Kích thích mọc tóc với chiết xuất gai dầu giàu Cannabidiol (CBD)

Rụng tóc do nội tiết tố ở nam giới (AGA) là nguyên nhân phổ biến gây ra rụng tóc. Trên thị trường, có một số loại thuốc được FDA chấp thuận nhưng vẫn kết quả vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống endocannabinoid (ECS) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tế bào nang tóc.

Các thụ thể cannabinoid loại 1 (CB1) thể hiện vai trò khá quan trọng trong các tế bào nang tóc. Cannabidiol là một chất điều biến dị lập thể ngược của thụ thể CB1 và đã được chứng minh có tác dụng làm dài sợi tóc. 

Ngoài ra, các giai đoạn của chu kỳ nang tóc được kiểm soát bởi thụ thể ECS vanilloid-1 (TRPV1). CBD cũng đã được chứng minh trong việc làm tăng các đường truyền tín hiệu Wnt có liên quan đến sự biệt hóa của các tế bào tiền thân của da thành các nang tóc mới và duy trì giai đoạn anagen của chu kỳ tóc. 

Tác động của CBD đối với sự phát triển của tóc phụ thuộc vào liều lượng và liều cao hơn có thể dẫn đến việc bước sớm vào giai đoạn catagen thông qua một thụ thể được gọi là thụ thể vanilloid-4 (TRPV4). Tác dụng tại chỗ của CBD là tiếp cận tới các nang tóc, nơi mà nó đóng vai trò là chất điều biến ngược của CB1, và chất chủ vận của TRPV1 và TRPV4.

Một nghiên cứu đã được tiến hành trên 35 đối tượng với tình trạng AGA bằng cách sử dụng công thức dầu gai bôi tại chỗ với tần suất 1 lần mỗi ngày, trung bình khoảng 3-4 mg CBD mỗi ngày và một lượng nhỏ các cannabinoid khác trong sáu tháng.Thực hiện đếm số lượng tóc tại vùng rụng nhiều nhất và đếm lại sau sáu tháng.

Kết quả cho thấy tác dụng ở nam giới tốt hơn nữ giới và vùng đỉnh có tác dụng hơn vùng thái dương. Trung bình, có sự gia tăng về lượng tóc lên tới 93,5% ở mặt thống kê sau 6 tháng. Tất cả đối tượng tham gia đều ghi nhận có sự mọc lại của tóc. Không có tác dụng phụ nào được báo cáo. Vì CBD hoạt động thông qua các cơ chế mới khác với finasteride và minoxidil nên nó có thể được sử dụng kết hợp với các loại thuốc này và sẽ mang đến tác dụng hiệp đồng.

Nguồn: https://publications.sciences.ucf.edu/cannabis/index.php/Cannabis/article/view/78

Những kết quả nghiên cứu đầu tiên tại Cơ quan đăng ký cần sa y tế tại Anh Quốc

Kết quả lâm sàng của nhóm bệnh nhân đầu tiên được ghi nhận tại Cơ quan đăng ký Cần sa y tế Anh Quốc là rất đáng khích lệ.

Một trong những lập luận chống lại cần sa y tế là việc thiếu các bằng chứng thuyết phục để ủng hộ cho tác dụng của chúng. Điều này đang thay đổi một cách nhanh chóng, với hàng loạt các nghiên cứu đang được thực hiện trên khắp thế giới. Một trong những nguồn dữ liệu quan sát chất lượng và đáng tin cậy là sổ đăng ký khám chữa bệnh của những bệnh nhân.

Được khởi xướng đầu tiên bởi các bác sĩ tại Phòng khám Y tế Sapphire, Cơ quan đăng ký cần sa y tế Anh Quốc là cơ sở dữ liệu đầu tiên thuộc loại này tại Vương Quốc Anh. Nó được thiết kế để đối chiếu kết quả của việc kê đơn cần sa y tế. Dữ liệu mà cơ quan này thu thập bao gồm các phương thuốc được chỉ định, các tác dụng phụ ngoài ý muốn và các kết quả do bệnh nhân báo cáo. Dữ liệu ẩn danh này sẽ được cung cấp theo yêu cầu cho cộng đồng y tế để phân tích.

Sapphire cho biết Cơ quan đăng ký sẽ:

“.. sẽ đóng góp rất nhiều bằng chứng lâm sàng hữu ích trong khi đang chờ đợi những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Nó sẽ cung cấp nguồn tài nguyên vô giá để hướng dẫn chính sách y tế cho NHS và các hệ thống y tế khác”

Một nghiên cứu đã được công bố gần đây dựa trên kết quả lâm sàng của 129 bệnh nhân đầu tiên đăng ký cho Cơ quan này.

Kết quả có được là những cải thiện đáng tin cậy theo kết quả thống kê đối với tình trạng lo lắng, cơn đau, giấc ngủ và điểm đánh giá chất lượng cuộc sống nói chung ở các thời điểm từ 1 đến 3 tháng sau khi điều trị bằng cần sa y tế. Ngoài ra, nghiên cứu này còn chỉ ra các sản phẩm cần sa y tế (CBMP) tương đối an toàn trong ngắn hạn đến trung hạn.

“Chúng tôi rất vui khi thấy được bài báo đầu tiên về kết quả của bệnh nhân sử dụng cần sa y tế được bình duyệt kể từ khi chúng được hợp pháp hóa bằng giấy trắng mực đen, điều này cho thấy rằng những phương pháp điều trị này là an toàn và được dung nạp tốt ở nhóm bệnh nhân này” Bác sĩ Simon Erridge (Trưởng bộ phận nghiên cứu tại Phòng khám Y khoa Sapphire) cho biết.

Bài báo đã được công bố trên Tạp chí Neuropsychopharmacology Reports và có thể xem tại đây.

Nguồn: HempGazette

Cần sa y tế – Phương pháp điều trị tình trạng ngứa mãn tính

Một nghiên cứu thú vị của John Hopkins cho thấy cần sa y tế có thể giúp giảm tình trạng ngứa mãn tính một cách nhanh chóng đối với một số người.

Ngứa có thể gây ra sự khó chịu, nhưng thường thuyên giảm khi chúng ta gãi nhẹ. Tuy nhiên, một số trường hợp thì không may mắn vậy. Trong khi thuật ngữ “ngứa” chỉ đơn thuần có nghĩa là ngứa, nhưng ngứa mãn tính lại là tình trạng ngứa kéo dài hơn 6 tuần. Nó có thể xảy ra do bất kỳ nguyên nhân nào và thường được điều trị bằng các liệu pháp bôi tại chỗ khác nhau – bao gồm cả các loại thuốc nhóm steroid. 

Nhưng đôi khi những phương pháp này không mang đến hiệu quả, khiến bệnh nhân rơi vào tình trạng vô cùng khó chịu, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của họ.

Một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học tại Đại học Y khoa Johns Hopkins đã cung cấp một số bằng chứng cho thấy rằng cần sa y tế có thể giúp giảm đau một cách nhanh chóng cho các bệnh nhân.

Shawn Kwatra, M.D., phó giáo sư da liễu tại Đại học Y khoa Johns Hopkins và các đồng nghiệp của ông đã kiểm tra một người phụ nữ bị ngứa mãn tính, người đã mắc chứng bệnh này trong gần một thập kỷ. Các phương pháp điều trị thông thường khác nhau sau đó đã được áp dụng nhưng không mang lại hiệu quả.

Nhưng việc sử dụng cần sa bằng cách hút hoặc ở dạng lỏng đã giúp người phụ nữ này giảm đau một cách nhanh chóng – chỉ trong vòng 10 phút sau khi sử dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây không phải là một phương pháp điều trị chính thống và cần thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng.

Các nhà nghiên cứu tin rằng cannabinoid tetrahydrocannabinol (THC) có thể giúp làm giảm đau, nhưng vẫn cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn.

“Các nghiên cứu kiểm soát là cần thiết để xác định liều lượng, hiệu quả và độ an toàn của cần sa y tế trong việc điều trị các tình trạng ngứa khác nhau ở người và một khi chúng được thực hiện, chúng tôi sẽ hiểu rõ hơn những bệnh nhân nào sẽ nhận được lợi ích từ liệu pháp này”, Phó giáo sư Kwatra cho biết.

Báo cáo về những phát hiện của nhóm đã được xuất bản trên tạp chí JAMA Dermatology.

Đây không phải là lần đầu tiên chúng ta biết đến mối liên hệ giữa THC và những hiệu quả tích cực của nó đối với tình trạng ngứa mãn tính. Trở lại năm 2017, các nhà nghiên cứu tại Đại học Colorado Anschutz khoa Y đã kết luận rằng tetrahydrocannabinol có thể mang đến hiệu quả trong việc điều trị tình trạng này và khi được sử dụng dưới dạng kem, nó không mang đến tác dụng say rõ rệt nào.

Nguồn: Treatment of Chronic Pruritus With Medical Marijuana

Cập nhật về nền công nghiệp gai dầu tại Hoa Kỳ

Hội đồng công nghiệp gai dầu Quốc gia của Bắc Mỹ (NIHC) ước tính doanh thu của việc xuất khẩu gai dầu và các sản phẩm từ gai dầu của Hoa Kỳ đạt mức 1,8 tỷ đô la vào năm 2020, tăng từ 310 triệu đô la vào năm 2019.

Đó là một kết quả khá tích cực trước những thách thức liên quan đến đại dịch, diện tích canh tác giảm và một số quy định không chắc chắn đang diễn ra. Tổ chức này ước tính doanh thu toàn cầu về gai dầu công nghiệp và các sản phẩm có nguồn gốc từ gai dầu trị giá hơn 8,1 tỷ đô la vào năm 2020 – vì vậy Hoa Kỳ đóng góp một phần không nhỏ trong thị trường này.

Trưởng ban Kinh tế của NIHC – Beau Whitney cho biết diện tích được cấp phép ở Hoa Kỳ là 495.787 mẫu Anh vào năm 2020; giảm từ 511.442 mẫu Anh vào năm 2019 – nhưng con số này vẫn gấp gần 4 lần diện tích được cấp phép vào năm 2018. Mặc dù diện tích được cấp phép giảm đi, nhưng số lượng người canh tác được cho phép đã vượt quá 21.000; tăng hơn 27% so với 16.877 số lượng người được cấp phép vào năm 2019.

Cây gai dầu công nghiệp để sản xuất lấy hạt (ngũ cốc) có vẻ như sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong tương lai. Hiện chiếm khoảng 15% diện tích, tổ chức này dự báo rằng nhu cầu canh tác lấy hạt sẽ tiếp tục tăng và sẽ chiếm khoảng 65% diện tích canh tác vào năm 2030.

Đối với cây gai dầu được canh tác để lấy cannabidiol và các loại cannabinoid khác, hiện tại đang chiếm 82% diện tích so với năm ngoái và dự báo sẽ giảm mạnh xuống chỉ còn 2,8% vào năm 2030. Về gai dầu để lấy sợi, diện tích phân bổ vào năm 2020 ước tính là 5% và sẽ tăng lên 31,4% vào năm 2030.

Nhìn vào triển vọng xuất khẩu, NIHC dự đoán doanh thu cho việc xuất khẩu các sản phẩm từ gai dầu công nghiệp của Hoa Kỳ sẽ đạt mức hơn 21 tỷ USD vào năm 2026.

Tuy nhiên, vẫn còn có một số vấn đề có thể cản trở việc đạt được dự tính này.

NIHC cho biết: “Cơ hội xuất khẩu phụ thuộc vào sự chắc chắn của những quy định và Hoa Kỳ phải đối mặt với những thách thức về quy định trong lĩnh vực này”. “Một thách thức chính là sự định hướng chậm trễ của FDA Hoa Kỳ về cách nhìn nhận CBD trong thị trường thực phẩm, thực phẩm bổ sung và dinh dưỡng, bất chấp các cuộc thảo luận đang diễn ra giữa NIHC và FDA về tầm quan trọng của sự chắc chắn trong những quy định”.

Nguồn: HempGazette

Đau cơ xơ hóa và Cannabidiol (CBD)

Các nhà nghiên cứu tại Khoa Y Đại học Michigan đã khảo sát 878 bệnh gặp mắc chứng đau cơ xơ hóa đang sử dụng cannabidiol (CBD) để đánh giá lý do sử dụng của họ.

Đau cơ xơ hóa, ảnh hưởng đến hàng triệu người trên khắp thế giới, là một tình trạng mãn tính bao gồm các cơn đau lan rộng ở cơ và xương cùng với nhiều triệu chứng khác, khiến bệnh nhân cảm thấy khó chịu cho đến suy nhược. Mặc dù không có cách chữa trị hoàn toàn, nhưng các triệu chứng của tình trạng này đôi khi được kiểm soát bằng nhiều loại thuốc khác nhau, bao gồm cả các phương pháp điều trị điều trị bằng nhóm thuốc giảm đau opioid (sẽ mang đến các biến chứng cụ thể).

Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi có nhiều sự quan tâm đến việc sử dụng cần sa y tế – đặc biệt là cannabidiol (CBD) để mang đến lợi ích chống viêm.

Trong nghiên cứu này của Đại học Michigan, có đến 72% bệnh nhân được khảo sát sử dụng các sản phẩm từ CBD để thay thế cho thuốc, phổ biến nhất là thuốc chống viêm (NSAID, như ibuprofen, 59%), nhóm opioid (59%), nhóm gabapentanoid (35%) và benzodiazepine (23.1%).

Cụ thể, kết quả cho thấy rằng hầu hết các bệnh nhân đã thay thế các loại thuốc giảm đau này hoặc ngừng sử dụng hoàn toàn; và họ nhận thấy được nhiều sự cải thiện đáng kể hơn những người không thay thế. Những lý do phổ biến nhất khiến họ sử dụng các sản phẩm thay thế bao gồm ít tác dụng phụ hơn và có thể kiểm soát tốt hơn các triệu chứng.

Các nhà nghiên cứu nói rằng: “Việc thay thế rộng rãi một cách tự nhiên các loại thuốc giảm đau cho thấy sự cần thiết của những nghiên cứu sâu hơn và nghiêm túc hơn để đánh giá tác dụng này”.

Bài nghiên cứu đã được công bố vào tháng trước trên tạp chí “The Journal of Pain”.

Kết quả của cuộc khảo sát từ năm ngoái liên quan đến 2.701 người tham gia với tình trạng đau cơ xơ hóa cho thấy 38,1% số người không sử dụng CBD, 29,4% đã sử dụng CBD trong quá khứ và 32,4% đang sử dụng CBD vào thời điểm hiện tại – để nói lên tình trạng phổ biến của CBD, đặc biệt là ở Hoa Kỳ – nơi mọi người có thể dễ dàng tiếp cận đến CBD.

Một nghiên cứu tại Israel năm 2019 trên hàng trăm bệnh nhân đau cơ xơ hóa cho thấy việc sử dụng cần sa có mang đến hiệu quả tích cực và sự an toàn trong việc kiểm soát tình trạng bệnh.

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), đau cơ xơ hóa ảnh hưởng đến khoảng 4 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ, chiếm xấp xỉ 2% dân số trưởng thành. Những người bị đau cơ xơ hóa có nguy cơ nhập viện cao gấp đôi so với người không mắc tình trạng này. Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân cụ thể dẫn đến đau cơ xơ hóa. Hầu hết được chẩn đoán ở độ tuổi trung niên và tỷ lệ mắc đau cơ xơ hóa tăng lên theo độ tuổi.

Nguồn: HempGazette

Những tác dụng tích cực của cần sa y tế trong ngắn hạn

Một khảo sát nhỏ tại Canada đã phát hiện ra rằng phần lớn người tham gia đã đạt được những lợi ích tích cực từ cần sa y tế đối với một số tình trạng nhất định sau 6 tuần sử dụng.

Được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học British Columbia, cuộc khảo sát bao gồm 214 bệnh nhân chủ yếu là nam giới, đa số trên 50 tuổi. Trong số bệnh nhân này, các tình trạng của họ thường là: 

  • Cơn đau tái phát
  • PTSD (Rối loạn căng thẳng sau sang chấn)
  • Lo lắng
  • Rối loạn giấc ngủ
  • Viêm khớp và các tình trạng thấp khớp khác

Nhìn chung, hơn 60% nói rằng các tình trạng của họ đã được cải thiện sau khi dùng cần sa y tế.

Những cải thiện đáng kể được tìm thấy liên quan đến cơn đau tái phát, PTSD và rối loạn giấc ngủ sau 6 tuần sử dụng cần sa y tế. Tuy nhiên, những kết quả liên quan đến viêm khớp và các tình trạng thấp khớp khác được mô tả là “phức tạp”.

Các nhà nghiên cứu nêu rõ: “Mặc dù những kết quả này cho thấy bệnh nhân nhận được những kết quả tích cực cho nhiều tình trạng y tế với việc điều trị bằng cần sa, nhưng cần sa không phải là phương pháp điều trị cho tất cả các tình trạng đang được nghiên cứu”, cần thêm những nghiên cứu lâm sàng trong tương lai để hỗ trợ cho những kết quả này.

Họ cũng chỉ ra rằng mặc dù “bằng chứng thực tế trong đời sống” chưa được các cơ quan quản lý tận dụng, nhưng những thay đổi trong chính sách công về cần sa nên được cân nhắc để phản ánh và đánh giá được hiệu quả của nó từ các bệnh nhân trong các nghiên cứu tương tự như vậy, và đây cũng là một trong những cách tốt nhất để cần sa y tế được hợp thức hóa.

Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Front Public Health và có thể xem thêm thông tin chi tiết của nó tại đây

Việc sử dụng cần sa cho mục đích y tế đã được cấp phép tại Canada kể từ năm 2001. Vào tháng 10 năm 2018, việc sử dụng cần sa giải trí đối với người trưởng thành cũng đã được hợp pháp hóa – và hoạt động kinh doanh cần sa tại Canada cũng đang bùng nổ.

Theo chính phủ Canada, có tới 11.598.518 đơn vị cần sa được đóng gói cho mục đích y tế và phi y tế đã được bán trên toàn quốc gia, theo kỳ báo cáo tháng 3 năm 2021. Cần sa khô chiếm 64% tổng doanh số (đơn vị), cần sa dạng ăn 20% và dạng chiết xuất 17%.

Trong khi cần sa tương đối dễ mua một cách hợp pháp tại Canada cho các mục đích y tế hoặc giải trí, nhưng đâu đó vẫn còn tồn tại một số chợ đen bất hợp pháp, một điều đáng lo ngại cho sức khỏe của người dùng. Gần đây, chúng tôi đã đề cập với Bộ trưởng Bộ An ninh Công cộng của British Columbia rằng việc thử nghiệm các sản phẩm cần sa được thu giữ từ các nhà bán lẻ bất hợp pháp tại B.C đã tìm thấy nhiều mẫu chứa chất gây ô nhiễm không được phép sử dụng trong thị trường cần sa hợp pháp của quốc gia.

Nguồn: HempGazette

Chương trình hỗ trợ nghiên cứu cho gai dầu tại Pennsylvania

Ba dự án liên quan đến cây gai dầu đã được chấp thuận trong “Khoản tài trợ cho ngành cây trồng” tại Pennsylvania.

Các khoản tài trợ đã được cấp cho các loại cây trồng đặc biệt với ưu tiên cao nhưng không đủ điều kiện nhận được tài trợ từ Liên bang Hoa Kỳ.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Russell Redding cho biết: “Tăng khả năng tiếp cận thị trường và khả năng cạnh tranh có nghĩa là đầu tư vào các giống cây trồng có tiềm năng tăng trưởng cao nhưng có thể bị lãng quên” 

Gai dầu chắc chắn đủ tiêu chuẩn để trở thành một trong những giống cây trồng đó – và thật may mắn khi lãnh đạo của tiểu bang cũng đang nhận ra điều này.

Đại học Franklin & Marshall, quận Lancaster đã nhận được một khoản 35.588 đô để thiết lập đánh giá toàn diện về áp lực của mầm bệnh oomycete lên cây gai dầu. Oomycete, đôi khi còn được gọi là nấm mốc nước, giống như nấm; nhưng thật ra là không phải. Đó là một nhóm gồm vài trăm sinh vật bao gồm các mầm bệnh như sương mai. Chúng ta cần phân biệt rõ với bệnh phấn trắng (một loại nấm). Bệnh sương mai đã được ghi nhận lần đầu tiên trên cây gai dầu tại biên giới với Canada vào năm ngoái.

Vì bào tử sương mai có thể sinh sôi nhờ gió, chúng có thể di chuyển đến hàng trăm kilomet. Mặc dù được cho là có ảnh hưởng đến lá nhưng vẫn chưa xác định rõ tác hại có thể gây ra đối với hoa hoặc hạt, ngoài việc ảnh hưởng đến năng suất – vì thế cần phải có thêm nhiều nghiên cứu vì nó có thể gây ra mối đe dọa đáng kể cho ngành công nghiệp này.

Đại học Pennsylvania, quận Trung tâm đã nhận được khoản tài trợ 126.730 đô, khoản tiền này sẽ được sử dụng để tối ưu hóa việc lựa chọn kiểu gen và thực hành quản lý cây trồng tại tiểu bang này.

Đại học Alvernia, quận Berks đang nhận được một khoản 32.095 đô để tiến hành đánh giá môi trường sinh sống tối ưu cho hạt giống gai dầu công nghiệp. Các nhà nghiên cứu sẽ thu thập dữ liệu về khả năng tăng trưởng và chuỗi cung ứng.

Gai dầu là một loại cây trồng quan trọng ở Pennsylvania trước khi bị cấm, và đến năm 2017 gai dầu đã có thể được trồng một cách hợp pháp tại bang này sau bảy thập kỷ cấm đoán. Trong năm đầu tiên đó, chỉ có 14 giấy phép nghiên cứu về gai dầu được cấp và 36 mẫu Anh được trồng. Năm ngoái, đã có đến 500 điểm canh tác và 60 nhà sản xuất đã được cấp phép trên toàn tiểu bang. Năm nay, đã có 426 giấy phép canh tác (bao gồm 9 giấy phép nghiên cứu) được cấp cộng với 64 giấy phép chế biến và sản xuất (bao gồm 2 giấy phép nghiên cứu).

Tại Pennsylvania, gai dầu có thể được canh tác để làm thực phẩm, chế biến sợi và mục đích y tế.

Nguồn: HempGazette

Tiềm năng của CBD và CBN trong việc hỗ trợ giấc ngủ?

Charlotte’s Web Holdings đang tiến hành hợp tác với Đại học Colorado-Boulder để đánh giá về khả năng cải thiện chất lượng giấc ngủ với hai loại cannabinoid này.

Ngày nay, chắc hẳn mọi người đều đã rất quen thuộc với cái tên CBD, nhưng nó chỉ là một trong số cannabinoid có trong cần sa. Một loại cannabinoid khác là CBN – cannabinol, chỉ có thể tìm thấy được một hàm lượng rất ít trong loài thực vật này.

Charlotte’s Web cho biết mặc dù có một số bằng chứng truyền miệng về việc CBN có thể hỗ trợ cho một giấc ngủ ngon, nhưng có rất ít bằng chứng lâm sàng hoặc tiền lâm sàng được chứng minh để củng cố cho những lời nói này.

Đội ngũ phòng thí nghiệm CW Labs của Charlotte’s Web đang hợp tác với Trung tâm nghiên cứu REACH (Research and Education Addressing Cannabis and Health) của Đại học Colorado-Boulder để nghiên cứu về các công thức từ chiết xuất gai dầu toàn phần có chứa CBN (cannabinol) và CBD (cannabidiol) để đánh giá những tác động của chúng đối với tình trạng lo lắng và chất lượng giấc ngủ. Các công thức này đều chứa ít hơn 0,3% THC.

Monika Fleshner – Giáo sư tiến sĩ Sinh lý học tại Đại học Colorado-Boulder và là một thành viên của Khoa Khoa học Thần kinh tại trường đại học này sẽ là trưởng nhóm dự án, và nghiên cứu sẽ được tiến hành tại phòng thí nghiệm Sinh lý học của bà.

Giáo sư Fleshner cho biết: “Với sự hỗ trợ từ REACH và Charlotte’s Web, nghiên cứu của chúng tôi sẽ đánh giá về cả hiệu quả lẫn cơ chế của những chất này có thể ảnh hưởng đến những hành vi phức tạp qua trung gian não, chẳng hạn như rối loạn giấc ngủ”.

Charlotte’s Web là một thương hiệu CBD nổi tiếng ở Hoa Kỳ, nhưng trong trường hợp không biết đến nó, bạn có thể sẽ thắc mắc về cái tên này.

Quay lại năm 2011, Stanley Brothers đã phát triển hệ gen cây gai dầu độc quyền để trở thành nền tảng cho những sản phẩm của họ. Năm 2012, Paige Figi đang tìm kiếm các sản phẩm không gây say để điều trị cho cô con gái 5 tuổi Charlotte của mình, bé bị co giật kèm theo hội chứng Dravet – một dạng động kinh nghiêm trọng. Các cơn co giật đã giảm đi từ lần sử dụng đầu tiên của cô bé và cuối cùng giảm từ 300 cơn một tuần – ngày cả khi sử dụng các loại thuốc điều trị khác – xuống còn hai đến ba cơn một tuần.

Tình trạng của Charlotte đã trở thành một tiêu điểm chú ý kể từ khi phóng viên y khoa trưởng, Bác sĩ Sanjay Gupta gặp gỡ gia đình – đó là một trong những nguyên nhân khiến Bác sĩ Gupta thay đổi quan điểm về cần sa y tế.

 

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: HempGazette

Những giá trị tiềm năng của gai dầu trong nền công nghiệp mỹ phẩm

Cơ quan của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ đang tiến hành hợp tác với một công ty có trụ sở tại Illinois để mở rộng thị trường tiềm năng cho các sản phẩm làm từ hạt gai dầu.

Thỏa thuận hợp tác nghiên cứu và phát triển này giữa các nhà khoa học của Cơ quan Dịch vụ Nghiên cứu Nông nghiệp (ARS) và Trung tâm xử lý Sinh học vùng Midwest sẽ tập trung vào một quy trình đã được cấp bằng sáng chế có tên gọi là xúc tác sinh học. Quá trình này có liên quan đến việc sử dụng các enzyme và nhiệt thay vì hóa chất để xúc tác các phản ứng liên kết của các chất chống oxy hóa tự nhiên như axit ferulic với lipid trong dầu thực vật.

Được sử dụng để tạo ra một loại hợp chất feruloyl soy glyceride (FSG) từ dầu đậu nành đã được cấp phép và thương mại hóa, quy trình này sẽ được áp dụng tương tự trong việc tạo ra các thành phần từ axit ferulic từ dầu hạt gai dầu được xúc tác sinh học.

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cho biết: “Ngày nay, dầu hạt gai dầu được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm có chứa cannabidiol vì những lợi ích sức khỏe mà nó có thể mang đến”. “Tuy nhiên, tương tự như dầu đậu nành hay dầu bắp, dầu từ cây gai dầu cũng có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng, axit béo (bao gồm cả axit béo omega-3) và các hợp chất có hoạt tính sinh học có thể được chuyển hóa thành những dạng chất đặc biệt có mang những tính năng mới hữu dụng”.

Dầu hạt gai dầu được xúc tác sinh học này sẽ được sử dụng để sản xuất “mỹ phẩm” với những tác dụng cụ thể như giữ ẩm hoặc chống tia cực tím.

Ngoài mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân, các nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Nông nghiệp Quốc gia (NCAUR) cũng đang tiến hành nghiên cứu những con đường tốt hơn để biến cây gai dầu thành nhiên liệu, chất bôi trơn và chất kết dính, thành phần trong các thực phẩm chức năng và các sản phẩm từ sợi.

Dầu hạt gai dầu cũng mang giá trị dinh dưỡng cao, các chiết xuất từ hạt gai dầu ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong mỹ phẩm, và các sản phẩm chăm sóc da và cá nhân khác – mọi thứ từ xà phòng cho đến thuốc xịt tóc.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: HempGazette – USDA Agency Exploring Hemp “Cosmeceuticals”

Hiệu quả của các sản phẩm từ cần sa so với nhãn công bố

Một nghiên cứu về hiệu quả của các sản phẩm từ cần sa

MedPharm – một công ty về cần sa y tế tại Hoa Kỳ đã được trao một khoản tài trợ nghiên cứu để đánh giá về hiệu quả của cần sa trên các nhãn được công bố.

Cuộc nghiên cứu kéo dài 3 năm này do bang Colorado tài trợ sẽ đi sâu vào những xu hướng về tính nhất quán giữa các phòng thí nghiệm, thời hạn sử dụng và độ chính xác của nhãn sản phẩm được công bố.

“Công việc đề xuất sẽ cho phép so sánh trực tiếp hàm lượng thành phần với nhãn sản phẩm, để định lượng độc lập bất kỳ sai lệch hệ thống nào có thể tồn tại giữa các loại sản phẩm hoặc các cơ sở thử nghiệm”, Giám đốc phòng hóa của MedPharm, Dr. Tyrell Towle cho biết.

Cũng như giúp thông báo cho các cơ quan quản lý về bất kỳ vấn đề tiềm ẩn nào và giúp nâng cao các chính sách và thủ tục để thử nghiệm và định lượng, các kết quả cũng sẽ khiến các nhà khoa học và các bệnh nhân quan tâm – chúng sẽ được công bố một cách công khai.

Đây là một dự án lớn có liên quan đến 480 sản phẩm cần sa được lựa chọn một cách ngẫu nhiên và được mua từ những cơ sở bán lẻ được cấp phép tại tiểu bang. Nó cũng là sự hợp tác với một trường đại học tại Colorado.

Dr. Towle nói rằng trước đây không có một nghiên cứu nào kiểm tra một cách có hệ thống toàn bộ các sản phẩm cần sa được bán ra trong thị trường bán lẻ ở Colorado.

Thị trường cần sa y tế tại Colorado là rất lớn, thu về khoảng 40,3 triệu đô la vào tháng ba năm nay. Nhưng nó bị cản trở bởi doanh số bán lẻ cần sa (đạt 166,7 triệu đô trong cùng tháng). Doanh số bắt đầu từ năm 2014 đến nay của cả 2 thị trường này đã vượt qua con số 10,5 tỷ đô.

MedPharm có nhà máy sản xuất, phòng R&D và cơ sở xử lý cần sa rộng khoảng 1.400 mét vuông tại Denver, Colorado và là đơn vị đầu tiên nhận được giấy phép nghiên cứu về cần sa tại tiểu bang.

Đã có một số nghiên cứu khác ở Hoa Kỳ đã nghiên cứu về các nhãn công bố liên quan đến hiệu quả, bao gồm cả nghiên cứu của FDA Hoa Kỳ, cho thấy một số lượng lớn các sản phẩm được kiểm tra có chứa CBD nhiều hơn hoặc ít hơn rất nhiều so với nhãn công bố. Một nghiên cứu tại Anh vào năm 2019 cũng cho thấy tình trạng tương tự.

Chúng ta cần phải rất thận trọng trong việc lựa chọn các sản phẩm cần sa y tế, nên mua tại các cơ sở uy tín và có chứng nhận hợp pháp.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: HempGazette – Another Study To Examine Cannabis Product Potency

Bài viết được xem nhiều nhất