Parkinson và Cần sa y tế

Parkinson là bệnh lý thoái hóa thần kinh mạn tính và tiến triển từ từ tăng dần. Đặc điểm bệnh lý chính của Parkinson là sự thoái hóa các tế bào thần kinh chứa dopamine (DA) của phần đặc chất đen, dẫn đến sự suy giảm nơron dopaminergic ở vùng vân. Việc mất kiểm soát chức năng điều hòa DA không thể phục hồi dẫn đến các triệu chứng điển hình thường thấy ở bệnh này như chậm cử động, run tay khi nghỉ và tay chân cứng dần. Người ta tin rằng những hợp chất cannabinoid có thể có mang đến một số tác dụng có lợi trong việc điều trị bệnh parkinson. Trong các thí nghiệm trên động vật, cannabinoid cung cấp sự bảo vệ cho tế bào thần kinh chống lại độc tính 6-hydroxydopamine trong thí nghiệm in vivo và in vitro.

Phần lớn bệnh nhân parkinson đang điều trị với levodopa phát triển các biến chứng rối loạn vận động trong vòng 10 năm điều trị. Những nghiên cứu gần đây trên động vật và tại phòng khám cho thấy rằng các chất đối kháng thụ thể CB1 có vẻ tỏ ra hữu hiệu trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh lý Parkinson và rối loạn vận động do levodopa, trong đó các chất chủ vận thụ thể CB1 có thể mang đến nhiều giá trị trong việc làm giảm rối loạn vận động do levodopa gây ra.

Trong mô hình thử nghiệm trên chuột bị parkinson được điều trị bằng Reserpine, chất chủ vận thụ thể dopamine D2 – quinpirole đã làm giảm chứng rối loạn vận động một cách đáng kể. Hiệu quả này bị giảm đi một cách đáng kể khi tiêm đồng thời với chất chủ vận thụ thể cannabinoid WIN 55,212-2. Việc sử dụng đồng thời thuốc đối kháng CB1 (rimonabant) với quinpirole và WIN 55,212-2 đã ngăn chặn tác dụng của WIN 55,212-2 trong việc giảm chứng rối loạn vận động của quinpirole.

Trong các thử nghiệm trên động vật, việc sử dụng levodopa lâu dài đã tạo ra các rối loạn cử động miệng và lưỡi không tự chủ ngày càng nghiêm trọng và tình trạng này đã thuyên giảm do WIN 55,212-2. Hiệu ứng này cũng có thể bị đảo ngược bởi rimonabant. Trong những nghiên cứu khác, rimonabant được cho là có tác dụng tích cực đối với những rối loạn vận động điển hình ở bệnh lý parkinson, ở một số liều nhất định.

Cannabinoid nội sinh với nồng độ cao được tìm thấy ở những bệnh nhân Parkinson không được điều trị. Việc sử dụng các chất ức chế sự suy giảm các nhóm cannabinoid nội sinh đã làm giảm sự rối loạn vận động ở người bị Parkinson. Do đó, các chất chủ vận và chất đối kháng của những thụ thể của cannabinoid dường như có tác dụng trong việc điều trị một số triệu chứng của Parkinson.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, chất chủ vận thụ thể cannabinoid – nabilone đã làm giảm một cách đáng kể những rối loạn vận động do levodopa gây ra khi điều trị Parkinson. THC giúp cải thiện khả năng kiểm soát vận động ở bệnh nhân mắc loạn trương lực cơ. Ngoài ra, trong một bảng khảo sát ẩn danh được gửi đến tất cả các bệnh nhân có mặt tại Prague Movement Disorder Center cho thấy có 25% số người được hỏi đã sử dụng cần sa và 45,9% trong số này cho thấy những tác dụng có lợi. Vì thế, những hợp chất cannabinoid dường như có thể điều trị được một số triệu chứng của bệnh lý thần kinh này.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế và cơn đau thần kinh mãn tính

Cần sa đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ như là một chất giảm đau. Bằng chứng cho thấy rằng những hợp chất cannabinoid có trong cần sa có thể kiểm soát những cơn đau bằng cách ức chế sự dẫn truyền tế bào thần kinh trong các con đường gây ra cơn đau. Khi đánh giá về tác dụng giảm kích thích đau một cách rõ rệt của những hợp chất cannabinoid, chúng được đề xuất là một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn để kiểm soát lâm sàng chứng đau dây thần kinh sinh ba.

 

THC, CBD và CBD-dimethyl heptyl (DMH) được cho là có thể ngăn chặn sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu bởi huyết tương thu được từ những bệnh nhân đau nửa đầu. Một nghiên cứu cho thấy rằng khi THC được sử dụng cho bệnh nhân bị sốt Địa Trung Hải, với các cơn đau tái phát mãn tính và viêm đường tiêu hóa, kết quả được ghi nhận là mức độ các cơn đau giảm đi đáng kể. Sự cải thiện nhẹ đã được ghi nhận với các loại thuốc dựa trên các hợp chất từ cần sa để điều trị các cơn đau mãn tính liên quan đến nhổ rễ dây thần kinh cánh tay.

 

Ở những bệnh nhân đau thần kinh, cường độ đau tự phát trung bình khi được điều trị bằng THC thấp hơn đáng kể so với điều trị bằng giả dược, và điểm giảm đau trung bình (thang đánh giá bằng số) cao hơn. Nó cũng có hiệu quả trong điều trị đau thần kinh trung ương. Việc sử dụng THC đơn liều để điều trị cơn đau do ung thư cũng cho thấy tác dụng giảm đau nhẹ. Những bệnh nhân mắc phải các cơn đau cũng có xu hướng tự điều trị bằng cần sa y tế.

 

Trong một cuộc khảo sát ẩn danh, 72 (35%) bệnh nhân với cơn đau mãn tính không do ung thư cho biết đã sử dụng cần sa để giảm đau. Các bệnh nhân AIDS được điều trị bằng cần sa cho biết họ có cải thiện sự thèm ăn, giảm đau cơ, buồn nôn, lo lắng, đau dây thần kinh, trầm cảm và dị cảm. Không chỉ THC, mà tất cả các loại cannabinoid khác cũng có tác dụng giảm đau đến những cơn đau khác nhau. Nabilone là một cannabinoid tổng hợp được phê duyệt để điều trị buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng liên quan đến việc hóa trị liệu ở bệnh ung thư.

 

Ở Canada, Hoa Kỳ và Anh Quốc, nabilone được thương mại hóa dưới cái tên Cesamet. Nabilone có thể làm giảm đáng kể các cơn đau liên quan đến tình trạng co cứng ở các bệnh nhân mắc hội chứng dây thần kinh vận động trên (UMNS) mãn tính. Một cannabinoid khác, axit ajulemic (AJA), có hiệu quả trong việc giảm đau dây thần kinh mãn tính, mặc dù chúng có thể xuất hiện một số tác dụng phụ như mệt mỏi, khô miệng, hạn chế khả năng tập trung, chóng mặt, đổ mồ hôi.

Sự kết hợp giữa THC và CBD (cannabinoid không mang tác động thần kinh) có hoạt tính cao hơn nhiều so với THC đơn thuần. Thuốc xịt CBD/THC (Sativex) được cho là có hiệu quả trong việc điều trị chứng đau thần kinh ở bệnh đa xơ cứng (MS). Đau thần kinh mãn tính cũng có thể được điều trị bằng chiết xuất cần sa có chứa THC hoặc CBD, hoặc với Sativex. Những hợp chất cannabinoid này cũng có hiệu quả trong việc giảm rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân này và hầu hết được dung nạp tốt. Sativex là loại thuốc làm từ cần sa đầu tiên, trải qua quá trình phát triển lâm sàng thông thường và được phê duyệt dưới dạng thuốc kê đơn. Nó có hiệu quả và được dung nạp tốt trong điều trị các triệu chứng của bệnh đa xơ cứng, và đặc biệt là chứng co cứng và đau thần kinh. Sativex đã được phê duyệt để sử dụng trong điều trị đau thần kinh do bệnh đa xơ cứng ở Canada.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế – Giải pháp an toàn hơn trong điều trị các cơn đau mãn tính

Cơn đau mãn tính và chứng nghiện opioid đã hủy hoại vô số mảnh đời và thay đổi cục diện y học.

Đau là một phần thiết yếu của cuộc sống, nó giúp chúng ta biết được khi nào cần tránh nguy hiểm, thay đổi, nghỉ ngơi hoặc yêu cầu giúp đỡ. Tuy nhiên, có một số cơn đau vẫn tiếp tục sau khi mối đe dọa đã biến mất. Bệnh nhân đau mãn tính thường rất căng thẳng, thiếu ngủ và cảm thấy tuyệt vọng.

Một số bệnh nhân cảm thấy tuyệt vọng về hệ thống y tế khi họ bị từ chối điều trị hiệu quả cho các cơn đau mãn tính. Một số người khác thì cảm thấy bị tổn thương vì những trung tâm cung cấp dịch vụ y tế đã bắt họ sử dụng các loại thuốc nhóm opioid, dẫn đến tình trạng nghiện và hủy hoại đi cuộc sống của chính họ. Những trung tâm chăm sóc sức khỏe cũng cảm thấy thất vọng vì không thể làm gì nhiều hơn để giúp đỡ những bệnh nhân bị đau mãn tính, và cảm thấy vô cùng áy náy vì đã cung cấp các phương pháp điều trị ngắn hạn hiệu quả nhưng mang đến những tác hại lâu dài.

Thật may mắn khi đã có một giải pháp khác an toàn, hiệu quả và có thể sử dụng lâu dài. Cần sa y tế được xem như là một loại thuốc hiệu quả để điều trị các cơn đau mãn tính.

Chúng tôi nhận thấy rằng những bệnh nhân đã và đang sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid, sau khi bắt đầu sử dụng cần sa y tế thì liều lượng sử dụng nhóm thuốc này giảm ít nhất 50% trong tuần đầu tiên. Thông thường, có thể giảm đến 60-80%. Nhiều bệnh nhân đã có thể ngừng sử dụng hoàn toàn nhóm thuốc giảm đau này trong vài tháng tiếp theo. Họ cũng thường cắt giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau khác, bao gồm thuốc chống trầm cảm và thuốc chống động kinh.

Một nghiên cứu khoa học cũng cho thấy điều tương tự. Một bài nghiên cứu tổng quan được xuất bản trên tạp chí Life Sciences (2004) kết luận rằng: “Việc sử dụng THC liều thấp kết hợp với morphin liều thấp có thể là một phương pháp điều trị thay thế giúp làm giảm nhu cầu tăng liều opioid trong khi gia tăng tính hiệu quả của opioid”. Một nghiên cứu trên mô hình động vật cho thấy rằng việc bổ sung một lượng nhỏ THC có thể làm tăng hiệu quả của morphin lên 4 đến 12 lần.

Và mặc dù những loại cannabinoid, như THC, có thể hoạt động cùng với các loại thuốc nhóm opioid để làm tăng hiệu lực ở các trung tâm thụ cảm đau của não, nhưng nó không có những tác động đáng kể đến thân não – khu vực chịu trách nhiệm cho việc giảm nhịp tim, thở chậm hơn và cuối cùng là tử vong ở những trường hợp dùng quá liều thuốc giảm đau nhóm opioid. Điều này có nghĩa là sử dụng cần sa y tế với opioid an toàn hơn khi sử dụng opioid một mình.

Những bệnh nhân với cơn đau mãn tính đang dần chú ý đến sự kết hợp này. Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Harm Reduction (2009) đã theo dõi 350 người sử dụng cần sa y tế và phát hiện ra rằng 65% trong số họ đang sử dụng cần sa y tế để thay thế cho thuốc kê đơn, 40% sử dụng nó như một chất thay thế cho đồ uống có cồn, và 26% sử dụng nó như một chất thay thế cho ma túy bất hợp pháp. Ngoài ra, có một số người trong số đó đã sử dụng cần sa y tế để giúp họ cai thuốc lá. Những lý do phổ biến nhất để giải thích cho sự thay thế này là chúng có ít tác dụng phụ bất lợi hơn, kiểm soát các triệu chứng tốt hơn và ít bỏ thuốc hơn.

Cần sa y tế có thể an toàn hơn hầu hết các phương pháp hiện tại của chúng ta để điều trị các cơn đau mãn tính. Vào năm 1999, Viện Y học Hoa Kỳ đã công bố một bài báo cáo nêu rõ “Ngoại trừ những tác hại liên quan đến việc hút thuốc, những tác dụng phụ của việc sử dụng cần sa y tế nằm trong phạm vi cho phép khi so sánh với các loại thuốc khác”, và “không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy cần sa gây ung thư cho con người”.

Không giống với thuốc giảm đau nhóm opioid, cần sa y tế có thể duy trì hiệu quả với một liều lượng thấp trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ. Trong khi nhóm opioid có thể làm tê liệt các cơn đau và ngắt kết nối cảm nhận giữa tâm trí với cơ thể, làm tăng nguy cơ dẫn đến các hoạt động không phù hợp và tái chấn thương, cần sa y tế thường có cơ chế ngược lại. Các bệnh nhân cho biết sau khi sử dụng cần sa y tế, các cơn đau vẫn còn nhưng ít dữ dội hơn, ít gây khó chịu hơn và họ không còn phải chú ý vào nó nữa. Tuy nhiên, điều này cũng không có nghĩa là cần sa y tế là một loại thuốc tuyệt vời dành cho tất cả mọi người.

Nguồn: Healer | Medical Cannabis – The Safer Solution to Chronic Pain

Dịch giả: Thiên Minh

Bài viết được xem nhiều nhất