Cần sa và chứng đau cơ xơ hóa

Nghiên cứu mới: Tác dụng của cần sa trong điều trị chứng đau cơ xơ hóa

Điều trị tận gốc nguyên nhân gây ra cơn đau dai dẳng

Đau cơ xơ hóa là một tình trạng khó chữa được đặc trưng bởi các cơn đau và suy nhược mãn tính. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Clinical and Experimental Rheumatology đã chứng minh rằng cần sa có thể mang đến hiệu quả trong việc cải thiện những vấn đề này, ít nhất là có hiệu quả đối với một số bệnh nhân.

Nhìn chung, nghiên cứu về cần sa còn gặp nhiều khó khăn về phương pháp luận do các quy định lỗi thời cho rằng cần sa nguy hiểm hơn cả fentanyl hay oxycontin. Tuy nhiên, những nhà khoa học người Ý đã đưa ra một nghiên cứu khác biệt có thể áp dụng cho những người đang thử sử dụng cần sa để điều trị chứng đau cơ xơ hóa. 

Đối tượng nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu chỉ tuyển chọn hơn một trăm bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Luigi Sacco tại Milan, Ý. Sáu mươi sáu người trong số đó được phỏng vấn trong sáu tháng điều trị. Độ tuổi tham gia trung bình là 52, và hơn 90% bệnh nhân là phụ nữ (phụ nữ chiếm phần lớn người bị đau cơ xơ hóa).

Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị cho những bệnh nhân bị các cơn đau dai dẳng, khó chữa – nghĩa là người sử dụng thuốc ổn định nhưng không thấy thuyên giảm. Có dưới một nửa số bệnh nhân đang sử dụng 2 loại thuốc khác, trong khi một phần ba số bệnh nhân khác có dùng ít nhất 3 loại thuốc. Những loại thuốc này là thuốc an thần dạng nặng, bao gồm thuốc giảm đau nhóm opioid, thuốc chống co giật, thuốc phong bế thần kinh và thuốc chống trầm cảm.

Với độ mạnh của các loại thuốc mà những bệnh nhân này đang sử dụng, thật đáng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng gần một nửa số bệnh nhân (47%) đã đạt được hiệu quả (khi sử dụng cần sa) đủ để làm giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau của họ.

Từ 1/3 cho đến 1/2 số bệnh nhân đã cảm thấy được những cải thiện đáng chú ý trong giấc ngủ, các triệu chứng lo âu, trầm cảm và các cơn đau. Đa số bệnh nhân bị thừa cân hay béo phì, và cần sa có vẻ hiệu quả hơn đối với những bệnh nhân có cân nặng cao hơn. Một số bệnh nhân tham gia đã bị loại trừ, bao gồm cả những người đã sử dụng cần sa và những người bị bệnh thấp khớp hay mắc các cơn đau khác.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: “Có thể cân nhắc sử dụng [Cần sa y tế] phụ trợ, đặc biệt là ở nhóm dân số [đau cơ xơ hóa] bị rối loạn giấc ngủ và xuất hiện các triệu chứng trầm cảm nhẹ”.

Chuẩn độ cồn thuốc

Việc cân đối liều lượng cần sa rất phức tạp, vì thế các nhà nghiên cứu người Ý đã sử dụng một chiến lược thường được áp dụng cho bệnh nhân. Họ đã sử dụng hai loại hoa cần sa phân loại dược phẩm, một loại giàu hàm lượng THC và một loại cân bằng. Loại cân bằng có chứa nhiều hàm lượng CBD hơn.

Cả hai đều được chế tạo thành cồn thuốc có ống nhỏ giọt để định lượng. Bệnh nhân tham gia được khuyên dùng 2 liều mỗi ngày, sử dụng loại cân bằng vào buổi sáng và loại giàu THC vào buổi tối. THC có thể giúp hỗ trợ giấc ngủ và dường như là một loại thuốc giảm đau hiệu quả hơn so với CBD, vì thế việc từ chối sử dụng chúng một cách hoàn toàn là một quyết định không khôn ngoan. Tuy nhiên, tác dụng gây say của THC là một hiệu quả tiêu cực đối với người đang đi làm và người có cuộc sống bình thường. Nghiên cứu này đã cho những bệnh nhân mắc chứng đau cơ xơ hóa một cơ hội để sử dụng những công thức khác nhau, phù hợp với độ nhạy và nhịp sinh học cá nhân của riêng họ.

Không có liều lượng cụ thể nào – nghiên cứu y khoa cho đến nay vẫn chưa tìm ra được một liều lượng thống nhất, và thực thế là không tồn tại liều lượng lý tưởng, mà cần phải cân nhắc dựa trên nhiều tình trạng y tế khác nhau.

Thay vào đó, những nhà nghiên cứu khuyến nghị bệnh nhân thử 10-30 giọt vào mỗi buổi sáng và tối. Chuẩn độ một cách từ từ dựa trên sự thoải mái của bệnh nhân, họ có thể sử dụng lên đến 120 giọt mỗi ngày. Điều này có nghĩa là bắt đầu với liều thấp nhất 4mg THC và 2mg CBD – chia thành hai liều. Liều cao hơn có thể lên đến gần 27mg THC và 8mg CBD, và hầu hết sử dụng THC vào ban đêm. 

Giải quyết về đề nền tảng

Hơn 1/3 số bệnh nhân cảm nhận được những cải thiện về mặt lâm sàng trong giấc ngủ và các triệu chứng đau cơ xơ hóa. Một nửa số bệnh nhân nói rằng họ cảm thấy sự thuyên giảm vừa phải đối với tình trạng lo âu và trầm cảm sau khi cần sa được thêm vào chế độ điều trị của họ.

Đây là một chủ đề khá phổ biến – bằng chứng còn mâu thuẫn về việc liệu cần sa có thể điều trị chứng trầm cảm hay mất ngủ. Tuy nhiên, khi những vấn đề này chỉ là thứ phát đối với tình trạng đau mãn tính hay đau cơ xơ hóa, thì cannabinoid được chứng minh là khá hiệu quả. Dường như họ đang điều trị những vấn đề nền tảng, thay vì là các triệu chứng.

Bác sĩ Ethan Russo đưa ra giả thuyết rằng chứng đau cơ xơ hóa, cùng với chứng đau nửa đầu, có thể là biểu hiện của hội chứng thiếu hụt cannabinoid nội sinh. Lý thuyết này cho rằng một số biểu hiện bệnh nhất định xuất hiện khi hệ thống endocannabinoid quá yếu để có thể điều hòa tốt nhiều hệ thống sinh lý dưới sự kiểm soát của chính nó. Nếu sự thiếu hụt cannabinoid nội sinh gây ra một số loại bệnh nhất định, thì việc dùng các hợp chất cannabinoid thực vật như CBD và THC sẽ giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh, thay vì chỉ làm giảm nhẹ một số triệu chứng.

Trên thực tế, gần một nửa bệnh nhân đã có thể cắt giảm lượng thuốc mà họ sử dụng – với 21% đã hoàn toàn ngưng sử dụng các loại thuốc khác. “Điều này nói lên sự hài lòng mang tính chủ quan của họ về hiệu quả và tác dụng phụ của MCT [Điều trị bằng cần sa y tế]”, nghiên cứu cho biết.

Đối tượng sử dụng?

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 60 người là phụ nữ và chỉ có 6 người là nam giới. Vì thế, không thể xác định được liệu giới tính có ảnh hưởng đến kết quả điều trị hay không. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân có số cân nặng cao hơn thì dường như nhận được hiệu quả nhiều hơn. Điều này có thể liên quan đến tỷ lệ béo phì thấp hơn ở những người sử dụng cần sa, điều thường được quan sát thấy khi nghiên cứu về cách thức cần sa ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Cũng có những cách giải thích khác rằng CBD và THC là các phân tử dầu di chuyển tự do trong các mô mỡ. Vì thế những nhà nghiên cứu đã suy đoán rằng những người có nhiều chất béo trong cơ thể có thể hấp thụ cannabinoid tốt hơn, dẫn đến kết quả điều trị khả quan hơn.

Lợi ích của cần sa đối với chứng lo âu và trầm cảm cũng đáng được chú ý – 80% người bị đau cơ xơ hóa có xuất hiện các triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Một liệu pháp điều trị tiềm năng

Trong số 102 bệnh nhân tham gia ban đầu, khoảng một phần ba đã rời khỏi nghiên cứu trong vòng sáu tháng. Đó là một tỷ lệ duy trì hợp lý cho một nghiên cứu lâm sàng như thế này. Nhưng điều quan trọng là phải xem xét ai đã rời đi và tại sao, khi điều này có thể làm sai lệch kết quả. Mười một bệnh nhân tham gia đã ngừng điều trị một cách dứt khoát – vì cần sa không có tác dụng, nó gây ra các tác dụng phụ vừa phải hoặc quá đắt. Mười bệnh nhân tham gia vẫn sử dụng cần sa nhưng rời khỏi cuộc nghiên cứu khi họ chuyển sang bệnh viện khác. Mười lăm người còn lại đã từ bỏ cuộc nghiên cứu và không được kể đến.

Có khoảng từ 1-3 người tham gia gặp phải các tác dụng phụ nhẹ hoặc trung bình (như chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn và khô miệng). Một số ít bệnh nhân tham gia báo cáo rằng những triệu chứng trở nên tệ hơn sau khi bắt đầu sử dụng cần sa, mặc dù nó có thể khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi.

Cần sa có phải là một liệu pháp điều trị tiềm năng?

Những nhà nghiên cứu dường như nghĩ như thế, đặc biệt là khi phải đối mặt với những phương pháp truyền thống: “MCT [Điều trị bằng cần sa y tế] đã được chứng minh là một phương pháp hỗ trợ an toàn hơn nhiều so với khi điều trị bằng thuốc giảm đau nhóm opioid, liên quan đến nguy cơ rủi ro cao và không hiệu quả trong việc điều trị FM [đau cơ xơ hóa]; hơn nữa, MCT không có bất kỳ đặc tính gây nghiện đáng kể nào khi tăng liều hay hội chứng sau cai nghiện. Mối bận tâm quan trọng hơn là khả năng dung nạp, vì mặc dù các triệu chứng sẽ giảm sau ba tháng điều trị, nhưng thời gian điều trị lâu hơn có thể làm giảm hiệu quả, mặc dù điều này có thể tránh được bằng cách chuẩn độ liều lượng một cách cực kỳ chậm”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Project CBD – New Study: Cannabis is effective for Fibromyalgia

Hội chứng ruột kích thích (IBS) và cần sa

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là chẩn đoán phổ biến nhất được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa, chỉ riêng Hoa Kỳ, đã có tới 35 triệu người mắc phải hội chứng này. IBS được đặc trưng bởi các triệu chứng đau bụng, chướng bụng, đầy hơi và thay đổi thói quen đi tiêu mà không tìm thấy tổn thương thực thể nào (táo bón, tiêu chảy hoặc hỗn hợp). Nguyên nhân cụ thể gây ra IBS vẫn chưa được xác định, mặc dù có thể do sự thiếu hụt các hợp chất cannabinoid nội sinh. Thông thường, sẽ không có bất thường nào được tìm thấy trong kết quả xét nghiệm máu hay nội soi, khiến cho hội chứng này chỉ được chẩn đoán dựa trên tiền sử và những triệu chứng của bệnh nhân, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác. Người bị IBS thường phải đối mặt với các tình trạng khác như đau cơ xơ hóa, đau nửa đầu, viêm khớp thái dương hàm, thường xuyên mệt mỏi, trào ngược dạ dày thực quản hay đau vùng chậu mãn tính. Thường xuyên bị căng thẳng có liên quan đến cả sự phát triển và/hoặc các cơn IBS, cũng nên được xem là một vấn đề quan trọng trong việc điều trị.

Có ba nghiên cứu trên người đã được công bố về việc sử dụng cần sa y tế trong việc điều trị IBS, tất cả đều có sử dụng THC tổng hợp làm phương thuốc nghiên cứu. Không có gì đáng ngạc nhiên, một nghiên cứu trong số đó báo cáo rằng tất cả người tham gia đều bị tác dụng phụ và không có kết quả khả quan; Tuy nhiên, liều lượng THC cho nghiên cứu này lên đến 10 mg, rõ ràng là quá liều đối với những người chưa từng sử dụng cần sa. Nghiên cứu thứ 2 sử dụng liều lượng thấp hơn – 2,5 mg hoặc 5 mg THC tổng hợp so với nhóm sử dụng giả dược, và cho thấy rằng những người tham gia bị tiêu chảy do IBS hay đi tiêu hỗn hợp có giảm nhu động ruột, nghĩa là THC đã làm chậm tốc độ thức ăn di chuyển qua ruột. Và nghiên cứu thứ ba có liên quan đến việc sử dụng dronabinol liều thấp (THC dược phẩm) trong hai ngày và không có hiệu quả đối với những người bị tiêu chảy do IBS. Tuy nhiên, những phát hiện từ các nghiên cứu sử dụng các hợp chất cannabinoid tổng hợp đơn lẻ rất khó để đạt được hiệu quả như những bệnh nhân có sử dụng cần sa với chiết xuất toàn phần. 

Về mặt lâm sàng, nhiều bệnh nhân có sử dụng cần sa y tế để điều trị IBS cho thấy những kết quả khả quan, hầu hết nói rằng “nó giúp làm dịu đường ruột”. Một số bệnh nhân nói rằng họ cảm nhận được hiệu quả một cách đáng kể khi sử dụng THC liều thấp vào buổi tối hay khi cần thiết để làm giảm hoạt động kích thích của đường ruột. Một số khác nói rằng họ sử dụng các sản phẩm từ CBD hàng ngày để kiểm soát các triệu chứng của IBS. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn cho biết rằng khi sử dụng THCA hay CBDA, hoặc kết hợp cả 2, với liều lượng thấp cũng có thể giúp cải thiện những triệu chứng của IBS. Chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục thể thao thường xuyên và kiểm soát căng thẳng giúp cho hệ thống endocannabinoid có thể hoạt động một cách hiệu quả, và trong trường hợp mắc hội chứng IBS, các bệnh nhân cho biết sự kết hợp giữa những loại cannabinoid là khá hiệu quả.

Điều quan trọng là những bệnh nhân bị rối loạn đường ruột phải hiểu rằng tình trạng viêm kéo dài sẽ mất nhiều thời gian hơn để có thể đáp ứng được với phương pháp điều trị bằng cannabinoid. Có thể mất từ 8-12 tuần để nhận thấy được sự hiệu quả, mặc dù có nhiều bệnh nhân nói rằng các triệu chứng đã thuyên giảm sau một vài tuần đầu tiên. Những thực phẩm có chứa các hợp chất cannabinoid có thể gây ra sự khó chịu cho dạ dày, vì thế phải luôn hiểu rõ về sản phẩm mà bạn định sử dụng để tránh tình trạng làm kích thích các triệu chứng. Những loại tecpen được cho là có hiệu quả trong việc hỗ trợ đường ruột bao gồm terpinolene, beta-caryophyllene, limonene và pinene.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

 

Hiệu quả của cần sa y tế trong việc điều trị tình trạng trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một bệnh rất phổ biến, ảnh hưởng đến 20% dân số ở độ tuổi trưởng thành. Tình trạng này xảy ra khi các chất có trong dạ dày trào ngược lên thực quản, gây ra các triệu chứng như ợ chua, đau ngực, khó nuốt và/hoặc cảm giác có vật cản trong cổ họng. GERD thường được điều trị bằng thuốc; tuy nhiên, có một số báo cáo nói về khả năng gia tăng nguy cơ mất trí và mắc phải ung thư khi sử dụng những loại thuốc này. Những biện pháp can thiệp khả thi khác bao gồm sự thay đổi trong chế độ ăn uống, giữ tư thế đứng thẳng sau khi ăn, giảm cân và ngưng sử dụng thuốc lá.

Các nghiên cứu trên mô hình động vật đã chỉ ra rằng những hợp chất cannabinoid có thể kích thích thụ thể CB1 ức chế tiết axit và làm giảm tổn thương và viêm cho niêm mạc dạ dày. Một nghiên cứu tiền lâm sàng cũng cho thấy rằng khả năng kích hoạt thụ thể CB1 của hợp chất cannabinoid đã giữ cho cơ vòng thực quản dưới (“cánh cổng” giữa thực quản và dạ dày, có tác dụng giữ cho các chất tại dạ dày không trào ngược lên thực quản) đóng kín, do đó làm giảm tình trạng trào ngược. Trong một nghiên cứu trên người, THC được đưa cho người tình nguyện với tình trạng khỏe mạnh đã được chứng minh là có thể là giảm tỷ lệ trào ngược (mặc dù có xảy ra một số vấn đề vì sử dụng liều lượng cao và gây ra một số tác dụng phụ). Tuy nhiên, rõ ràng là chúng ta cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa để có thể hiểu rõ vai trò của cần sa trong việc điều trị GERD.

Về mặt lâm sàng, một số bệnh nhân được điều trị GERD bằng cần sa y tế cho thấy kết quả khả quan, mặc dù một số khác thì không. (Chúng ta vẫn còn chưa rõ lý do chính xác vì sao một số bệnh nhân có thể đáp ứng với cần sa và một số khác thì không). Những báo cáo mang tính chủ quan từ những bệnh nhân có phản ứng tích cực cho biết họ có ít đợt ợ chua hơn và nếu có, thì khi sử dụng cần sa y tế sẽ làm giảm đi sự khó chịu trong cơ thể của họ.

Hầu hết các bệnh nhân có kết quả điều trị khả quan đều có sử dụng THC trong phác đồ điều trị của họ, vì đây dường như là loại cannabinoid hữu ích nhất trong việc điều trị GERD. Một số bệnh nhân cho biết những sản phẩm có tỷ lệ CBD:THC thấp (như 1:1, 2:1 hay 4:1) cũng giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh GERD với tác dụng ít say hơn so với những sản phẩm có THC chiếm ưu thế. Ngoài ra, hai tecpen có trong cần sa, là limonene và terpinolene, cũng được cho là có hiệu quả trong việc điều trị GERD.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

Bệnh viêm ruột & cần sa: câu chuyện của Robert

Một thiếu niên cao, gầy với mái tóc húi cua, có tên là Robert, đã đến văn phòng của tôi cùng với bố mẹ của anh ấy để tìm kiếm sự giúp đỡ trong việc điều trị bệnh viêm loét đại tràng (bệnh viêm ruột, IBD). Được chẩn đoán vào 2 năm trước, anh ấy đã phải vật lộn với các triệu chứng như đau bụng mãn tính, tiêu chảy có kèm máu, kém ăn và sụt cân. Không có gì đáng ngạc nhiên khi anh ấy bày tỏ cảm giác chán nản và tuyệt vọng của mình. Anh đã điều trị rất nhiều lần mà không có tiến triển, và theo như lời của bố mẹ anh ấy kể: “những loại thuốc mà anh ấy sử dụng dường như khiến tình trạng của anh ấy ngày càng tệ hơn”. Anh đã phải truyền máu nhiều lần do mất máu thông qua đường ruột. Trong lần thăm khám gần đây nhất với bác sĩ chuyên khoa dạ dày, việc phẫu thuật cắt bỏ một phần ruột đã được thảo luận, khiến Robert cảm thấy rất vô vọng.

Trước khi đến gặp tôi, bố mẹ Robert có nói rằng đã bắt gặp anh ấy đang hút cần sa. Họ không cảm thấy ngạc nhiên, vì gần đây họ nhận thấy có điều gì đó khác lạ ở Robert – có thể là thái độ nhẹ nhàng hơn và ít kêu than về sự khó chịu. Với mong muốn tìm kiếm một phương pháp có thể điều trị chứng bệnh này cho con, họ đã bắt đầu tìm hiểu về “phương pháp sử dụng cần sa để điều trị bệnh viêm loét đại tràng” và quyết định lựa chọn phương pháp điều trị này với sự giám sát y tế, và tất cả đều đồng ý rằng phẫu thuật sẽ là biện pháp cuối cùng. Khi tôi hỏi Robert: cần sa đã giúp anh như thế nào? Anh ấy nói rằng tất cả các triệu chứng về thể chất đã thuyên giảm và anh ấy cảm thấy “bình thường” trong vài giờ. Tuy nhiên, anh ấy và bố mẹ của anh sợ rằng anh ấy đang mua cần sa từ những nguồn không rõ nguồn gốc và có nguy cơ gặp phải các vấn đề về pháp lý. Và anh ấy cũng có nói một cách chín chắn rằng “tôi cảm thấy đây có thể là phương pháp điều trị cho chính mình, nhưng tôi không muốn trở thành tội phạm khi sử dụng nó”.

Tôi đã truyền tải kiến thức cho Robert và bố mẹ của anh ấy về hệ thống endocannabinoid, về những loại phytocannabinoid khác nhau, và về những nghiên cứu đầy hứa hẹn, nhưng còn hạn chế, về việc sử dụng cần sa trong việc điều trị bệnh viêm ruột. Tôi hướng dẫn Robert bắt đầu sử dụng cồn thuốc ở liều thấp với tỷ lệ CBD:THC là 25:1, hai lần mỗi ngày và tăng liều sau mỗi 1-2 tuần, mục tiêu là sử dụng 300 miligam hai lần mỗi ngày. Chúng tôi đã thảo luận về việc sử THC hóa hơi khi cần thiết cho các triệu chứng cấp tính. Sau bốn tuần, anh ấy cho biết ít bị tiêu chảy hơn, ít đau bụng hơn và ăn ngon miệng hơn. Anh ấy nói rằng anh ấy cũng ngủ ngon hơn và tâm trạng của anh ấy đã được cải thiện rất nhiều. Anh ấy vẫn còn triệu chứng đại tiện có máu, vì thế việc sử dụng THCA hai lần mỗi ngày đã được thêm vào phác đồ điều trị.

Số lượng hồng cầu của Robert đã ổn định trong 6 tuần liên tiếp. Anh ấy đã tăng cân và vui vẻ thông báo rằng anh ấy đã bắt đầu có thể chơi bóng rổ trở lại, điều mà anh ấy không thể thực hiện được kể từ lần chẩn đoán đầu tiên. Những kết quả xét nghiệm của Robert cho thấy sự suy giảm của các dấu hiệu viêm và kết quả này là bằng chứng cho thấy rằng tình trạng viêm trong cơ thể của anh ấy đang bắt đầu đáp ứng với điều trị. Bác sĩ chuyên khoa dạ dày của Robert đang vô cùng thận trọng hỗ trợ điều trị cho anh ấy, và ông ấy cũng đã thấy được tình trạng ổn định của Robert. Quan trọng nhất, Robert nói rằng chất lượng cuộc sống của anh ấy đã được cải thiện đáng kể và cũng là lần đầu tiên sau nhiều năm, anh ấy cảm thấy lạc quan về tương lai của chính mình.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine: How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain

Parkinson và Cần sa y tế

Parkinson là bệnh lý thoái hóa thần kinh mạn tính và tiến triển từ từ tăng dần. Đặc điểm bệnh lý chính của Parkinson là sự thoái hóa các tế bào thần kinh chứa dopamine (DA) của phần đặc chất đen, dẫn đến sự suy giảm nơron dopaminergic ở vùng vân. Việc mất kiểm soát chức năng điều hòa DA không thể phục hồi dẫn đến các triệu chứng điển hình thường thấy ở bệnh này như chậm cử động, run tay khi nghỉ và tay chân cứng dần. Người ta tin rằng những hợp chất cannabinoid có thể có mang đến một số tác dụng có lợi trong việc điều trị bệnh parkinson. Trong các thí nghiệm trên động vật, cannabinoid cung cấp sự bảo vệ cho tế bào thần kinh chống lại độc tính 6-hydroxydopamine trong thí nghiệm in vivo và in vitro.

Phần lớn bệnh nhân parkinson đang điều trị với levodopa phát triển các biến chứng rối loạn vận động trong vòng 10 năm điều trị. Những nghiên cứu gần đây trên động vật và tại phòng khám cho thấy rằng các chất đối kháng thụ thể CB1 có vẻ tỏ ra hữu hiệu trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh lý Parkinson và rối loạn vận động do levodopa, trong đó các chất chủ vận thụ thể CB1 có thể mang đến nhiều giá trị trong việc làm giảm rối loạn vận động do levodopa gây ra.

Trong mô hình thử nghiệm trên chuột bị parkinson được điều trị bằng Reserpine, chất chủ vận thụ thể dopamine D2 – quinpirole đã làm giảm chứng rối loạn vận động một cách đáng kể. Hiệu quả này bị giảm đi một cách đáng kể khi tiêm đồng thời với chất chủ vận thụ thể cannabinoid WIN 55,212-2. Việc sử dụng đồng thời thuốc đối kháng CB1 (rimonabant) với quinpirole và WIN 55,212-2 đã ngăn chặn tác dụng của WIN 55,212-2 trong việc giảm chứng rối loạn vận động của quinpirole.

Trong các thử nghiệm trên động vật, việc sử dụng levodopa lâu dài đã tạo ra các rối loạn cử động miệng và lưỡi không tự chủ ngày càng nghiêm trọng và tình trạng này đã thuyên giảm do WIN 55,212-2. Hiệu ứng này cũng có thể bị đảo ngược bởi rimonabant. Trong những nghiên cứu khác, rimonabant được cho là có tác dụng tích cực đối với những rối loạn vận động điển hình ở bệnh lý parkinson, ở một số liều nhất định.

Cannabinoid nội sinh với nồng độ cao được tìm thấy ở những bệnh nhân Parkinson không được điều trị. Việc sử dụng các chất ức chế sự suy giảm các nhóm cannabinoid nội sinh đã làm giảm sự rối loạn vận động ở người bị Parkinson. Do đó, các chất chủ vận và chất đối kháng của những thụ thể của cannabinoid dường như có tác dụng trong việc điều trị một số triệu chứng của Parkinson.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, chất chủ vận thụ thể cannabinoid – nabilone đã làm giảm một cách đáng kể những rối loạn vận động do levodopa gây ra khi điều trị Parkinson. THC giúp cải thiện khả năng kiểm soát vận động ở bệnh nhân mắc loạn trương lực cơ. Ngoài ra, trong một bảng khảo sát ẩn danh được gửi đến tất cả các bệnh nhân có mặt tại Prague Movement Disorder Center cho thấy có 25% số người được hỏi đã sử dụng cần sa và 45,9% trong số này cho thấy những tác dụng có lợi. Vì thế, những hợp chất cannabinoid dường như có thể điều trị được một số triệu chứng của bệnh lý thần kinh này.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế và cơn đau thần kinh mãn tính

Cần sa đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ như là một chất giảm đau. Bằng chứng cho thấy rằng những hợp chất cannabinoid có trong cần sa có thể kiểm soát những cơn đau bằng cách ức chế sự dẫn truyền tế bào thần kinh trong các con đường gây ra cơn đau. Khi đánh giá về tác dụng giảm kích thích đau một cách rõ rệt của những hợp chất cannabinoid, chúng được đề xuất là một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn để kiểm soát lâm sàng chứng đau dây thần kinh sinh ba.

 

THC, CBD và CBD-dimethyl heptyl (DMH) được cho là có thể ngăn chặn sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu bởi huyết tương thu được từ những bệnh nhân đau nửa đầu. Một nghiên cứu cho thấy rằng khi THC được sử dụng cho bệnh nhân bị sốt Địa Trung Hải, với các cơn đau tái phát mãn tính và viêm đường tiêu hóa, kết quả được ghi nhận là mức độ các cơn đau giảm đi đáng kể. Sự cải thiện nhẹ đã được ghi nhận với các loại thuốc dựa trên các hợp chất từ cần sa để điều trị các cơn đau mãn tính liên quan đến nhổ rễ dây thần kinh cánh tay.

 

Ở những bệnh nhân đau thần kinh, cường độ đau tự phát trung bình khi được điều trị bằng THC thấp hơn đáng kể so với điều trị bằng giả dược, và điểm giảm đau trung bình (thang đánh giá bằng số) cao hơn. Nó cũng có hiệu quả trong điều trị đau thần kinh trung ương. Việc sử dụng THC đơn liều để điều trị cơn đau do ung thư cũng cho thấy tác dụng giảm đau nhẹ. Những bệnh nhân mắc phải các cơn đau cũng có xu hướng tự điều trị bằng cần sa y tế.

 

Trong một cuộc khảo sát ẩn danh, 72 (35%) bệnh nhân với cơn đau mãn tính không do ung thư cho biết đã sử dụng cần sa để giảm đau. Các bệnh nhân AIDS được điều trị bằng cần sa cho biết họ có cải thiện sự thèm ăn, giảm đau cơ, buồn nôn, lo lắng, đau dây thần kinh, trầm cảm và dị cảm. Không chỉ THC, mà tất cả các loại cannabinoid khác cũng có tác dụng giảm đau đến những cơn đau khác nhau. Nabilone là một cannabinoid tổng hợp được phê duyệt để điều trị buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng liên quan đến việc hóa trị liệu ở bệnh ung thư.

 

Ở Canada, Hoa Kỳ và Anh Quốc, nabilone được thương mại hóa dưới cái tên Cesamet. Nabilone có thể làm giảm đáng kể các cơn đau liên quan đến tình trạng co cứng ở các bệnh nhân mắc hội chứng dây thần kinh vận động trên (UMNS) mãn tính. Một cannabinoid khác, axit ajulemic (AJA), có hiệu quả trong việc giảm đau dây thần kinh mãn tính, mặc dù chúng có thể xuất hiện một số tác dụng phụ như mệt mỏi, khô miệng, hạn chế khả năng tập trung, chóng mặt, đổ mồ hôi.

Sự kết hợp giữa THC và CBD (cannabinoid không mang tác động thần kinh) có hoạt tính cao hơn nhiều so với THC đơn thuần. Thuốc xịt CBD/THC (Sativex) được cho là có hiệu quả trong việc điều trị chứng đau thần kinh ở bệnh đa xơ cứng (MS). Đau thần kinh mãn tính cũng có thể được điều trị bằng chiết xuất cần sa có chứa THC hoặc CBD, hoặc với Sativex. Những hợp chất cannabinoid này cũng có hiệu quả trong việc giảm rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân này và hầu hết được dung nạp tốt. Sativex là loại thuốc làm từ cần sa đầu tiên, trải qua quá trình phát triển lâm sàng thông thường và được phê duyệt dưới dạng thuốc kê đơn. Nó có hiệu quả và được dung nạp tốt trong điều trị các triệu chứng của bệnh đa xơ cứng, và đặc biệt là chứng co cứng và đau thần kinh. Sativex đã được phê duyệt để sử dụng trong điều trị đau thần kinh do bệnh đa xơ cứng ở Canada.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế – Giải pháp an toàn hơn trong điều trị các cơn đau mãn tính

Cơn đau mãn tính và chứng nghiện opioid đã hủy hoại vô số mảnh đời và thay đổi cục diện y học.

Đau là một phần thiết yếu của cuộc sống, nó giúp chúng ta biết được khi nào cần tránh nguy hiểm, thay đổi, nghỉ ngơi hoặc yêu cầu giúp đỡ. Tuy nhiên, có một số cơn đau vẫn tiếp tục sau khi mối đe dọa đã biến mất. Bệnh nhân đau mãn tính thường rất căng thẳng, thiếu ngủ và cảm thấy tuyệt vọng.

Một số bệnh nhân cảm thấy tuyệt vọng về hệ thống y tế khi họ bị từ chối điều trị hiệu quả cho các cơn đau mãn tính. Một số người khác thì cảm thấy bị tổn thương vì những trung tâm cung cấp dịch vụ y tế đã bắt họ sử dụng các loại thuốc nhóm opioid, dẫn đến tình trạng nghiện và hủy hoại đi cuộc sống của chính họ. Những trung tâm chăm sóc sức khỏe cũng cảm thấy thất vọng vì không thể làm gì nhiều hơn để giúp đỡ những bệnh nhân bị đau mãn tính, và cảm thấy vô cùng áy náy vì đã cung cấp các phương pháp điều trị ngắn hạn hiệu quả nhưng mang đến những tác hại lâu dài.

Thật may mắn khi đã có một giải pháp khác an toàn, hiệu quả và có thể sử dụng lâu dài. Cần sa y tế được xem như là một loại thuốc hiệu quả để điều trị các cơn đau mãn tính.

Chúng tôi nhận thấy rằng những bệnh nhân đã và đang sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid, sau khi bắt đầu sử dụng cần sa y tế thì liều lượng sử dụng nhóm thuốc này giảm ít nhất 50% trong tuần đầu tiên. Thông thường, có thể giảm đến 60-80%. Nhiều bệnh nhân đã có thể ngừng sử dụng hoàn toàn nhóm thuốc giảm đau này trong vài tháng tiếp theo. Họ cũng thường cắt giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau khác, bao gồm thuốc chống trầm cảm và thuốc chống động kinh.

Một nghiên cứu khoa học cũng cho thấy điều tương tự. Một bài nghiên cứu tổng quan được xuất bản trên tạp chí Life Sciences (2004) kết luận rằng: “Việc sử dụng THC liều thấp kết hợp với morphin liều thấp có thể là một phương pháp điều trị thay thế giúp làm giảm nhu cầu tăng liều opioid trong khi gia tăng tính hiệu quả của opioid”. Một nghiên cứu trên mô hình động vật cho thấy rằng việc bổ sung một lượng nhỏ THC có thể làm tăng hiệu quả của morphin lên 4 đến 12 lần.

Và mặc dù những loại cannabinoid, như THC, có thể hoạt động cùng với các loại thuốc nhóm opioid để làm tăng hiệu lực ở các trung tâm thụ cảm đau của não, nhưng nó không có những tác động đáng kể đến thân não – khu vực chịu trách nhiệm cho việc giảm nhịp tim, thở chậm hơn và cuối cùng là tử vong ở những trường hợp dùng quá liều thuốc giảm đau nhóm opioid. Điều này có nghĩa là sử dụng cần sa y tế với opioid an toàn hơn khi sử dụng opioid một mình.

Những bệnh nhân với cơn đau mãn tính đang dần chú ý đến sự kết hợp này. Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Harm Reduction (2009) đã theo dõi 350 người sử dụng cần sa y tế và phát hiện ra rằng 65% trong số họ đang sử dụng cần sa y tế để thay thế cho thuốc kê đơn, 40% sử dụng nó như một chất thay thế cho đồ uống có cồn, và 26% sử dụng nó như một chất thay thế cho ma túy bất hợp pháp. Ngoài ra, có một số người trong số đó đã sử dụng cần sa y tế để giúp họ cai thuốc lá. Những lý do phổ biến nhất để giải thích cho sự thay thế này là chúng có ít tác dụng phụ bất lợi hơn, kiểm soát các triệu chứng tốt hơn và ít bỏ thuốc hơn.

Cần sa y tế có thể an toàn hơn hầu hết các phương pháp hiện tại của chúng ta để điều trị các cơn đau mãn tính. Vào năm 1999, Viện Y học Hoa Kỳ đã công bố một bài báo cáo nêu rõ “Ngoại trừ những tác hại liên quan đến việc hút thuốc, những tác dụng phụ của việc sử dụng cần sa y tế nằm trong phạm vi cho phép khi so sánh với các loại thuốc khác”, và “không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy cần sa gây ung thư cho con người”.

Không giống với thuốc giảm đau nhóm opioid, cần sa y tế có thể duy trì hiệu quả với một liều lượng thấp trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ. Trong khi nhóm opioid có thể làm tê liệt các cơn đau và ngắt kết nối cảm nhận giữa tâm trí với cơ thể, làm tăng nguy cơ dẫn đến các hoạt động không phù hợp và tái chấn thương, cần sa y tế thường có cơ chế ngược lại. Các bệnh nhân cho biết sau khi sử dụng cần sa y tế, các cơn đau vẫn còn nhưng ít dữ dội hơn, ít gây khó chịu hơn và họ không còn phải chú ý vào nó nữa. Tuy nhiên, điều này cũng không có nghĩa là cần sa y tế là một loại thuốc tuyệt vời dành cho tất cả mọi người.

Nguồn: Healer | Medical Cannabis – The Safer Solution to Chronic Pain

Dịch giả: Thiên Minh

Bài viết được xem nhiều nhất