hiểu rõ vai trò của cần sa trong việc điều trị GERD.

Về mặt lâm sàng, một số bệnh nhân được điều trị GERD bằng cần sa y tế cho thấy kết quả khả quan, mặc dù một số khác thì không. (Chúng ta vẫn còn chưa rõ lý do chính xác vì sao một số bệnh nhân có thể đáp ứng với cần sa và một số khác thì không). Những báo cáo mang tính chủ quan từ những bệnh nhân có phản ứng tích cực cho biết họ có ít đợt ợ chua hơn và nếu có, thì khi sử dụng cần sa y tế sẽ làm giảm đi sự khó chịu trong cơ thể của họ.

Hầu hết các bệnh nhân có kết quả điều trị khả quan đều có sử dụng THC trong phác đồ điều trị của họ, vì đây dường như là loại cannabinoid hữu ích nhất trong việc điều trị GERD. Một số bệnh nhân cho biết những sản phẩm có tỷ lệ CBD:THC thấp (như 1:1, 2:1 hay 4:1) cũng giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh GERD với tác dụng ít say hơn so với những sản phẩm có THC chiếm ưu thế. Ngoài ra, hai tecpen có trong cần sa, là limonene và terpinolene, cũng được cho là có hiệu quả trong việc điều trị GERD.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

Bệnh viêm ruột & cần sa: câu chuyện của Robert

Một thiếu niên cao, gầy với mái tóc húi cua, có tên là Robert, đã đến văn phòng của tôi cùng với bố mẹ của anh ấy để tìm kiếm sự giúp đỡ trong việc điều trị bệnh viêm loét đại tràng (bệnh viêm ruột, IBD). Được chẩn đoán vào 2 năm trước, anh ấy đã phải vật lộn với các triệu chứng như đau bụng mãn tính, tiêu chảy có kèm máu, kém ăn và sụt cân. Không có gì đáng ngạc nhiên khi anh ấy bày tỏ cảm giác chán nản và tuyệt vọng của mình. Anh đã điều trị rất nhiều lần mà không có tiến triển, và theo như lời của bố mẹ anh ấy kể: “những loại thuốc mà anh ấy sử dụng dường như khiến tình trạng của anh ấy ngày càng tệ hơn”. Anh đã phải truyền máu nhiều lần do mất máu thông qua đường ruột. Trong lần thăm khám gần đây nhất với bác sĩ chuyên khoa dạ dày, việc phẫu thuật cắt bỏ một phần ruột đã được thảo luận, khiến Robert cảm thấy rất vô vọng.

Trước khi đến gặp tôi, bố mẹ Robert có nói rằng đã bắt gặp anh ấy đang hút cần sa. Họ không cảm thấy ngạc nhiên, vì gần đây họ nhận thấy có điều gì đó khác lạ ở Robert – có thể là thái độ nhẹ nhàng hơn và ít kêu than về sự khó chịu. Với mong muốn tìm kiếm một phương pháp có thể điều trị chứng bệnh này cho con, họ đã bắt đầu tìm hiểu về “phương pháp sử dụng cần sa để điều trị bệnh viêm loét đại tràng” và quyết định lựa chọn phương pháp điều trị này với sự giám sát y tế, và tất cả đều đồng ý rằng phẫu thuật sẽ là biện pháp cuối cùng. Khi tôi hỏi Robert: cần sa đã giúp anh như thế nào? Anh ấy nói rằng tất cả các triệu chứng về thể chất đã thuyên giảm và anh ấy cảm thấy “bình thường” trong vài giờ. Tuy nhiên, anh ấy và bố mẹ của anh sợ rằng anh ấy đang mua cần sa từ những nguồn không rõ nguồn gốc và có nguy cơ gặp phải các vấn đề về pháp lý. Và anh ấy cũng có nói một cách chín chắn rằng “tôi cảm thấy đây có thể là phương pháp điều trị cho chính mình, nhưng tôi không muốn trở thành tội phạm khi sử dụng nó”.

Tôi đã truyền tải kiến thức cho Robert và bố mẹ của anh ấy về hệ thống endocannabinoid, về những loại phytocannabinoid khác nhau, và về những nghiên cứu đầy hứa hẹn, nhưng còn hạn chế, về việc sử dụng cần sa trong việc điều trị bệnh viêm ruột. Tôi hướng dẫn Robert bắt đầu sử dụng cồn thuốc ở liều thấp với tỷ lệ CBD:THC là 25:1, hai lần mỗi ngày và tăng liều sau mỗi 1-2 tuần, mục tiêu là sử dụng 300 miligam hai lần mỗi ngày. Chúng tôi đã thảo luận về việc sử THC hóa hơi khi cần thiết cho các triệu chứng cấp tính. Sau bốn tuần, anh ấy cho biết ít bị tiêu chảy hơn, ít đau bụng hơn và ăn ngon miệng hơn. Anh ấy nói rằng anh ấy cũng ngủ ngon hơn và tâm trạng của anh ấy đã được cải thiện rất nhiều. Anh ấy vẫn còn triệu chứng đại tiện có máu, vì thế việc sử dụng THCA hai lần mỗi ngày đã được thêm vào phác đồ điều trị.

Số lượng hồng cầu của Robert đã ổn định trong 6 tuần liên tiếp. Anh ấy đã tăng cân và vui vẻ thông báo rằng anh ấy đã bắt đầu có thể chơi bóng rổ trở lại, điều mà anh ấy không thể thực hiện được kể từ lần chẩn đoán đầu tiên. Những kết quả xét nghiệm của Robert cho thấy sự suy giảm của các dấu hiệu viêm và kết quả này là bằng chứng cho thấy rằng tình trạng viêm trong cơ thể của anh ấy đang bắt đầu đáp ứng với điều trị. Bác sĩ chuyên khoa dạ dày của Robert đang vô cùng thận trọng hỗ trợ điều trị cho anh ấy, và ông ấy cũng đã thấy được tình trạng ổn định của Robert. Quan trọng nhất, Robert nói rằng chất lượng cuộc sống của anh ấy đã được cải thiện đáng kể và cũng là lần đầu tiên sau nhiều năm, anh ấy cảm thấy lạc quan về tương lai của chính mình.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine: How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain

Tổng quan về lịch sử của cần sa, gai dầu

Lược sử về cây gai dầu

Các giải thích hoặc tài liệu được đánh dấu sao (*) được liệt kê ở cuối những đoạn có liên quan. Vì mục đích ngắn gọn, các nguồn khác về sự kiện, giai thoại, lịch sử, nghiên cứu, v.v., sẽ được trích dẫn trong phần nội dung của văn bản. Các chú thích được đánh số sẽ ở cuối mỗi chương. Các bản sao của những tài liệu nguồn quan trọng được chọn đã được đưa vào phần nội dung của văn bản hoặc trong phần phụ lục của phiên bản cuốn sách tái bản lần thứ 14.

Những sự kiện được trích dẫn trong quyển sách này thường có thể được kiểm chứng trong cuốn Bách khoa toàn thư Britannica (Encyclopaedia Britannica), vốn được in chủ yếu trên giấy sản xuất từ cây gai dầu trong hơn 150 năm. Tuy nhiên, bất kỳ bản bách khoa toàn thư hoặc cuốn từ điển tốt nào khác đều có thể được dùng cho mục đích xác minh.

Đạo luật Canh tác Gai dầu năm 2018 đã thúc đẩy việc trồng cây gai dầu ở Hoa Kỳ

Các tiểu bang ở Mỹ canh tác gai dầu năm 2019

Cannabis Sativa L.

Hay còn được gọi là: Hemp (gai dầu), cannabis hemp (cần sa gai dầu), Indian (India) hemp (gai dầu Ấn độ), true hemp, muggles, weed, pot, spinach, marijuana, reefer, grass, ganja, bhang, the kind, dagga, herb, v.v., tất cả những cái tên này đều được dùng để chỉ một loại cây!

*Ở trên là các tên gọi khác của cây gai dầu bằng tiếng Anh. Trong tiếng việt, gai dầu có thể được gọi là cần sa, cỏ, bồ đà, tài mà, hoặc lanh mèo. 

Cái tên nói lên điều gì?

(Địa lý Hoa Kỳ)

HEMPstead, Long Island; HEMPstead County, Arkansas; HEMPstead, Texas; HEMPhill, North Carolina, HEMPfield, Pennsylvania, và một số vị trí địa lý khác nữa, là những nơi vốn được đặt tên vì là vùng trồng gai dầu trước kia, hoặc được đặt tên theo tên những gia đình đã canh tác gai dầu.

Sự kiện lịch sử tại Hoa Kỳ

Vào năm 1619, đạo luật về cần sa đầu tiên tại Mỹ được ban hành tại Thuộc địa Jamestown, Virginia, “ra lệnh cho” tất cả nông dân “trồng thử nghiệm” hạt gai dầu Ấn Độ. Các đạo luật khác về canh tác gai dầu một cách bắt buộc (phải trồng) được ban hành tại Massachusetts vào năm 1631, tại Connecticut vào năm 1632 và tại các Thuộc địa Chesapeake vào giữa những năm 1700.

Thậm chí ngay cả ở Anh Quốc, phần thưởng hấp dẫn dành cho những người ngoại quốc trồng gai dầu là một cơ hội trở thành công dân Anh, và chính sách phạt được áp dụng đối với những ai từ chối việc canh tác gai dầu.

Cây gai dầu được mua bán một cách hợp pháp ở hầu hết các nước ở châu Mỹ từ năm 1631 cho đến đầu những năm 1800. Vì sao? Để khuyến khích nông dân Mỹ canh tác nhiều hơn nữa. (1)

Bạn có thể nộp thuế bằng gai dầu trên khắp nước Mỹ trong hơn 200 năm. (2)

Bạn thậm chí có thể bị đi tù ở Hoa Kỳ chỉ vì không trồng gai dầu trong một số thời kỳ bị thiếu hụt, chẳng hạn như tại Virginia từ năm 1763 đến năm 1767. 

(Herndon, G.M., Hemp in Colonial Virginia, 1963; The Chesapeake Colonies, 1954; L.A. Times, August 12, 1981; et al.)

Benjamin Franklin đã thành lập nên một trong những xưởng chế tạo giấy đầu tiên từ cây gai dầu tại Hoa Kỳ. Điều này cho phép Hoa Kỳ có báo chí thuộc địa tự do mà không cần viện trợ hoặc giải thích cho nhu cầu về giấy và sách báo từ Anh Quốc.

George Washington (Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ) và Thomas Jefferson (Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ) đã trồng gai dầu trên các đồn điền của mình. Jefferson, khi đang là đặc sứ ngoại giao tại Pháp, đã phải chi rất nhiều tiền và thậm chí là mang đến những rủi ro cho bản thân và các mật vụ của chính mình, chỉ để thu mua những loại hạt gai dầu loại tốt được nhập lậu từ Trung Quốc vào Thổ Nhĩ Kỳ (3). Các quan đại thần Trung Quốc (trụ cột trong chính trị) coi trọng hạt gai dầu của họ đến mức họ xem việc xuất khẩu hạt gai dầu của họ là một hành vi phạm pháp.

Hán tự “Ma” là tên gọi sớm nhất của cây gai dầu. Đến thế kỷ thứ 10 sau Công Nguyên, từ “Ma” đã trở thành một thuật ngữ chung để dùng để gọi các loại sợi, bao gồm đay và lanh. Sau đó, từ chỉ cây gai dầu đã trở thành “Tai-ma” hoặc “Dai-ma” có nghĩa là “cây gai dầu vĩ đại”.

Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 1850 đã thống kê được có 8,327 “đồn điền” *(tối thiểu 2,000 mẫu Anh) trồng cây gai dầu cho mục đích làm quần áo, vải bạt và thậm chí là dây thừng dùng để đóng kiện cotton. Hầu hết các đồn điền này nằm ở miền Nam hoặc tại các tiểu bang giáp biên giới, chủ yếu là do nguồn lao động nô lệ giá rẻ có trước năm 1865 cho một ngành công nghiệp gai dầu sử dụng nhiều nhân lực lao động.

(U.S. Census, 1850; Allen, James Lane, The Reign of Law, A Tale of the Kentucky Hemp Fields, MacMillan Co., NY, 1900; Roffman, Roger. Ph.D., Marijuana as Medicine, Mendrone Books, WA, 1982.)

*Con số này không bao gồm hàng chục ngàn trang trại canh tác gai dầu nhỏ hơn, cũng như là hàng trăm ngàn nếu không muốn nói là hàng triệu cây gai dầu được trồng tại gia ở Hoa Kỳ; cũng không tính đến vào thế kỷ này, 80% lượng gai dầu tiêu thụ của Hoa Kỳ trong 200 năm vẫn phải nhập khẩu từ Nga, Hungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, v.v.

Benjamin Franklin đã thành lập nên một trong những xưởng chế tạo giấy đầu tiên từ cây gai dầu tại Hoa Kỳ. Điều này cho phép Hoa Kỳ có báo chí thuộc địa tự do mà không cần viện trợ hoặc giải thích cho nhu cầu về giấy và sách báo từ Anh Quốc.

Ngoài ra, chiết xuất từ nhiều loại cần sa khác nhau và nhựa của chúng được xem là loại thuốc được kê đơn nhiều nhất, thứ hai hoặc thứ ba ở Hoa Kỳ từ năm 1842 cho đến những năm 1890. Việc sử dụng chúng để chế tạo thuốc sử dụng cho con người tiếp tục được diễn ra một cách hợp pháp trong suốt những năm 1930 và thậm chí còn vượt bậc hơn nữa trong lĩnh vực thuốc thú y của Hoa Kỳ và thế giới vào giai đoạn này.

Các loại thuốc chiết xuất từ cần sa đã được sản xuất bởi Eli Lilly, Parke-Davis, Tildens, Smith Brothers, Squibb và nhiều hãng dược phẩm khác của Hoa Kỳ và châu Âu. Trong suốt thời gian này, không có bất kỳ ca tử vong nào được báo cáo do sử dụng các loại thuốc chiết xuất từ cần sa, và hầu như không có trường hợp quá liều hoặc rối loạn tâm thần nào được báo cáo lại, ngoại trừ những người mới sử dụng lần đầu hoặc những người ít kinh nghiệm, thỉnh thoảng bị mất phương hướng hoặc hướng nội quá mức.

(Mikuriya, Tod, M.D., Marijuana Medical Papers, Medi-Comp Press, CA, 1973; Cohen, Sidney & Stillman, Richard, Therapeutic Potential of Marijuana, Plenum Press, NY, 1976.)

Sự kiện lịch sử Thế giới

“Loại vải dệt sớm nhất được biết đến dường như được chế tạo từ cây gai dầu, bắt đầu được sản xuất vào thiên niên kỷ thứ tám (8000-7000 năm trước Công Nguyên)” (The Columbia History of the World, 1981, trang 54.)

Các tài liệu văn học lưu truyền (bao gồm khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, kinh tế học, lịch sử) liên quan đến cây gai dầu đều đồng ý rằng:

Từ hơn 1000 năm trước Công Nguyên cho đến năm 1883 sau Công Nguyên, gai dầu – và dĩ nhiên, cần sa – thật sự là loại cây trồng nông nghiệp phổ biến nhất và được coi một ngành công nghiệp quan trọng nhất thế giới, bao gồm hàng ngàn sản phẩm và doanh nghiệp; chịu trách nhiệm sản xuất phần lớn sợi, vải, dầu thắp sáng, giấy, hương liệu và thuốc. Ngoài ra, loài cây này còn là một nguồn cung cấp protein dồi dào và dầu thực phẩm thiết yếu cho con người và các loài động vật.

Theo hầu hết những nhà nhân chủng học và các trường đại học trên thế giới, cần sa cũng được sử dụng rộng rãi trong hầu hết mọi tôn giáo và các giáo phái như một trong bảy loại thuốc có thể can thiệp đến tâm trạng, tâm trí hoặc các cơn đau, được sử dụng như thuốc hướng thần trong các nghi lễ.

(Wasson, R. Gordon, Soma, Divine Mushroom of Immortality; Allegro, J.M., Sacred Mushroom & the Cross, Doubleday, NY, 1969; Pliny; Josephus; Herodotus; Dead Sea Scrolls; Gnostic Gospels; the Bible; Ginsberg Legends Kaballah, c. 1860; Paracelsus; British Museum; Budge; Ency. Britannica, Pharmacological Cults; Schultes & Wasson, Plants of the Gods; Research of: R.E. Schultes, Harvard Botanical Dept.; Wm. EmBoden, Cal State U., Northridge; et al.)

Thế chiến thứ I đã xảy ra vì tranh giành gai dầu

Chẳng hạn như, lý do chính dẫn đến cuộc chiến năm 1812 ( Mỹ tham chiến chống lại Anh Quốc) là sự tấn công vào nguồn gai dầu của Nga. Cây gai dầu của Nga cũng chính là lý do then chốt mà Napoleon (đồng minh năm 1812 của Mỹ) và các đồng minh thuộc “Hệ thống lục địa” của mình quyết định xâm lược Nga vào năm 1812. (Xem chương 11, “Cuộc chiến cây gai dầu năm 1812 và cuộc xâm lược Nga của Napoleon”).

Năm 1942, sau khi Nhật Bản xâm lược Philippines đã làm cắt đứt nguồn cung cấp gai dầu của Manila (Abaca), chính phủ Hoa Kỳ đã phân phối 400,000 pound (khoảng 180,000 cân) hạt giống gai dầu cho nông dân Hoa Kỳ từ Wisconsin đến Kentucky – những người đã sản xuất 42,000 tấn sợi gai dầu mỗi năm cho đến năm 1946 khi chiến tranh kết thúc.

“Trong suốt mùa đông cho tới chớm xuân, việc phơi khô và tách sợi gai dầu luôn tiếp diễn cho tới khi ngày trở nên ấm áp. Mỗi đêm xuống, được làm sạch và đóng kiện, nó được đưa lên xe kéo hoặc đẩy vào trong chuồng hoặc kho trữ gai dầu, nơi nó sẽ được cân để tính tiền công của cả ngày lao động… Ôi! Cũng giống như chúng ta, vốn đều được gieo và nhú lên từ đất; phải đấu tranh hướng lên, bị đốn hạ, mục nát và tan vỡ, để rồi sự phân tách diễn ra, chia tách hai phần, phần vô giá trị và phần giá trị – phần vụn kém chất lượng và phần sợi bất diệt…” Cảnh tượng này diễn ra vào Thế kỷ 18, mô tả những người lao động chải sợi gai dầu bằng tay. Đập dập và chải sợi gai dầu vốn được coi là một trong những công việc nặng nhọc nhất cho con người từng được biết đến. Đoạn trích này đến từ tác phẩm THE REIGN OF LAW; a Tale of the Kentucky Hemp Fields. Hãy xem phần Phụ lục để biết thêm về cuốn sách bán chạy nhất năm 1900 này.

Vì sao gai dầu được xem là loài thực vật rất quan trọng trong lịch sử?

Bởi vì nhìn chung, gai dầu là loại sợi mềm tự nhiên bền nhất, chắc nhất và có thời hạn sử dụng lâu nhất trên thế giới. Lá và phần búp hoa của nó (cần sa), tùy vào từng nền văn hóa, được xem là loại thuốc quan trọng nhất, thứ hai hoặc thứ ba và được sử dụng nhiều nhất cho đến 2/3 dân số thế giới trong ít nhất 3,000 năm, cho đến đầu thế kỷ 20.

Về mặt thực vật học, đây là một thành viên của họ thực vật cao cấp nhất trên hành tinh. Nó là một loài thực vật đơn tính (có cây đực và cây cái tách biệt, và đôi khi cũng có thể lưỡng tính, đực và cái trên cùng một cây), thân gỗ. Chúng có thể sử dụng năng lượng mặt trời một cách hiệu quả hơn bất kỳ loài thực vật nào khác có trên hành tinh của chúng ta, có thể đạt tới độ cao 12 đến 20 feet (6 mét) trở lên trong một kỳ sinh trưởng ngắn. Chúng có thể được trồng ở hầu hết mọi điều kiện khí hậu hoặc thổ nhưỡng, thậm chí có thể sinh trưởng ngay cả ở những vùng ven biển.

Cho đến hiện nay, cây gai dầu được xem là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo hàng đầu trên Trái Đất. Đây cũng chính là lý do vì sao gai dầu lại quan trọng tới vậy.

Chú thích:

  1. Clark, V.S., History of Manufacture in the United States, McGraw Hill, NY 1929, p. 34.
  2. Ibid.
  3. Diaries of George Washington; Writings of George Washington, Letter to Dr. James Anderson, May 26, 1794, vol. 33, p. 433, (U.S. govt. pub., 1931); Letters to his caretaker, William Pearce, 1795 & 1796; Thomas Jefferson, Jefferson’s Farm Books; Abel, Ernest, Marijuana: The First 12,000 Years, Plenum Press, NY, 1980; Dr. Michael Aldrich, et al.

Partial list of rigging (rope) required for the 1927 restoration of the U.S.S. Constitution from “The Frigate Constitution” by F Alexander Magoun, S.B., S.M. The Southwest Press. ©1928 by The Marine Research Society, Boston, Massachusetts. Pgs. 96, 97.

Each mast (fore, mizen, main, etc.) required lifts, braces, reefs, jiggers, tackles, etc. The Constitution carried well over four miles of hemp rope. 

Standing Rigging, Hard Laid Hemp 

Items & Circumference 

Mainstay: 12 inches, Forestay: 12 inches, Pendants: 9.5 inches, Fore and main shrouds: 9.5 inches, Mizen shrouds: 7 inches, Topmast backstays: 9 inches, Topmast stays: 8 inches, Topgallant backstays: 5 inches, Topgallant stays: 4 inches and Royal stays: 2.5 inches. 

Running Rigging, Soft Laid Hemp 

Item: Circumference & Gross Length

Pendant tackles: 2.5 in. @ 260 feet, Jeer full: 4.5 in. @ 350 feet, Pendant tackles: 3.25 in. @ 1200 feet, Lifts: 3.5 in. @ 470 feet, Braces: 4 in. @ 608 feet, Tacks: 4 in. @ 400 feet, Sheets: 4.5 in. @ 400 feet, Clew garnets: 3 in. @ 400 feet, Main Bowline: 3.25 in. @ 120 feet, Reef tackles: 3.25 in. @ 250 feet, Buntlines: 2.5 in. @ 530 feet, Leechlines: 2.5 in. @ 432 feet, Clew jiggers: 2 in. @ 520 feet, Top burtons: 3 in. @ 1060 feet, Topsail tye halliards: 3.25 in. @ 1440 feet, Topsail lifts: 4.25 in. @ 360 feet, Topsail braces: 3.25 in. @ 600 feet, Best bower anchor cable 22.5 in. @ 720 feet, Messenger: 1.4 in.@ 600 feet, Gun breeching (each) 7 in. @ 24 feet and Out-haul tackles (each) 2.5 in. @ 60 feet.

Parkinson và Cần sa y tế

Parkinson là bệnh lý thoái hóa thần kinh mạn tính và tiến triển từ từ tăng dần. Đặc điểm bệnh lý chính của Parkinson là sự thoái hóa các tế bào thần kinh chứa dopamine (DA) của phần đặc chất đen, dẫn đến sự suy giảm nơron dopaminergic ở vùng vân. Việc mất kiểm soát chức năng điều hòa DA không thể phục hồi dẫn đến các triệu chứng điển hình thường thấy ở bệnh này như chậm cử động, run tay khi nghỉ và tay chân cứng dần. Người ta tin rằng những hợp chất cannabinoid có thể có mang đến một số tác dụng có lợi trong việc điều trị bệnh parkinson. Trong các thí nghiệm trên động vật, cannabinoid cung cấp sự bảo vệ cho tế bào thần kinh chống lại độc tính 6-hydroxydopamine trong thí nghiệm in vivo và in vitro.

Phần lớn bệnh nhân parkinson đang điều trị với levodopa phát triển các biến chứng rối loạn vận động trong vòng 10 năm điều trị. Những nghiên cứu gần đây trên động vật và tại phòng khám cho thấy rằng các chất đối kháng thụ thể CB1 có vẻ tỏ ra hữu hiệu trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh lý Parkinson và rối loạn vận động do levodopa, trong đó các chất chủ vận thụ thể CB1 có thể mang đến nhiều giá trị trong việc làm giảm rối loạn vận động do levodopa gây ra.

Trong mô hình thử nghiệm trên chuột bị parkinson được điều trị bằng Reserpine, chất chủ vận thụ thể dopamine D2 – quinpirole đã làm giảm chứng rối loạn vận động một cách đáng kể. Hiệu quả này bị giảm đi một cách đáng kể khi tiêm đồng thời với chất chủ vận thụ thể cannabinoid WIN 55,212-2. Việc sử dụng đồng thời thuốc đối kháng CB1 (rimonabant) với quinpirole và WIN 55,212-2 đã ngăn chặn tác dụng của WIN 55,212-2 trong việc giảm chứng rối loạn vận động của quinpirole.

Trong các thử nghiệm trên động vật, việc sử dụng levodopa lâu dài đã tạo ra các rối loạn cử động miệng và lưỡi không tự chủ ngày càng nghiêm trọng và tình trạng này đã thuyên giảm do WIN 55,212-2. Hiệu ứng này cũng có thể bị đảo ngược bởi rimonabant. Trong những nghiên cứu khác, rimonabant được cho là có tác dụng tích cực đối với những rối loạn vận động điển hình ở bệnh lý parkinson, ở một số liều nhất định.

Cannabinoid nội sinh với nồng độ cao được tìm thấy ở những bệnh nhân Parkinson không được điều trị. Việc sử dụng các chất ức chế sự suy giảm các nhóm cannabinoid nội sinh đã làm giảm sự rối loạn vận động ở người bị Parkinson. Do đó, các chất chủ vận và chất đối kháng của những thụ thể của cannabinoid dường như có tác dụng trong việc điều trị một số triệu chứng của Parkinson.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, chất chủ vận thụ thể cannabinoid – nabilone đã làm giảm một cách đáng kể những rối loạn vận động do levodopa gây ra khi điều trị Parkinson. THC giúp cải thiện khả năng kiểm soát vận động ở bệnh nhân mắc loạn trương lực cơ. Ngoài ra, trong một bảng khảo sát ẩn danh được gửi đến tất cả các bệnh nhân có mặt tại Prague Movement Disorder Center cho thấy có 25% số người được hỏi đã sử dụng cần sa và 45,9% trong số này cho thấy những tác dụng có lợi. Vì thế, những hợp chất cannabinoid dường như có thể điều trị được một số triệu chứng của bệnh lý thần kinh này.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế và cơn đau thần kinh mãn tính

Cần sa đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ như là một chất giảm đau. Bằng chứng cho thấy rằng những hợp chất cannabinoid có trong cần sa có thể kiểm soát những cơn đau bằng cách ức chế sự dẫn truyền tế bào thần kinh trong các con đường gây ra cơn đau. Khi đánh giá về tác dụng giảm kích thích đau một cách rõ rệt của những hợp chất cannabinoid, chúng được đề xuất là một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn để kiểm soát lâm sàng chứng đau dây thần kinh sinh ba.

 

THC, CBD và CBD-dimethyl heptyl (DMH) được cho là có thể ngăn chặn sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu bởi huyết tương thu được từ những bệnh nhân đau nửa đầu. Một nghiên cứu cho thấy rằng khi THC được sử dụng cho bệnh nhân bị sốt Địa Trung Hải, với các cơn đau tái phát mãn tính và viêm đường tiêu hóa, kết quả được ghi nhận là mức độ các cơn đau giảm đi đáng kể. Sự cải thiện nhẹ đã được ghi nhận với các loại thuốc dựa trên các hợp chất từ cần sa để điều trị các cơn đau mãn tính liên quan đến nhổ rễ dây thần kinh cánh tay.

 

Ở những bệnh nhân đau thần kinh, cường độ đau tự phát trung bình khi được điều trị bằng THC thấp hơn đáng kể so với điều trị bằng giả dược, và điểm giảm đau trung bình (thang đánh giá bằng số) cao hơn. Nó cũng có hiệu quả trong điều trị đau thần kinh trung ương. Việc sử dụng THC đơn liều để điều trị cơn đau do ung thư cũng cho thấy tác dụng giảm đau nhẹ. Những bệnh nhân mắc phải các cơn đau cũng có xu hướng tự điều trị bằng cần sa y tế.

 

Trong một cuộc khảo sát ẩn danh, 72 (35%) bệnh nhân với cơn đau mãn tính không do ung thư cho biết đã sử dụng cần sa để giảm đau. Các bệnh nhân AIDS được điều trị bằng cần sa cho biết họ có cải thiện sự thèm ăn, giảm đau cơ, buồn nôn, lo lắng, đau dây thần kinh, trầm cảm và dị cảm. Không chỉ THC, mà tất cả các loại cannabinoid khác cũng có tác dụng giảm đau đến những cơn đau khác nhau. Nabilone là một cannabinoid tổng hợp được phê duyệt để điều trị buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng liên quan đến việc hóa trị liệu ở bệnh ung thư.

 

Ở Canada, Hoa Kỳ và Anh Quốc, nabilone được thương mại hóa dưới cái tên Cesamet. Nabilone có thể làm giảm đáng kể các cơn đau liên quan đến tình trạng co cứng ở các bệnh nhân mắc hội chứng dây thần kinh vận động trên (UMNS) mãn tính. Một cannabinoid khác, axit ajulemic (AJA), có hiệu quả trong việc giảm đau dây thần kinh mãn tính, mặc dù chúng có thể xuất hiện một số tác dụng phụ như mệt mỏi, khô miệng, hạn chế khả năng tập trung, chóng mặt, đổ mồ hôi.

Sự kết hợp giữa THC và CBD (cannabinoid không mang tác động thần kinh) có hoạt tính cao hơn nhiều so với THC đơn thuần. Thuốc xịt CBD/THC (Sativex) được cho là có hiệu quả trong việc điều trị chứng đau thần kinh ở bệnh đa xơ cứng (MS). Đau thần kinh mãn tính cũng có thể được điều trị bằng chiết xuất cần sa có chứa THC hoặc CBD, hoặc với Sativex. Những hợp chất cannabinoid này cũng có hiệu quả trong việc giảm rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân này và hầu hết được dung nạp tốt. Sativex là loại thuốc làm từ cần sa đầu tiên, trải qua quá trình phát triển lâm sàng thông thường và được phê duyệt dưới dạng thuốc kê đơn. Nó có hiệu quả và được dung nạp tốt trong điều trị các triệu chứng của bệnh đa xơ cứng, và đặc biệt là chứng co cứng và đau thần kinh. Sativex đã được phê duyệt để sử dụng trong điều trị đau thần kinh do bệnh đa xơ cứng ở Canada.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Tác dụng của cần sa trong việc chống lại ung thư và kiểm soát các tác dụng phụ

Nhiều bằng chứng cho thấy rằng những “hợp chất cannabinoid” có trong cần sa có khả năng làm chậm sự phát triển của bệnh ung thư, ức chế sự hình thành các tế bào máu mới để nuôi dưỡng khối u cũng như kiểm soát các cơn đau, mệt mỏi, buồn nôn và các tác dụng phụ khác.

Cristina Sanchez- nhà sinh vật học tại Đại học Complutense tại Madrid, trong lúc thực hiện nghiên cứu về sự trao đổi chất của tế bào đã nhận ra một số điều đặc biệt. Cô ấy đã tiến hành kiểm tra các tế bào ung thư não vì chúng phát triển nhanh hơn so với các dòng tế bào bình thường và do đó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, các tế bào ung thư này sẽ chết khi chúng tiếp xúc với tetrahydrocannabinol (THC), thành phần mang hiệu ứng thần kinh chính ở cần sa.

Thay vì có được cái nhìn rõ ràng hơn về cách thức mà các tế bào hoạt động, Sanchez đã tình cờ phát hiện ra được các đặc tính chống ung thư của THC. Năm 1998, cô đã cho đăng bài báo cáo trên một tạp chí về hóa sinh tại châu Âu về “khả năng gây ra quá trình gây chết tế bào (apoptosis) của THC ở các tế bào u thần kinh đệm C6”, một dạng ung thư não tăng triển.

Một số nghiên cứu được bình duyệt tiếp theo ở một số quốc gia đã cho thấy rằng THC và các hợp chất khác có nguồn gốc từ cần sa, hay còn được gọi là “cannabinoid”, không chỉ có hiệu quả trong việc kiểm soát các triệu chứng của ung thư (buồn nôn, đau, chán ăn, mệt mỏi), mà còn mang đến hiệu quả chống lại khối u một cách trực tiếp.

Một nhóm các nhà khoa học Tây Ban Nha do Manuel Guzman dẫn đầu đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng đầu tiên để đánh giá tác dụng chống lại khối u của THC trên người. Guzman đã đưa THC tinh khiết thông qua một ống thông đi vào khối u của 9 bệnh nhân đang nhập viện với tình trạng u nguyên bào thần kinh đệm – những người không đáp ứng với các liệu pháp điều trị ung thư não tiêu chuẩn. Kết quả được công bố vào năm 2006 trên tạp chí British Pharmacology: Điều trị bằng THC có thể làm giảm đáng kể sự tăng sinh tế bào khối u ở tất cả các đối tượng được thử nghiệm.

Cùng thời gian đó, các nhà khoa học tại trường Đại học Harvard đã báo cáo rằng THC có thể làm chậm sự phát triển của khối u trong bệnh ung thư phổi phổ biến và “làm giảm đáng kể khả năng di căn”. Hơn nữa, giống như một tên lửa tầm nhiệt, THC có thể nhắm mục tiêu và tiêu diệt các tế bào khối u một cách có chọn lọc trong khi không làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh. Ngược lại, các loại thuốc hóa trị thông thường có độc tính cao; chúng làm tổn thương đến não bộ và cơ thể một cách bừa bãi.

Theo một bài báo cáo trên tạp chí Medicinal Chemistry, có nhiều bằng chứng cho thấy những hợp chất cannabinoid “có thể là một nhóm thuốc chống ung thư mới, có khả năng làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư, ức chế sự hình thành mạch máu mới để nuôi khối u và sự di căn của các tế bào ung thư”.

Tiến sĩ McAllister – một nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Thái Bình Dương tại San Francisco, đã nghiên cứu về các hợp chất cannabinoid trong 10 năm với nhiệm vụ phát triển các liệu pháp can thiệp điều trị mới cho nhiều loại ung thư khác nhau. Được tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia (với giấy phép từ DEA), McAllister đã phát hiện ra rằng cannabidiol (CBD) – một thành phần không gây tác động thần kinh của cây cần sa là một chất ức chế mạnh đối với sự tăng sinh, di căn và phát triển của tế bào ung thư vú.

Năm 2007, ông đã công bố chi tiết về cách cannabidiol tiêu diệt các tế bào ung thư vú và phá hủy các khối u ác tính bằng cách tắt biểu hiện của gen ID-1, một loại protein dường như đóng vai trò chính yếu như một chất dẫn tế bào ung thư.

Gen ID-1 hoạt động trong suốt quá trình phát triển phôi thai ở người, sau đó nó tắt đi và không hoạt động. Tuy nhiên, trong ung thư vú và một số loại ung thư di căn khác, gen ID-1 hoạt động trở lại, khiến các tế bào ác tính xâm nhập và di căn. McAllister giải thích rằng “Hàng chục loại ung thư tăng triển có biểu hiện gen này”. Ông cho rằng nhờ khả năng ngăn chặn biểu hiện gen ID-1 của CBD có thể khiến nó trở thành một loại thuốc chống ung thư mang tính đột phá.

Ông nói rằng “Cannabidiol mang đến niềm hy vọng về một liệu pháp không mang tính độc hại có thể điều trị cho nhiều loại ung thư tăng triển mà không mang đến bất kỳ tác dụng phụ đau đớn nào của hóa trị liệu”.

Phòng thí nghiệm của ông cũng đã và đang phân tích về cách thức hoạt động của CBD khi kết hợp với các chất hóa trị bước đầu. Nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng cannabidiol, một hợp chất chống ung thư tiềm năng, có thể tương tác hiệp đồng với các loại thuốc chống ung thư khác nhau, tăng cường tác động của chúng trong khi cắt giảm liều lượng độc tố cần thiết để đạt được hiệu quả tối đa.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học St. George, London đã quan sát thấy một cơ chế tương tự đối với THC, nó giúp làm tăng hiệu quả của các liệu pháp điều trị bệnh bạch cầu thông thường trong các nghiên cứu tiền lâm sàng. THC và cannabidiol đều có thể gây ra quá trình apoptosis trong các dòng tế bào bạch cầu.

Tại hội nghị mùa hè hàng năm của Hiệp hội Nghiên cứu Cannabinoid Quốc tế được tổ chức tại Freiburg, Đức. 300 nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã thảo luận về những phát hiện mới nhất của họ, chỉ ra con đường phát triển các chiến lược điều trị mới cho bệnh ung thư và các bệnh thoái hóa khác. Những nhà nghiên cứu người Ý đã chỉ ra rằng CBD là chất “gây ra quá trình apoptosis hiệu quả nhất” trong bệnh ung thư tuyến tiền liệt, và tương tự cho ung thư ruột kết theo các nhà nghiên cứu người Anh tại Đại học Lancaster.

Trong cộng đồng khoa học y sinh, phát hiện về đặc tính chống lại khối u của những hợp chất cannabinoid ngày càng được công nhận là một bước tiến quan trọng trong điều trị ung thư.

Nguồn: Project CBD – CBD, THC & Cancer

Dịch giả: Thiên Minh

Bài viết được xem nhiều nhất