Hiệu quả của CBD trong việc làm giảm tình trạng ảo giác của bệnh Parkinson

Một thử nghiệm lâm sàng mới tại Đại học King’s College London đang đánh giá mức độ hiệu quả của cannabidiol (CBD) trong việc điều trị một triệu chứng của Bệnh Parkinson (PD) được gọi là chứng loạn thần liên quan đến Parkinson.

Hiện tại, có khoảng 145.000 người Anh đang phải sống chung với căn bệnh Parkinson. Chứng loạn thần liên quan đến Parkinson có thể tạo ra những ảo giác sợ hãi, được cho là có ảnh hưởng đến 60% người mắc chứng bệnh này. Nó liên quan nhiều đến việc giảm chất lượng cuộc sống của cả bệnh nhân lẫn người chăm sóc, và cuối cùng có thể khiến bệnh nhân phải nhập viện cả đời.

Trong một bài báo trên Tạp chí BMJ, chứng loạn thần ở người mắc PD thường gặp ở giai đoạn muộn. Họ nói rằng: “các triệu chứng bao gồm những ảo giác tương đối không đáng kể, những giấc mơ sống động và đôi khi là ảo ảnh thị giác và hoang tưởng”.

Hiện không có phương pháp điều trị cụ thể nào được chấp thuận tại Anh cho những người mắc chứng loạn thần liên quan đến bệnh Parkinson.

Thử nghiệm giai đoạn 2 này là thử nghiệm quy mô lớn đầu tiên nhằm “cung cấp bằng chứng tổng quan về những lợi ích tiềm năng và tính an toàn của CBD để làm giảm các triệu chứng loạn thần liên quan đến bệnh Parkinson, đặc trưng bởi tình trạng ảo giác và hoang tưởng”, và được tài trợ bởi tổ chức Từ thiện Parkinson Vương Anh Quốc.

Nghiên cứu bắt đầu với một thí điểm sáu tuần để đánh giá tính an toàn, khả năng dung nạp và hiệu quả của CBD dược phẩm. Giai đoạn hai là một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với nhóm giả dược kéo dài 12 tuần và gồm có 120 người tham gia dùng một hàm lượng CBD cụ thể bằng viên uống, có thể lên đến 1000 mg mỗi ngày.

Nhóm nghiên cứu do Giáo sư Sagnik Bhattacharyya từ Viện Tâm thần, Tâm lý và Khoa học thần kinh dẫn đầu, sẽ đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả của CBD thông qua những đánh giá chi tiết về các triệu chứng loạn thần, vận động và không vận động, cùng với hình ảnh não đồ.

Giáo sư Bhattacharyya cho biết “Thử nghiệm lâm sàng này sẽ là thử nghiệm đầu tiên xác định liệu CBD có thể điều chỉnh hoạt động bất thường của não đang gây ra các triệu chứng như ảo giác và hoang tưởng hay không. Các phương pháp điều trị hiện tại do các bác sĩ lâm sàng kê đơn cho chứng loạn thần thường hoạt động bằng cách ngăn chặn các thụ thể dopamine làm tăng các vấn đề vận động của người mắc Parkinson và các triệu chứng khác của tình trạng này”.

Tiến sĩ Arthur Roach, Giám đốc Nghiên cứu của Hiệp hội Parkinson Vương Quốc Anh nói rằng “Chúng tôi hy vọng thử nghiệm này sẽ có thể chứng minh được tiềm năng của CBD trong việc làm giảm các triệu chứng và tiến gần hơn một bước đến phương pháp điều trị có hiệu quả tích cực đến chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân mắc Parkinson”.

Nguồn: Leafie

Nghiên cứu: Kiểm soát bệnh động kinh ở trẻ em với chiết xuất cần sa y tế

Một nghiên cứu của Đại học Imperial College London trong việc đánh giá tác dụng của chiết xuất cần sa y tế toàn phần trong tình trạng động kinh kháng trị nghiêm trọng ở trẻ em đã cho ra kết quả rất khả quan.

Việc sử dụng cần sa y tế để kiểm soát các cơn co giật ở bệnh nhi không phải là điều gì mới mẻ – rõ ràng nó đã được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1843 bởi một bác sĩ người Ireland – người đã quan sát thấy cồn thuốc cần sa đã làm ngừng cơn co giật ở trẻ sơ sinh bị sốt co giật.

Trong những năm gần đây, các chiết xuất này đã được sử dụng rộng rãi hơn rất nhiều – và ngày càng có nhiều bằng chứng về hiệu quả tiềm năng của chúng.

Trong nghiên cứu mới nhất này, một nhóm gồm 10 bệnh nhi tại Anh mắc chứng động kinh khó điều trị đã được phân tích để xác định tính khả thi của việc sử dụng cần sa y tế toàn phần. Những bệnh nhi này được điều trị bằng nhiều loại dầu khác nhau, với liều lượng cụ thể do các bác sĩ lâm sàng chỉ định.

Các nhà nghiên cứu đã xác định tần suất co giật trên tất cả 10 bệnh nhi tham gia giảm đến 86% – và quan trọng hơn là không có tác dụng phụ nào được ghi nhận. Hơn nữa, những bệnh nhi này đã giảm việc sử dụng thuốc động kinh xuống từ 7 còn 1 bệnh nhi sau khi sử dụng phương pháp điều trị này.

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Những phát hiện này đã chứng minh được giá trị tiềm năng của việc nghiên cứu chuyên sâu hơn về lợi ích điều trị từ các sản phẩm cần sa y tế toàn phần”.

Những phương thuốc liên quan chủ yếu là từ chiết xuất CBD (cannabidiol):

Bedrolite (<1% THC và 9% CBD)

Bedica (14% THC và <1% CBD)

Celixir 20 (<1% THC và 20% CBD)

Sweet Pink CBD (<1% THC và 10.6% CBD)

Althea 100 (<1% THC và 10% CBD).

Bệnh nhân sử dụng trung bình 5,15 (±6,8) mg THC và 171,8 (±153,3) mg CBD mỗi ngày.

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Phát hiện của chúng tôi tương tự với kết quả của một số nghiên cứu quan sát và sử dụng chiết xuất này một cách có kiểm soát, cho thấy tần suất co giật giảm đáng kể sau khi điều trị bằng cần sa y tế”. “Hơn nữa, dữ liệu của chúng tôi cho thấy rằng các sản phẩm cần sa y tế toàn phần tốt hơn các sản phẩm chiết xuất CBD đơn lẻ ở những bệnh nhi này”.

Đã có nhiều bài viết về “Hiệu ứng cộng hưởng” – khái niệm về hiệu quả điều trị bằng cần sa y tế không chỉ giới hạn ở một loại cannabinoid cụ thể như THC hay CBD, mà là kết hợp nhiều hợp chất hoạt động cùng nhau.

Nghiên cứu này đã được công bố trên Tạp chí BMJ Paediatrics Open và bạn có thể xem chi tiết tại đây.

Nguồn: Hemp Gazette

Sử dụng cần sa y tế ở những bệnh nhân mắc ung thư vú

Dường như có nhiều bệnh nhân ung thư vú đang sử dụng cần sa y tế trong quá trình điều trị – nhưng không có sự nhận biết của bác sĩ.

Kết quả của một nghiên cứu trên tổng số 612 người tham gia được công bố trên Tạp chí CANCER của Hiệp hội Ung Thư Hoa Kỳ cho thấy rằng có đến 42% người tham gia có sử dụng cần sa để làm giảm các triệu chứng. Trong số này, có đến 75% người nói rằng nó “cực kỳ” hoặc “rất” hữu ích trong việc làm giảm các triệu chứng của họ.

Cần sa được sử dụng phổ biến nhất trong quá trình điều trị bằng các hoạt chất để kiểm soát các triệu chứng và những tác dụng phụ thông thường như đau (78%), lo lắng (57%), mất ngủ (70%) và buồn nôn/mửa (46%).

Khoảng một nửa người tham gia có sử dụng cần sa tin rằng nó có thể điều trị được bệnh ung thư, mặc dù vẫn chưa có nhiều bằng chứng khoa học chắc chắn về điều này.

Một điều khá đáng tiếc là hầu hết những bệnh không không trao đổi với bác sĩ của họ về việc sử dụng cần sa. Thay vào đó, nguồn thông tin phổ biến nhất là internet và gia đình/bạn bè. Nhưng hầu hết họ đều không hài lòng với những thông tin nhận được từ những nguồn này.

Tác giả chính của nghiên cứu này, Bác sĩ Marisa Weiss của trang Breastcancer.org và Trung tâm Y tế Lankenau, cho biết rằng việc không biết liệu bệnh nhân ung thư có sử dụng cần sa hay không là một “điểm mù lớn” trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc tối ưu và cá nhân hóa của các bác sĩ.

Bác sĩ Weiss nói rằng “Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng đây cũng là một cơ hội quan trọng để những bác sĩ có thể chia sẻ, trao đổi về cần sa y tế với bệnh nhân của họ, vì có nhiều bệnh nhân đang sử dụng cần sa y tế mà không có sự nhận biết hay hướng dẫn từ bác sĩ”.

Sử dụng cần sa trong quá trình điều trị ung thư có nguy cơ xảy ra các tác dụng phụ vì thời điểm này cơ thể rất dễ bị tổn thương. Vì thế cần đảm bảo trao đổi về việc sử dụng nó như một liệu pháp hỗ trợ, không được xem nhẹ, bỏ qua và phủ nhận. 

Nguồn: HempGazette

Kết quả khảo sát: Sử dụng CBD ở trẻ mắc chứng tự kỷ

Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy 18,6% số người chăm sóc trẻ tự kỷ đang sử dụng liệu pháp cannabidiol (CBD).

Một khảo sát từ Tạp chí Nuôi dạy trẻ tự kỷ được gửi tới hơn 160,000 email đăng ký trên khắp thế giới cho thấy rằng có 22,6% người chăm sóc trẻ tự kỷ với cannabidiol tại Hoa Kỳ, trong khi con số này ở Anh Quốc là 14,29%. Đối với các quốc gia khác (nằm trong danh mục “các nước còn lại”), con số này là 15,45%.

Những lý do chính khi quyết định sử dụng CBD:

42,9%: giảm lo lắng

36,9%: giải quyết hành vi thách đố

5,1%: giảm đau và viêm

8,1%: hỗ trợ giấc ngủ và thư giãn

4,3%: co giật

Những dạng dùng chính từ CBD là dầu ở dạng giọt uống và dạng xịt tại chỗ (60,8%), dạng kẹo ăn và dạng bôi (21,5%), viên nang hoặc viên nén (7,5%), kem dưỡng hoặc sáp dưỡng (5,1%) và các sản phẩm vaping (1,9%). 

CBD vẫn được kiểm soát một cách chặt chẽ tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng ở một số quốc gia khác, nó có thể được tiếp cận một cách dễ dàng mà không cần đến kê đơn từ bác sĩ. Cuộc khảo sát cho thấy chỉ có 20,1% số người là có đơn kê từ bác sĩ để sử dụng CBD – phần còn lại là những người thuộc khu vực đã được cấp phép sử dụng một cách tự do và không được cấp phép. 

Đối với tần suất sử dụng, có 46,4% số người sử dụng nó “hàng ngày”, 28,6% ở mức “chỉ khi cần thiết”, 3,6% với tần suất “hàng tuần” và những người tham gia còn lại đưa ra câu trả lời khác – bao gồm những người không còn sử dụng hoặc sử dụng không thường xuyên.

Khi được hỏi liệu rằng những người tham gia khảo sát có sẵn sàng giới thiệu CBD cho các bậc phụ huynh có con mắc chứng tự kỷ không, thì có đến 82,9% người tham gia trả lời là có.

Mặc dù Tạp chí cho biết những kết quả ban đầu về tác động của CBD đối với trẻ tự kỷ là rất đáng khích lệ, nhưng họ cũng nói rằng những người chăm sóc nên tiếp cận với bất kỳ phương pháp điều trị nào bằng sự thận trọng và đặc biệt là nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi bắt đầu sử dụng CBD cho trẻ. Một điểm quan trọng cũng được trình bày trong báo cáo của khảo sát rằng các hoạt chất như CBD đang giúp điều trị các triệu chứng hơn là nguyên nhân gốc rễ của vấn đề; vì thế những phương pháp khác như Liệu pháp phân tích hành vi (ABA) vẫn được xem là một công cụ quan trọng.

Nguồn: Hempgazette

Vì sao cần sa được xem là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh Amyloidosis?

Vì sao cần sa được xem là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh Amyloidosis?

THC giúp ngăn cản sự hình thành các mảng bám amyloid. Cần sa và các phương pháp điều trị bệnh amyloidosis cản trở sự kết hợp của peptit B-amyloid. Các cannabinoid trong cây cần sa có đặc tính điều hòa miễn dịch, có thể giúp chữa các bệnh viêm thần kinh. THC trong cần sa y tế ngăn chặn các phản ứng miễn dịch qua các phản ứng của tế bào trung gian. Loại cannabinoid này là một chất giảm đau và bảo vệ thần kinh. CBD có trong cần sa y tế giúp làm giảm lo lắng, tình trạng viêm và cảm giác buồn nôn.

Cần sa y tế trong điều trị amyloidosis hoạt động như một phương pháp điều trị chống nôn hiệu quả – giảm cảm giác buồn nôn và nôn mửa. Trên thực tế, nó thậm chí còn hiệu quả hơn nhiều loại dược phẩm và không có tác dụng phụ như những loại thuốc này. Hóa trị được xem là một trong những phương pháp điều trị đầu tiên đối với bệnh amyloidosis và hầu như lúc nào cũng gây buồn nôn và nôn mửa.

Những tác dụng phụ và triệu chứng của bệnh amyloidosis có thể điều trị bằng cần sa y tế?

Cần sa y tế có thể giúp điều trị các triệu chứng sau của bệnh amyloidosis:

  • Buồn nôn (do hóa trị): Cần sa được xem là lựa chọn số 1 của nhiều bệnh nhân ung thư để giảm đau và các tác dụng phụ liên quan đến hóa trị như buồn nôn. Rất nhiều bệnh nhân đã dập tắt cơn buồn nôn của họ chỉ với một vài điếu cần sa. Và những bệnh nhân thử sử dụng cần sa y tế lần đầu thường rất ngạc nhiên về hiệu quả của nó.
  • Hội chứng gầy sút hoặc giảm cân đáng kể một cách không chủ ý: Sử dụng cần sa có thể tăng cảm giác thèm ăn và khi ăn không mang đến cảm giác buồn nôn, giúp chống lại sự tiêu giảm cơ bắp và sụt cân.
  • Đau, tê và ngứa ran ở bàn chân hoặc bàn tay: Cần sa y tế cũng có thể mang đến hiệu quả trong việc điều trị tình trạng viêm hay cơn đau do viêm nhờ vào hợp chất cannabinoid THC và CBD có trong cần sa. Loài thực vật này cũng chứa beta-caryophyllene, hoạt động trên các thụ thể CBD trong cơ thể.
  • Suy nhược và mệt mỏi: Sử dụng một số chủng cần sa sativa có thể cung cấp năng lượng cho cơ thể, giảm cảm giác mệt mỏi và suy nhược.
  • Trầm cảm và lo lắng: Đặc tính chống nôn của cần sa cũng giúp làm giảm tình trạng trầm cảm và các triệu chứng khác đối với những bệnh nhân này. Mặc dù các loại thuốc chống nôn thông thường rất phổ biến nhưng chúng dường như không hoạt động tốt như cần sa.

Cần sa y tế có thể điều trị bệnh amyloidosis theo nhiều cách khác nhau, tất cả đều rất có lợi cho các bệnh nhân mắc phải bệnh này. Cần sa đóng vai trò như một chất chống viêm và có thể giúp làm giảm tình trạng sưng tấy trong cơ thể.

Cần sa cũng rất tốt trong khả năng làm giảm tình trạng buồn nôn kéo dài. Những phương thuốc truyền thống, chủ yếu sử dụng thuốc nhóm opioid, có thể gây ra các tác dụng phụ khó lường. Cần sa với hàm lượng CBD cao được chứng minh là khả năng giảm đau, viêm, co thắt dạ dày, buồn nôn, lo lắng và viêm khớp.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Marijuanadoctor – Medical Cannabis & Amyloidosis

Kết hợp sử dụng cần sa cùng thuốc nhóm opioid trong điều trị cơn đau

Đối với những bệnh nhân bị đau mãn tính, giải pháp thường là các loại thuốc giảm đau kê đơn nhóm opioid. Việc kê đơn quá mức này là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau hiện nay. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), có hơn 130 người chết mỗi ngày do sử dụng quá liều thuốc giảm đau nhóm opioid. Chính những con số đáng lo ngại và những mất mát này đã khiến ngành y tế và ngành công nghiệp cần sa đang nỗ lực để kết hợp thuốc giảm đau và các loại cannabinoid để mang lại hiệu quả tốt nhất và an toàn nhất.

Một nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Khoa Khoa học Hành vi tại Đại học Kentucky, đã nghiên cứu về các hệ thống thụ thể opioid và cannabinoid nội sinh tự nhiên trong cơ thể con người. Chúng được phân bố rộng rãi và khu trú khắp các hệ thần kinh trung ương và ngoại vi. Các nghiên cứu trước đây cho rằng có một mối quan hệ giữa các hệ thống này và chúng có thể mang đến nhiều lợi ích cho ngành y học. VìMột nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Khoa Khoa học Hành vi tại Đại học Kentucky, đã nghiên cứu về các hệ thống thụ thể opioid và cannabinoid nội sinh tự nhiên trong cơ thể con người. Chúng được phân bố rộng rãi và khu trú khắp các hệ thần kinh trung ương và ngoại vi. Các nghiên cứu trước đây cho rằng có một mối quan hệ giữa các hệ thống này và chúng có thể mang đến nhiều lợi ích cho ngành y học. Vì các nghiên cứu trên mô hình động vật đã cho thấy rằng THC có thể tăng cường tác dụng giảm đau của các loại thuốc nhóm opioid và được đề xuất để thay thế cho nhóm thuốc này. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu chuyên sâu và lặp lại rộng rãi để có thể đánh giá được sự hiệu quả của phương pháp này.

Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Marijuanadoctor – Utilizing Cannabis and Opioids Together for Pain Relief

Cần sa và chứng đau cơ xơ hóa

Nghiên cứu mới: Tác dụng của cần sa trong điều trị chứng đau cơ xơ hóa

Điều trị tận gốc nguyên nhân gây ra cơn đau dai dẳng

Đau cơ xơ hóa là một tình trạng khó chữa được đặc trưng bởi các cơn đau và suy nhược mãn tính. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Clinical and Experimental Rheumatology đã chứng minh rằng cần sa có thể mang đến hiệu quả trong việc cải thiện những vấn đề này, ít nhất là có hiệu quả đối với một số bệnh nhân.

Nhìn chung, nghiên cứu về cần sa còn gặp nhiều khó khăn về phương pháp luận do các quy định lỗi thời cho rằng cần sa nguy hiểm hơn cả fentanyl hay oxycontin. Tuy nhiên, những nhà khoa học người Ý đã đưa ra một nghiên cứu khác biệt có thể áp dụng cho những người đang thử sử dụng cần sa để điều trị chứng đau cơ xơ hóa. 

Đối tượng nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu chỉ tuyển chọn hơn một trăm bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Luigi Sacco tại Milan, Ý. Sáu mươi sáu người trong số đó được phỏng vấn trong sáu tháng điều trị. Độ tuổi tham gia trung bình là 52, và hơn 90% bệnh nhân là phụ nữ (phụ nữ chiếm phần lớn người bị đau cơ xơ hóa).

Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị cho những bệnh nhân bị các cơn đau dai dẳng, khó chữa – nghĩa là người sử dụng thuốc ổn định nhưng không thấy thuyên giảm. Có dưới một nửa số bệnh nhân đang sử dụng 2 loại thuốc khác, trong khi một phần ba số bệnh nhân khác có dùng ít nhất 3 loại thuốc. Những loại thuốc này là thuốc an thần dạng nặng, bao gồm thuốc giảm đau nhóm opioid, thuốc chống co giật, thuốc phong bế thần kinh và thuốc chống trầm cảm.

Với độ mạnh của các loại thuốc mà những bệnh nhân này đang sử dụng, thật đáng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng gần một nửa số bệnh nhân (47%) đã đạt được hiệu quả (khi sử dụng cần sa) đủ để làm giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau của họ.

Từ 1/3 cho đến 1/2 số bệnh nhân đã cảm thấy được những cải thiện đáng chú ý trong giấc ngủ, các triệu chứng lo âu, trầm cảm và các cơn đau. Đa số bệnh nhân bị thừa cân hay béo phì, và cần sa có vẻ hiệu quả hơn đối với những bệnh nhân có cân nặng cao hơn. Một số bệnh nhân tham gia đã bị loại trừ, bao gồm cả những người đã sử dụng cần sa và những người bị bệnh thấp khớp hay mắc các cơn đau khác.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: “Có thể cân nhắc sử dụng [Cần sa y tế] phụ trợ, đặc biệt là ở nhóm dân số [đau cơ xơ hóa] bị rối loạn giấc ngủ và xuất hiện các triệu chứng trầm cảm nhẹ”.

Chuẩn độ cồn thuốc

Việc cân đối liều lượng cần sa rất phức tạp, vì thế các nhà nghiên cứu người Ý đã sử dụng một chiến lược thường được áp dụng cho bệnh nhân. Họ đã sử dụng hai loại hoa cần sa phân loại dược phẩm, một loại giàu hàm lượng THC và một loại cân bằng. Loại cân bằng có chứa nhiều hàm lượng CBD hơn.

Cả hai đều được chế tạo thành cồn thuốc có ống nhỏ giọt để định lượng. Bệnh nhân tham gia được khuyên dùng 2 liều mỗi ngày, sử dụng loại cân bằng vào buổi sáng và loại giàu THC vào buổi tối. THC có thể giúp hỗ trợ giấc ngủ và dường như là một loại thuốc giảm đau hiệu quả hơn so với CBD, vì thế việc từ chối sử dụng chúng một cách hoàn toàn là một quyết định không khôn ngoan. Tuy nhiên, tác dụng gây say của THC là một hiệu quả tiêu cực đối với người đang đi làm và người có cuộc sống bình thường. Nghiên cứu này đã cho những bệnh nhân mắc chứng đau cơ xơ hóa một cơ hội để sử dụng những công thức khác nhau, phù hợp với độ nhạy và nhịp sinh học cá nhân của riêng họ.

Không có liều lượng cụ thể nào – nghiên cứu y khoa cho đến nay vẫn chưa tìm ra được một liều lượng thống nhất, và thực thế là không tồn tại liều lượng lý tưởng, mà cần phải cân nhắc dựa trên nhiều tình trạng y tế khác nhau.

Thay vào đó, những nhà nghiên cứu khuyến nghị bệnh nhân thử 10-30 giọt vào mỗi buổi sáng và tối. Chuẩn độ một cách từ từ dựa trên sự thoải mái của bệnh nhân, họ có thể sử dụng lên đến 120 giọt mỗi ngày. Điều này có nghĩa là bắt đầu với liều thấp nhất 4mg THC và 2mg CBD – chia thành hai liều. Liều cao hơn có thể lên đến gần 27mg THC và 8mg CBD, và hầu hết sử dụng THC vào ban đêm. 

Giải quyết về đề nền tảng

Hơn 1/3 số bệnh nhân cảm nhận được những cải thiện về mặt lâm sàng trong giấc ngủ và các triệu chứng đau cơ xơ hóa. Một nửa số bệnh nhân nói rằng họ cảm thấy sự thuyên giảm vừa phải đối với tình trạng lo âu và trầm cảm sau khi cần sa được thêm vào chế độ điều trị của họ.

Đây là một chủ đề khá phổ biến – bằng chứng còn mâu thuẫn về việc liệu cần sa có thể điều trị chứng trầm cảm hay mất ngủ. Tuy nhiên, khi những vấn đề này chỉ là thứ phát đối với tình trạng đau mãn tính hay đau cơ xơ hóa, thì cannabinoid được chứng minh là khá hiệu quả. Dường như họ đang điều trị những vấn đề nền tảng, thay vì là các triệu chứng.

Bác sĩ Ethan Russo đưa ra giả thuyết rằng chứng đau cơ xơ hóa, cùng với chứng đau nửa đầu, có thể là biểu hiện của hội chứng thiếu hụt cannabinoid nội sinh. Lý thuyết này cho rằng một số biểu hiện bệnh nhất định xuất hiện khi hệ thống endocannabinoid quá yếu để có thể điều hòa tốt nhiều hệ thống sinh lý dưới sự kiểm soát của chính nó. Nếu sự thiếu hụt cannabinoid nội sinh gây ra một số loại bệnh nhất định, thì việc dùng các hợp chất cannabinoid thực vật như CBD và THC sẽ giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh, thay vì chỉ làm giảm nhẹ một số triệu chứng.

Trên thực tế, gần một nửa bệnh nhân đã có thể cắt giảm lượng thuốc mà họ sử dụng – với 21% đã hoàn toàn ngưng sử dụng các loại thuốc khác. “Điều này nói lên sự hài lòng mang tính chủ quan của họ về hiệu quả và tác dụng phụ của MCT [Điều trị bằng cần sa y tế]”, nghiên cứu cho biết.

Đối tượng sử dụng?

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 60 người là phụ nữ và chỉ có 6 người là nam giới. Vì thế, không thể xác định được liệu giới tính có ảnh hưởng đến kết quả điều trị hay không. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân có số cân nặng cao hơn thì dường như nhận được hiệu quả nhiều hơn. Điều này có thể liên quan đến tỷ lệ béo phì thấp hơn ở những người sử dụng cần sa, điều thường được quan sát thấy khi nghiên cứu về cách thức cần sa ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Cũng có những cách giải thích khác rằng CBD và THC là các phân tử dầu di chuyển tự do trong các mô mỡ. Vì thế những nhà nghiên cứu đã suy đoán rằng những người có nhiều chất béo trong cơ thể có thể hấp thụ cannabinoid tốt hơn, dẫn đến kết quả điều trị khả quan hơn.

Lợi ích của cần sa đối với chứng lo âu và trầm cảm cũng đáng được chú ý – 80% người bị đau cơ xơ hóa có xuất hiện các triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Một liệu pháp điều trị tiềm năng

Trong số 102 bệnh nhân tham gia ban đầu, khoảng một phần ba đã rời khỏi nghiên cứu trong vòng sáu tháng. Đó là một tỷ lệ duy trì hợp lý cho một nghiên cứu lâm sàng như thế này. Nhưng điều quan trọng là phải xem xét ai đã rời đi và tại sao, khi điều này có thể làm sai lệch kết quả. Mười một bệnh nhân tham gia đã ngừng điều trị một cách dứt khoát – vì cần sa không có tác dụng, nó gây ra các tác dụng phụ vừa phải hoặc quá đắt. Mười bệnh nhân tham gia vẫn sử dụng cần sa nhưng rời khỏi cuộc nghiên cứu khi họ chuyển sang bệnh viện khác. Mười lăm người còn lại đã từ bỏ cuộc nghiên cứu và không được kể đến.

Có khoảng từ 1-3 người tham gia gặp phải các tác dụng phụ nhẹ hoặc trung bình (như chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn và khô miệng). Một số ít bệnh nhân tham gia báo cáo rằng những triệu chứng trở nên tệ hơn sau khi bắt đầu sử dụng cần sa, mặc dù nó có thể khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi.

Cần sa có phải là một liệu pháp điều trị tiềm năng?

Những nhà nghiên cứu dường như nghĩ như thế, đặc biệt là khi phải đối mặt với những phương pháp truyền thống: “MCT [Điều trị bằng cần sa y tế] đã được chứng minh là một phương pháp hỗ trợ an toàn hơn nhiều so với khi điều trị bằng thuốc giảm đau nhóm opioid, liên quan đến nguy cơ rủi ro cao và không hiệu quả trong việc điều trị FM [đau cơ xơ hóa]; hơn nữa, MCT không có bất kỳ đặc tính gây nghiện đáng kể nào khi tăng liều hay hội chứng sau cai nghiện. Mối bận tâm quan trọng hơn là khả năng dung nạp, vì mặc dù các triệu chứng sẽ giảm sau ba tháng điều trị, nhưng thời gian điều trị lâu hơn có thể làm giảm hiệu quả, mặc dù điều này có thể tránh được bằng cách chuẩn độ liều lượng một cách cực kỳ chậm”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Project CBD – New Study: Cannabis is effective for Fibromyalgia

Bệnh viêm ruột & cần sa: câu chuyện của Robert

Một thiếu niên cao, gầy với mái tóc húi cua, có tên là Robert, đã đến văn phòng của tôi cùng với bố mẹ của anh ấy để tìm kiếm sự giúp đỡ trong việc điều trị bệnh viêm loét đại tràng (bệnh viêm ruột, IBD). Được chẩn đoán vào 2 năm trước, anh ấy đã phải vật lộn với các triệu chứng như đau bụng mãn tính, tiêu chảy có kèm máu, kém ăn và sụt cân. Không có gì đáng ngạc nhiên khi anh ấy bày tỏ cảm giác chán nản và tuyệt vọng của mình. Anh đã điều trị rất nhiều lần mà không có tiến triển, và theo như lời của bố mẹ anh ấy kể: “những loại thuốc mà anh ấy sử dụng dường như khiến tình trạng của anh ấy ngày càng tệ hơn”. Anh đã phải truyền máu nhiều lần do mất máu thông qua đường ruột. Trong lần thăm khám gần đây nhất với bác sĩ chuyên khoa dạ dày, việc phẫu thuật cắt bỏ một phần ruột đã được thảo luận, khiến Robert cảm thấy rất vô vọng.

Trước khi đến gặp tôi, bố mẹ Robert có nói rằng đã bắt gặp anh ấy đang hút cần sa. Họ không cảm thấy ngạc nhiên, vì gần đây họ nhận thấy có điều gì đó khác lạ ở Robert – có thể là thái độ nhẹ nhàng hơn và ít kêu than về sự khó chịu. Với mong muốn tìm kiếm một phương pháp có thể điều trị chứng bệnh này cho con, họ đã bắt đầu tìm hiểu về “phương pháp sử dụng cần sa để điều trị bệnh viêm loét đại tràng” và quyết định lựa chọn phương pháp điều trị này với sự giám sát y tế, và tất cả đều đồng ý rằng phẫu thuật sẽ là biện pháp cuối cùng. Khi tôi hỏi Robert: cần sa đã giúp anh như thế nào? Anh ấy nói rằng tất cả các triệu chứng về thể chất đã thuyên giảm và anh ấy cảm thấy “bình thường” trong vài giờ. Tuy nhiên, anh ấy và bố mẹ của anh sợ rằng anh ấy đang mua cần sa từ những nguồn không rõ nguồn gốc và có nguy cơ gặp phải các vấn đề về pháp lý. Và anh ấy cũng có nói một cách chín chắn rằng “tôi cảm thấy đây có thể là phương pháp điều trị cho chính mình, nhưng tôi không muốn trở thành tội phạm khi sử dụng nó”.

Tôi đã truyền tải kiến thức cho Robert và bố mẹ của anh ấy về hệ thống endocannabinoid, về những loại phytocannabinoid khác nhau, và về những nghiên cứu đầy hứa hẹn, nhưng còn hạn chế, về việc sử dụng cần sa trong việc điều trị bệnh viêm ruột. Tôi hướng dẫn Robert bắt đầu sử dụng cồn thuốc ở liều thấp với tỷ lệ CBD:THC là 25:1, hai lần mỗi ngày và tăng liều sau mỗi 1-2 tuần, mục tiêu là sử dụng 300 miligam hai lần mỗi ngày. Chúng tôi đã thảo luận về việc sử THC hóa hơi khi cần thiết cho các triệu chứng cấp tính. Sau bốn tuần, anh ấy cho biết ít bị tiêu chảy hơn, ít đau bụng hơn và ăn ngon miệng hơn. Anh ấy nói rằng anh ấy cũng ngủ ngon hơn và tâm trạng của anh ấy đã được cải thiện rất nhiều. Anh ấy vẫn còn triệu chứng đại tiện có máu, vì thế việc sử dụng THCA hai lần mỗi ngày đã được thêm vào phác đồ điều trị.

Số lượng hồng cầu của Robert đã ổn định trong 6 tuần liên tiếp. Anh ấy đã tăng cân và vui vẻ thông báo rằng anh ấy đã bắt đầu có thể chơi bóng rổ trở lại, điều mà anh ấy không thể thực hiện được kể từ lần chẩn đoán đầu tiên. Những kết quả xét nghiệm của Robert cho thấy sự suy giảm của các dấu hiệu viêm và kết quả này là bằng chứng cho thấy rằng tình trạng viêm trong cơ thể của anh ấy đang bắt đầu đáp ứng với điều trị. Bác sĩ chuyên khoa dạ dày của Robert đang vô cùng thận trọng hỗ trợ điều trị cho anh ấy, và ông ấy cũng đã thấy được tình trạng ổn định của Robert. Quan trọng nhất, Robert nói rằng chất lượng cuộc sống của anh ấy đã được cải thiện đáng kể và cũng là lần đầu tiên sau nhiều năm, anh ấy cảm thấy lạc quan về tương lai của chính mình.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine: How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain

Parkinson và Cần sa y tế

Parkinson là bệnh lý thoái hóa thần kinh mạn tính và tiến triển từ từ tăng dần. Đặc điểm bệnh lý chính của Parkinson là sự thoái hóa các tế bào thần kinh chứa dopamine (DA) của phần đặc chất đen, dẫn đến sự suy giảm nơron dopaminergic ở vùng vân. Việc mất kiểm soát chức năng điều hòa DA không thể phục hồi dẫn đến các triệu chứng điển hình thường thấy ở bệnh này như chậm cử động, run tay khi nghỉ và tay chân cứng dần. Người ta tin rằng những hợp chất cannabinoid có thể có mang đến một số tác dụng có lợi trong việc điều trị bệnh parkinson. Trong các thí nghiệm trên động vật, cannabinoid cung cấp sự bảo vệ cho tế bào thần kinh chống lại độc tính 6-hydroxydopamine trong thí nghiệm in vivo và in vitro.

Phần lớn bệnh nhân parkinson đang điều trị với levodopa phát triển các biến chứng rối loạn vận động trong vòng 10 năm điều trị. Những nghiên cứu gần đây trên động vật và tại phòng khám cho thấy rằng các chất đối kháng thụ thể CB1 có vẻ tỏ ra hữu hiệu trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh lý Parkinson và rối loạn vận động do levodopa, trong đó các chất chủ vận thụ thể CB1 có thể mang đến nhiều giá trị trong việc làm giảm rối loạn vận động do levodopa gây ra.

Trong mô hình thử nghiệm trên chuột bị parkinson được điều trị bằng Reserpine, chất chủ vận thụ thể dopamine D2 – quinpirole đã làm giảm chứng rối loạn vận động một cách đáng kể. Hiệu quả này bị giảm đi một cách đáng kể khi tiêm đồng thời với chất chủ vận thụ thể cannabinoid WIN 55,212-2. Việc sử dụng đồng thời thuốc đối kháng CB1 (rimonabant) với quinpirole và WIN 55,212-2 đã ngăn chặn tác dụng của WIN 55,212-2 trong việc giảm chứng rối loạn vận động của quinpirole.

Trong các thử nghiệm trên động vật, việc sử dụng levodopa lâu dài đã tạo ra các rối loạn cử động miệng và lưỡi không tự chủ ngày càng nghiêm trọng và tình trạng này đã thuyên giảm do WIN 55,212-2. Hiệu ứng này cũng có thể bị đảo ngược bởi rimonabant. Trong những nghiên cứu khác, rimonabant được cho là có tác dụng tích cực đối với những rối loạn vận động điển hình ở bệnh lý parkinson, ở một số liều nhất định.

Cannabinoid nội sinh với nồng độ cao được tìm thấy ở những bệnh nhân Parkinson không được điều trị. Việc sử dụng các chất ức chế sự suy giảm các nhóm cannabinoid nội sinh đã làm giảm sự rối loạn vận động ở người bị Parkinson. Do đó, các chất chủ vận và chất đối kháng của những thụ thể của cannabinoid dường như có tác dụng trong việc điều trị một số triệu chứng của Parkinson.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, chất chủ vận thụ thể cannabinoid – nabilone đã làm giảm một cách đáng kể những rối loạn vận động do levodopa gây ra khi điều trị Parkinson. THC giúp cải thiện khả năng kiểm soát vận động ở bệnh nhân mắc loạn trương lực cơ. Ngoài ra, trong một bảng khảo sát ẩn danh được gửi đến tất cả các bệnh nhân có mặt tại Prague Movement Disorder Center cho thấy có 25% số người được hỏi đã sử dụng cần sa và 45,9% trong số này cho thấy những tác dụng có lợi. Vì thế, những hợp chất cannabinoid dường như có thể điều trị được một số triệu chứng của bệnh lý thần kinh này.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế và cơn đau thần kinh mãn tính

Cần sa đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ như là một chất giảm đau. Bằng chứng cho thấy rằng những hợp chất cannabinoid có trong cần sa có thể kiểm soát những cơn đau bằng cách ức chế sự dẫn truyền tế bào thần kinh trong các con đường gây ra cơn đau. Khi đánh giá về tác dụng giảm kích thích đau một cách rõ rệt của những hợp chất cannabinoid, chúng được đề xuất là một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn để kiểm soát lâm sàng chứng đau dây thần kinh sinh ba.

 

THC, CBD và CBD-dimethyl heptyl (DMH) được cho là có thể ngăn chặn sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu bởi huyết tương thu được từ những bệnh nhân đau nửa đầu. Một nghiên cứu cho thấy rằng khi THC được sử dụng cho bệnh nhân bị sốt Địa Trung Hải, với các cơn đau tái phát mãn tính và viêm đường tiêu hóa, kết quả được ghi nhận là mức độ các cơn đau giảm đi đáng kể. Sự cải thiện nhẹ đã được ghi nhận với các loại thuốc dựa trên các hợp chất từ cần sa để điều trị các cơn đau mãn tính liên quan đến nhổ rễ dây thần kinh cánh tay.

 

Ở những bệnh nhân đau thần kinh, cường độ đau tự phát trung bình khi được điều trị bằng THC thấp hơn đáng kể so với điều trị bằng giả dược, và điểm giảm đau trung bình (thang đánh giá bằng số) cao hơn. Nó cũng có hiệu quả trong điều trị đau thần kinh trung ương. Việc sử dụng THC đơn liều để điều trị cơn đau do ung thư cũng cho thấy tác dụng giảm đau nhẹ. Những bệnh nhân mắc phải các cơn đau cũng có xu hướng tự điều trị bằng cần sa y tế.

 

Trong một cuộc khảo sát ẩn danh, 72 (35%) bệnh nhân với cơn đau mãn tính không do ung thư cho biết đã sử dụng cần sa để giảm đau. Các bệnh nhân AIDS được điều trị bằng cần sa cho biết họ có cải thiện sự thèm ăn, giảm đau cơ, buồn nôn, lo lắng, đau dây thần kinh, trầm cảm và dị cảm. Không chỉ THC, mà tất cả các loại cannabinoid khác cũng có tác dụng giảm đau đến những cơn đau khác nhau. Nabilone là một cannabinoid tổng hợp được phê duyệt để điều trị buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng liên quan đến việc hóa trị liệu ở bệnh ung thư.

 

Ở Canada, Hoa Kỳ và Anh Quốc, nabilone được thương mại hóa dưới cái tên Cesamet. Nabilone có thể làm giảm đáng kể các cơn đau liên quan đến tình trạng co cứng ở các bệnh nhân mắc hội chứng dây thần kinh vận động trên (UMNS) mãn tính. Một cannabinoid khác, axit ajulemic (AJA), có hiệu quả trong việc giảm đau dây thần kinh mãn tính, mặc dù chúng có thể xuất hiện một số tác dụng phụ như mệt mỏi, khô miệng, hạn chế khả năng tập trung, chóng mặt, đổ mồ hôi.

Sự kết hợp giữa THC và CBD (cannabinoid không mang tác động thần kinh) có hoạt tính cao hơn nhiều so với THC đơn thuần. Thuốc xịt CBD/THC (Sativex) được cho là có hiệu quả trong việc điều trị chứng đau thần kinh ở bệnh đa xơ cứng (MS). Đau thần kinh mãn tính cũng có thể được điều trị bằng chiết xuất cần sa có chứa THC hoặc CBD, hoặc với Sativex. Những hợp chất cannabinoid này cũng có hiệu quả trong việc giảm rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân này và hầu hết được dung nạp tốt. Sativex là loại thuốc làm từ cần sa đầu tiên, trải qua quá trình phát triển lâm sàng thông thường và được phê duyệt dưới dạng thuốc kê đơn. Nó có hiệu quả và được dung nạp tốt trong điều trị các triệu chứng của bệnh đa xơ cứng, và đặc biệt là chứng co cứng và đau thần kinh. Sativex đã được phê duyệt để sử dụng trong điều trị đau thần kinh do bệnh đa xơ cứng ở Canada.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Bài viết được xem nhiều nhất