Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19

Photo: iStock-Darren415©

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng cần sa y tế có thể có tiềm năng trong việc điều trị các triệu chứng của COVID-19.

COVID-19 không có dấu hiệu chậm lại và vắc-xin sẽ được công bố trong vài tháng, thậm chí một năm. Sự nôn nóng để dùng loại thuốc đã có mặt trên thị trường dẫn đến việc một số chính phủ phải mua vào kịch liệt nhằm giảm tác động của một loại vi rút ngấm ngầm.

Cùng với việc rất nhiều chuyên gia y tế đang tìm kiếm một phương pháp chữa trị – hoặc, thất bại đó, chiến lược phòng ngừa tốt nhất ngoài khẩu trang và giãn cách xã hội – là nên lùi lại một bước để xem vai trò của cần sa y tế trong việc giúp giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bởi COVID-19 như thế nào.

Coronavirus hoạt động như thế nào?

Vi rút sử dụng các protein có bề mặt gai nhọn của nó để bám vào các thụ thể được tìm thấy trên các tế bào khỏe mạnh, đặc biệt là các thụ thể được tìm thấy trong phổi. Các protein virus này đi qua các thụ thể ACE2; và một khi chúng đã vào được bên trong, coronavirus sẽ bắt giữ các tế bào khỏe mạnh và nắm quyền chỉ huy. Cuối cùng, nó giết chết một số tế bào khỏe mạnh.

Vi rút tác động đến hệ hô hấp bằng cách di chuyển xuống đường hô hấp của bạn. Bao gồm miệng, mũi, họng và phổi. Tuy nhiên, do đường hô hấp dưới có nhiều thụ thể ACE2 hơn phần còn lại của đường hô hấp, COVID-19 có nhiều khả năng di chuyển sâu hơn các loại vi rút khác như cảm lạnh thông thường. Đây là điều làm cho COVID-19 mạnh hơn so với cảm lạnh trung bình hoặc các loại cúm khác. Khi vi rút xâm nhập vào phổi, nó khiến người ta khó thở – đặc biệt hơn là nó dẫn đến viêm phổi.

Đối với hầu hết mọi người (khoảng 80%), các triệu chứng là ho và sốt. Đối với những người không may bị nặng hơn, tình trạng nhiễm trùng có thể trở nên rất nặng. Khoảng 5 đến 8 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu, một số người sẽ bị khó thở và có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) vài ngày sau đó.

Cần sa có tác dụng gì?

Các cannabinoid như cannabidiol (CBD) có lịch sử sử dụng an toàn và chứa một số đặc tính có thể hữu ích trong việc điều trị các triệu chứng y tế nhất định: CBD có đặc tính chống viêm và có thể hoạt động như một chất chống co mạch, có khả năng giảm đau và giảm lo lắng. Kết hợp với các cannabinoid và tecpen khác, cũng như can thiệp lâm sàng cần thiết, CBD có nhiều tiềm năng để điều trị các triệu chứng của vi rút như COVID-19. Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa cũng đã được chứng minh là làm giảm đông máu ở các mô hình thí nghiệm động vật; người ta biết rằng nhiều tác dụng tiêu cực trên toàn cơ thể của COVID-19 dường như có liên quan đến việc đông máu bị thay đổi, vì thế có thể cần sa có thể hữu ích trong việc kiểm soát những di chứng này.

Cần sa y tế có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị COVID-19 hay không?

Phòng ngừa

Cho đến nay, phạm vi và khoảng cách của dữ liệu nghiên cứu có thể xác minh được mối liên kết giữa việc cannabinoid và việc phòng ngừa COVID-19 là còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các cách tiếp cận mới để phòng ngừa COVID-19 bao gồm một nghiên cứu đã giám định khả năng kết hợp của CBD vào các dung dịch uống; chẳng hạn như nước súc miệng và thuốc súc họng nhằm mục đích “giảm hoặc điều chỉnh mức ACE2 trong các mô có nguy cơ cao”. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ ACE2 thay đổi trong quá trình tiến triển của COVID-19 và do đó khả năng điều chỉnh các mức này trở nên đặc biệt quan trọng vì ACE2 đã được chứng minh là cần thiết cho chức năng phổi trong các mô hình động vật nhiễm virus SARS.

Giảm mức độ nghiêm trọng và tác động

Trong các phân tích về COVID-19, người ta quan tâm nhiều đến Hội chứng phóng thích Cytokine (Cytokine Release Syndrome – CRS), trong đó quá nhiều protein cytokine được giải phóng trong cơ thể: những protein này có thể tấn công phổi và áp đảo hệ thống miễn dịch bằng cách căng phồng phổi quá mức. Các bằng chứng ban đầu đã chỉ ra rằng CBD và THC có thể có ích trong việc điều trị những bệnh nhân có phản ứng viêm trong cơ thể đã có khả năng gây bệnh.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào khả năng của các cannabinoid và các terpen nhằm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch mà không ngăn chặn nó. Những phát hiện ban đầu trong một nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi nhà sản xuất terpene Eybna và công ty nghiên cứu và phát triển cần sa CannaSoul Analytics. Cả hai đều đến từ Israel, họ dường như đã chỉ ra rằng sự kết hợp của các tecpen và các cannabinoid được sử dụng có hiệu quả gấp hai lần so với khi sử dụng thuốc chống viêm dexamethasone để giảm viêm từ COVID-19. Nghiên cứu vẫn chưa được thẩm định bình duyệt.

Một phương pháp mới khác hiện đang được nghiên cứu ở Israel là phát triển một phương pháp điều trị tế bào tiềm năng bằng cách sử dụng các túi ngoại bào exosomes và nạp CBD để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mục đích của công nghệ này là “nhắm mục tiêu vào hệ thống thần kinh trung ương và coronavirus COVID-19”. Các túi ngoại bào exosomes được nạp CBD có khả năng cung cấp tương tác hiệp đồng cao của các đặc tính chống viêm bằng cách nhắm cụ thể vào các cơ quan bị tổn thương chẳng hạn như các tế bào phổi đã bị nhiễm trùng.

Có thể làm gì để tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực này?

Nghiên cứu về tiềm năng y tế của cần sa nổi tiếng vì sự phức tạp của các quy trình ứng dụng và khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp cần sa. Ở Úc, việc chỉ sử dụng CBD mà không có hàm lượng THC trong các hoạt động nghiên cứu yêu cầu cơ sở học thuật đó phải xin giấy phép đặc biệt để cho phép họ thu thập và lưu trữ cannabinoid vì nó vẫn là một loại thuốc thuộc Bảng 9 ở đất nước này mặc dù chúng không có đặc tính tác động đến thần kinh.

Đại dịch COVID-19 có thể sẽ tiếp tục trong nhiều tháng nữa; và đây có thể không phải là loại coronavirus mới nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong đời. Do đó, phận sự nằm ở các chính phủ có trách nhiệm làm cho việc nghiên cứu tiềm năng của các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như cần sa, dễ dàng hơn cho các cơ quan nghiên cứu và phòng thí nghiệm tư nhân.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Health Europa | Medicinal cannabis may play a significant role during COVID-19

Continue reading “Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19”

Humulene là gì và chức năng của loại terpen cần sa này là gì?

Humulene là gì và chức năng của loại terpen Cần Sa này là gì?
Humulene là gì và chức năng của loại terpen cần sa này là gì?

Không chỉ đơn thuần mang mùi hương quyến rũ, cần sa chưa một loại terpene đặc biệt mang tên Humulence. Loại terpene này được tìm thấy trong nhiều loại thực vật và đã được sử dụng trong nhiều bài thuốc phương Đông hàng thế kỷ nay.

Humulene cũng không còn xa lạ đối với ngành nghiên cứu y học hiện đại, bao gồm những nghiên cứu trên tiêu đen, thuốc phiện và nhân sâm, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó là một chất có khả năng kháng viêm, kháng khuẩn và ức chế sự thèm ăn hiệu quả.

Trong cần sa có chứa humulene

Trong cần sa, humulene là một loại terpene khá phổ biến và hiện diện với một khối lượng nhỏ trong nhiều chủng cần sa, góp phần mang lại mùi vị cay nồng, hương thảo mộc và phảng phất hương cây cỏ đặc trưng vô cùng tinh tế.

Giống như myrcene và pinene, humulene là một yếu tố cơ bản trong bản miêu tả tổng quan về mùi hương của cần sa.

Tuy nhiên, humulene xuất hiện với lượng nhỏ hơn so với hai loại còn lại, tham gia một phần nhỏ trong mô tả sơ lược về mùi vị của cây trồng bằng mùi hương đất và hoa cỏ phảng phất của nó.

Một số giống cần sa có nồng độ humulene cao hơn mức trung bình là :

  • Death Star
  • Headband
  • Thin Mint GSC
  • Original Glue
  • Candyland
giống cần sa có nồng độ humulene cao hơn mức trung bình
giống cần sa có nồng độ humulene cao hơn mức trung bình

Death Star là một ví dụ về giống có chứa lượng humulene tương đối cao so với hầu hết các loại cần sa, theo dữ liệu phòng thí nghiệm từ Confidence Analytics. Như đã được thể hiện trong biểu đồ trên, một lượng lớn humulene và caryphyllene thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Bản mô tả sơ lược độc nhất của Humulene

Humulene, từng được phân loại như α-caryophyllene, là một loại sesquiterpene được đặt tên theo Humulus lupulus, hay còn gọi là hoa bia. Hoa bia và cần sa đều thuộc cùng một họ phân loại Cannabaceae, và humulene đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp mùi thơm cho cả hai loại cây.

Humulene có cùng công thức hóa học với họ hàng gần của nó, β-caryophyllene, tuy nhiên, hai loại sesquiterpene này khác nhau về mặt cấu trúc. Rất nhiều loại cây tương tự có chứa β-caryophyllene – như húng quế, ngải đắng và đinh hương – cũng chứa humulene, và cả hai đều có mùi thơm rất giống nhau.

Những ích lợi và hiệu quả của Humulene

Tiềm năng y học và ứng dụng để chữa bệnh của humulene có thể được nâng cao và nghiên cứu chuyên sâu. Một nghiên cứu vào năm 2016 đã chỉ ra rằng humulene có thể triệt tiêu các tế bào ung thư khi kết hợp với phytocannabinoids và các loại terpene khác.
Humulene có mặt trong nhiều loại dầu trị liệu chiết xuất từ thiên nhiên và đã có từ nhiều thế kỉ. Terpene có trong dầu cây linh sam thuộc họ Balsaminaceae (còn được biết đến với cái tên dầu chiết xuất từ cây linh sam), được tin rằng là một cơ chế hiệu quả trong việc đấu tranh chống lại các khối u, được minh chứng bởi khả năng sản sinh cơ chế chống oxy hoá của các gốc tự do trong cơ thể.

Trong một nghiên cứu khác, loại dầu này còn có khả năng kháng khuẩn và cho thấy nó có hoạt tính chống vi khuẩn Staphylococcus aureus (hay vi khuẩn tụ cầu vàng) khi được dùng với khối lượng nhỏ. Vi khuẩn tụ cầu vàng luôn tồn tại trong cơ thể chúng ta, và có thể đóng vai trò gây một loạt các bệnh nhiễm trùng và bệnh tật khó chịu khi được tiếp xúc.

Humulene còn tham gia vào quá trình nghiên cứu dược động học – ngành nghiên cứu cách cơ thế hấp thụ, phân phối, chuyển hoá và bài tiết thuốc – cho thấy khả năng được phân phối nhanh trong cơ thế thông qua đường miệng và hấp thụ cục bộ một loại dầu có nguồn gốc từ cây Xô Thơm Đen nhiệt đới (Cordia Verbenacea). Dầu từ loại cây này cũng cho thấy khả năng kháng viêm, diệt nấm và kháng khuẩn. Humulene cũng giữ một chức năng quan trọng trong vòng đời của cây cần sa trước khi được thu hoạch. Bắt đầu từ túm lông ở phần đầu, humulene và các loại terpene khác hỗ trợ khả năng tự vệ của cây bằng cách ngăn chặn sâu bọ và chống nhiễm nấm.

 

Dịch giả: Hue Narry

Thuốc cần sa – Siêu kháng sinh của tương lai?

Photo Credit: Google Mosaic – Cannabinoids Battle Infection

Các chuyên gia y tế gọi vấn đề này là một tình trạng khẩn cấp trên toàn thế giới. Nạn dịch nhiễm trùng do vi khuẩn không thể kiểm soát được này sẽ gây tử vong cho vô số người già và những người bị suy giảm miễn dịch. Ngày nay, các phương pháp điều trị và phẫu thuật thường quy bao gồm cả các bệnh nhiễm khuẩn, một điều có phần hiếm gặp trong quá khứ.  Công cuộc hợp pháp hoá cần sa cần sa y tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu lâm sàng, đem lại một số phát hiện đáng khích lệ.  Một số nhà nghiên cứu lỗi lạc đang bắt đầu tự hỏi liệu các dạng siêu kháng sinh trong tương lai sẽ được tạo ra trên nền tảng từ các hoạt chất cannabinoid có trong cần sa hay không?

“Nếu không có những hành động phối hợp khẩn cấp của các bên liên quan, thế giới sẽ không thể tránh khỏi một kỷ nguyên hậu kháng sinh.  Các bệnh nhiễm trùng thường gặp và thương tích nhẹ vốn đã được điều trị hàng thập kỷ qua có thể sẽ một lần nữa gây ra nhiều thương vong cho loài người.” – Bác sĩ Keiji Fukuda thuộc Tổ chức Y tế Thế giới phát biểu qua đài BBC

Những loại thuốc kháng sinh đầu tiên xuất hiện trên thị trường vào năm 1911/1912 nhưng chúng khá độc, thậm chí một số có chứa arsen (bạn có tin nổi không).  Cho đến những năm 1930, thuốc kháng sinh vẫn không được kê toa một cách rộng rãi.  Trong Chiến tranh Thế giới thứ II, penicillin đã được sử dụng để cứu sống nhiều người lính.  Kể từ đó, đã có rất nhiều dòng kháng sinh đã được phát triển và đưa ra thị trường.  Các loại chính bao gồm:

  • Nhóm Penicillin:  penicillin và amoxicillin
  • Nhóm Cephalosporin: cephalexin (Keflex)
  • Nhóm Macrolide: erythromycin (E-Mycin), clarithromycin (Biaxin), và azithromycin (Zithromax)
  • Nhóm Fluoroquinolone: ciprofloxacin (Cipro), levofloxacin (Levaquin), và ofloxacin (Floxin)
  • Nhóm Sulfonamid: co-trimoxazole (Bactrim) và trimethoprim (Proloprim)
  • Nhóm Tetracycline: tetracycline (Sumycin, Panmycin) và doxycycline (Vibramycin)
  • Nhóm Aminoglycoside: gentamicin (Garamycin) và tobramycin (Tobrex)

Không may thay, một số bác sĩ và một số người nhận thuốc do họ kê toa đã dùng các loại thuốc kháng sinh này để chữa trị mọi thứ bệnh nhẹ và rối loạn vặt vãnh.  Trong quá trình tiến hóa, các vi khuẩn biến đổi để sinh tồn, một số đặc tính ngẫu nhiên mới xuất hiện đã giúp cho chúng có thể thích nghi với môi trường không ngừng thay đổi. Một lượng ít ỏi trong số những vi khuẩn bị thuốc kháng sinh tiêu diệt trong trận chiến ban đầu đã sống sót và cuối cùng còn phát triển mạnh mẽ.  Những “con siêu trùng”  mới xuất hiện này có thể chống chọi và sống sót trước mọi loại thuốc kháng sinh dùng để tấn công chúng.

“Thứ không giết được bạn thì sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.”

Theo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), hàng năm bệnh tụ cầu vàng kháng Methicillin (MRSA) gây ra hơn 10.000 ca tử vong.  CDC cho biết MRSA là hậu quả trực tiếp của việc kê đơn thuốc kháng sinh quá mức, đã biến vi khuẩn tụ cầu vàng thường gặp này thành một thứ ác quỷ.  Các biến chứng của MRSA dẫn đến sự tăng xác suất tử vong của người bệnh lên tới 60%.  MRSA là các dạng nhiễm trùng và nó đang biến chính bệnh viện và cơ sở y tế thành những nơi nguy hiểm.

Trong quá khứ, MRSA đã rình rập tấn công những người có hệ miễn dịch yếu; nhưng gần đây, chủng vi khuẩn này đang dần xâm lấn đến cả những nhóm người khỏe mạnh. Sự bùng phát của chúng có thể xảy ra tại các trường trung học, các đội bóng, hội nghị, và các tàu du lịch – đây chỉ mới là một vài trường hợp liệt kê chưa đầy đủ.  Mặc dù sổ sách của Tổng thống Obama đã có những tránh né khi đề cập đến việc cải thiện chăm sóc sức khoẻ tại Mỹ, nhưng ông vẫn đã ban hành một sắc luật với mục đích chiến đấu với các loại vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh. Dự thảo ngân sách dành cho vấn đề này là 1,2 tỷ đô la.  Hy vọng rằng số tiền này sẽ không bị lãng phí.

Cần sa trong vai trò một tác nhân kháng khuẩn – các kết quả nghiên cứu

Một số nghiên cứu khảo sát và thử nghiệm lâm sàng đã phát hiện thấy rằng cần sa có thể tiêu diệt MRSA cũng như nhiều loại vi khuẩn khác. Những phát hiện này đã mở rộng về chi tiết, nhằm nghiên cứu tính hiệu quả của  các cannabinoid (THC, CBD…) và các terpene (chất thơm) – những thành phần có tác dụng y tế chính yếu của loài cây này.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm 5 loại cannabinoid phổ biến nhất của cần sa để chống lại 6 chủng khác nhau, bao gồm các chủng EMRSA – là chủng vi khuẩn đã gây bùng phát dịch tại các bệnh viện. Họ phát hiện ra rằng mỗi một loại cannabinoid được thử nghiệm đều cho thấy có “hoạt tính mạnh” chống lại nhiều loại vi khuẩn.

“Một trong những ứng dụng thực tế nhất của các cannabinoid là có thể sử dụng chúng như thuốc bôi tại chỗ để điều trị các vết loét và thương tích trong môi trường bệnh viện, giảm bớt gánh nặng về các loại thuốc kháng sinh.” – Tiến sĩ Giovani

Nghiên cứu đã phát hiện các cannabinoid mang rất nhiều đặc tính y tế, như chống ung thư, chống viêm, chống lo âu, chống đau, giúp tái tạo xương và mô thần kinh, và nhiều lợi ích khác.

“Các hợp chất của cần sa đã được chứng minh khả năng chấm dứt hoạt động của MRSA.”  phát hiện của Tiến sĩ Giovanni Appendino và Tiến sĩ Simon Gibbons.

Nghiên cứu cho thấy, qua hàng triệu năm, các cannabinoid đã được cây cần sa phát triển như một cách thức chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.  Hoạt tính đặc biệt của cannabinoid vẫn được, bất chấp mọi sự thích ứng gần đây nhất của các siêu vi khuẩn, sự duy trì này có lẽ vì một lý do chính đáng.  Cây cần sa đã phát triển những cách tiêu diệt ký sinh trùng như vi khuẩn trong hàng triệu năm, trong khi loài người, bằng sự khôn ngoan hạn hẹp của mình, chỉ đang “làm chơi” chưa đầy một thế kỷ.

“Cơ chế thực tế mà cần sa tiêu diệt các loài ký sinh vẫn còn là một bí ẩn, tôi thực sự không dám đoán mò chúng hoạt động như thế nào, nhưng tính hiệu quả cao trong vai trò kháng sinh của loài cây cho thấy chúng hẳn phải có một cơ chế rất đặc thù.” – Tiến sĩ Gibbons

Lịch sử bị lãng quên – cần sa là thuốc kháng sinh

Khi mà các phát hiện “mới” này tạo ra sự phấn khích cho thế hệ các nhà nghiên cứu y học này thì cây cần sa đã được sử dụng không phải là hàng thế kỷ, mà là hàng thiên niên kỷ.  Ngay cả ở Mỹ, cần sa và cây gai dầu đã được sử dụng suốt 3 thế kỷ đầu tiên trong lịch sử đất nước này. Cần sa đã luôn hợp pháp cho tới những năm 1930, khi mà các nhóm vận động hành lang tìm cách loại bỏ sự cạnh tranh: các ông lớn trong ngành giấy/bột giấy và dầu khí đã thành công trong việc thuyết phục công chúng cả tin rằng cần sa là chính là một chất ma túy quái ác và là “kẻ thù hàng đầu của nhân dân”.  Thú vị thay, FED (Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ) đã không khi nào thuyết phục được cộng đồng y khoa rằng cần sa là thứ xấu xa, và Ủy ban Dược điển Hoa Kỳ đã chống lại việc loại bỏ cần sa khỏi danh mục các loại thuốc/ liệu pháp.

“Nhựa cần sa đã thành công trong việc điều trị cả bệnh uốn ván và dịch tả.” – Theo Tạp chí Y khoa cấp tỉnh ở London năm 1843

Các biên niên sử được phác họa đầy đủ với nhiều tài liệu tham khảo về di truyền cần sa y tế, bao gồm việc sử dụng làm thuốc kháng sinh và điều trị các chấn thương mạn tính và đặc biệt là các vấn đề của phụ nữ như chứng chuột rút, tính khí thất thường, các vấn đề về phụ khoa và đau nhức. Các học giả cho rằng tại Ai Cập cổ đại, các sách giấy cói (papyrus) đã ghi lại rằng cây gai dầu đã từng được sử dụng như một chất khử trùng. Từ những vùng tận cùng thế giới, các bộ lạc châu Phi sử dụng cần sa làm thuốc giảm đau, thuốc an thần và thuốc kháng sinh cho đến tận ngày nay. Trong nền y học dân gian Nam Mỹ, cần sa được sử dụng để điều trị bệnh lậu và lao.

“Chỉ trong vòng vài tháng, dầu cần sa đã làm được những thứ mà thuốc kháng sinh đã không giải quyết được trong bao nhiêu năm, nó đã thực sự trả lại cuộc sống này cho tôi, tôi đã gần như hoàn toàn suy nhược và sa sút, tôi cũng không thể đi bộ hoặc nói chuyện mà chỉ ngồi trên xe lăn để được bón cho ăn. Tôi đã đánh liều dùng thử dầu cần sa và thực sự nó có hiệu quả.” – Theo Nhà văn Shelley White

Nhóm nghiên cứu Nam Rhodesia báo cáo rằng các loại thuốc cần sa là phương thuốc để chữa bệnh than, nhiễm trùng huyết, bệnh lỵ, chứng tiểu tiện hemoglobin sốt rét kí-ninh nhiệt đới.  Theo CDC, mỗi năm có 300.000 ca mắc bệnh Lyme mới do xoắn khuẩn spirochete hoặc borrelia burgdorferi – lây truyền qua côn trùng, ve, bét.  Khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh Lyme thuộc dạng bệnh mãn tính.


ĐỌC THÊM

Cannabinoid, hệ miễn dịch và mạng xytokin.

Cannabinoid đã chứng minh là có vai trò như những chất điều hòa quan trọng trong nhiều chứng rối loạn kể cả các bệnh của hệ miễn dịch. Việc đánh giá các hậu quả sinh học của các thay đổi xytokine do thuốc gây ra trở nên quan trọng, xét đến các tác động của xytokine lên hệ miễn dịch và liệu trước các ảnh hưởng của chúng đến bệnh ung thư, chứng viêm, bệnh tự miễn, tổn thương não, tạo cụm máu.

Sự hiện diện và chức năng điều hòa các thụ thể cannabinoid trong tế bào miễn dịch.

Bài báo này xem xét các tài liệu liên quan đến sự phân bố và chức năng của thụ thể cannabinoid trong hệ miễn dịch và đặt ra các nghi vấn về sự liên quan của chúng đến hiệu quả điều hòa miễn dịch của cannabinoids, THC, CBD… Trong 30 năm qua, hoạt động nghiên cứu về người và động vật lạm dụng ma túy được tiêm bằng nhiều loại cannabinoid, cũng như các mô hình trong ống nghiệm – nuôi cấy tế bào miễn dịch, đã chứng minh rằng cần sa và cannabinoid là các chất điều hoà miễn dịch. Các thụ thể cannabinoid, CB1 và CB2, được phát hiện thấy trong tế bào miễn dịch, cho thấy chúng điều chỉnh các ảnh hưởng của cannabinoid lên hệ miễn dịch.

Cannabinoid kháng khuẩn từ dòng cần sa sativa: nghiên cứu cấu trúc-hoạt tính.

Khi được quan sát cùng nhau, các quan sát thu được cho thấy rằng một nửa prenyl của cannabinoid chủ yếu có vai trò như một chất điều biến ái lực lipid ở cấp độ tế bào.  Hiệu lực cannabinoid mạnh rõ ràng cho thấy đây là một biệt dược, tuy nhiên, các cơ chế hoạt động sâu rộng thì cho đến nay vẫn khó xác định được một cách rõ ràng.

Cannabinoid và các bệnh nhiễm vi-rut

Cannabinoid được phát hiện thấy là những hệ enzyme phụ thuộc Ca2+ suy yếu và kháng viêm, nằm trong nhân của đáp ứng viêm và virus tế bào sẵn có. Khi các đáp ứng vật chủ do virus gây ra dẫn đến bệnh lý miễn dịch trong mô hình loài gặm nhấm đối với MS, TMEV-IDD, hoặc trong một bệnh nhiễm trùng mãn tính của hệ thần kinh do virus nL, BDV, thì việc điều trị bằng cannabinoid được phát hiện là có lợi.

THC kiểm soát: hợp lực cần sa tiềm năng và hiệu ứng cộng hưởng cần cannabinoid thực vật-terpenoid

Các bằng chứng khoa học đưa ra cho các thành phần thực vật phi cannabinoid (như terpene) đóng vai trò như một loại thuốc giải độc cho các tác động gây nhiễm độc của THC có thể cải thiện chỉ chỉ số trị liệu của chúng. Có thể áp dụng các phương pháp khảo sát hiệu ứng cộng hưởng trong các thí nghiệm trong tương lai. Quá trình hợp lực cannabinoid thực vật-terpenoid, nếu được chứng minh, sẽ đưa đến những triển vọng to lớn và liên tục về các sản phẩm trị liệu mới.

“Rễ cây thạch xương bồ (calamus) có thể là thuốc giải độc tốt nhất đối với các tác động tiêu cực của cần sa. . . Nếu một người hút một ít bột rể cây thạch xương bồ với cần sa thì các tác dụng phụ độc hại của thuốc sẽ hoàn toàn không còn.”

Cần sa và các bệnh nhiễm khuẩn

Các nghiên cứu động vật chi tiết và trong ống nghiệm.

Cần sa, miễn dịch và nhiễm trùng.

Những kết quả hấp dẫn này cho thấy trong những điều kiện nhất định, cannabinoid có thể cân bằng miễn dịch và tăng cường quá trình điều trị (điều trị) bệnh. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu nhiều hơn để xác định cả nguy cơ về sức khoẻ của việc lạm dụng cần sa và vai trò của hệ thống thụ thể/ phối tử trong việc điều hòa miễn dịch và cân bằng nội môi.

Dữ liệu về canabinoid chưa xử lý – Hiệu quả kháng khuẩn chống lại các chủng vi sinh vật tuyển chọn – không dành cho người không chuyên

  1. Caiffa, W. T., Vlahov, D., Graham, N. M. H., Astemborski, J., Solomon, L., Nelson, K. E., and Munoz, A. Am. J. Resp. Crit. Care Med. 1994, 150, 1593– 1598
  2. Roth, M. D., Whittaker, K., Salehi, K., Tashkin, D. P., and Baldwin, G. C. J. Neuroimmunol. 2004, 147, 82– 86

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Krjci, Z. Lekarske Listy 1952, 7, 500– 503ChemAbstr195248, 78326 
    (b) Ferenczy, L., Gracza, L., and Jakobey, I. Naturwissenschaften 1958, 45, 188 [CrossRef], [CAS]

(c) Krejci, Z. Pharmazie 1958, 13, 155– 156 [PubMed], [CAS]

(d) Rabinovich, A. S., Aizenman, B. L., and Zelepukha, S. I. Mikrobiol. Zh 1959, 21, 40– 48 (PubMed ID 14435632) [PubMed], [CAS]

(e) Turner, C. E., Elsohly, M. A., and Boeren, E. G. J. Nat. Prod. 1980, 43, 169– 243

  1. Schultz, O. E. and Haffner, G. A. Z. Naturforsch. 1959, 14b, 98– 100

[CAS]

  1. Turner, C. E. and Elsohly, M. A. J. Clin. Pharmacol. 1981, 21, 283S– 291S

[PubMed], [CAS]

  1. Elsohly, H. N., Turner, C. E., Clark, A. M., and Elsohly, M. A. J. Pharm. Sci. 1982, 71, 1319– 1323

[CrossRef], [PubMed]

  1. Van Klingeren, B. and Ten Ham, M. Lab. Chemother. Natl. Inst. Public Health 1976, 42, 9– 12; ChemAbstr197685, 14622
  2. Molnar, J., Csiszar, K., Nishioka, I., and Shoyama, Y. Acta Microb. Hung. 1986, 33, 221– 231

[PubMed], [CAS]

  1. Barrett, C. T. and Barrett, J. F. Curr. Opin. Biotechnol. 2003, 14, 621– 626

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Gibbons, S. Nat. Prod. Rep. 2004, 21, 263– 277

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Stavri, M., Piddock, L. J. V., and Gibbons, S. J. Antimicrob. Chemother. 2007, 59, 1247– 1260

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Smith, E. C. J., Kaatz, G. W., Seo, S. M., Wareham, N., Williamson, E. M., and Gibbons, S. Antimicrob. Agents Chemother. 2007, 51, 4480– 4483

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Richardson, J. F. and Reith, S. J. Hosp. Infect. 1993, 25, 45– 52

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Kaatz, G. W., Seo, S. M., and Ruble, C. A. Antimicrob. Agents Chemother. 1993, 37, 1086– 1094

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Ross, J. I., Farrell, A. M., Eady, E. A., Cove, J. H., and Cunliffe, W. J. J. Antimicrob. Chemother. 1989, 24, 851– 862

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Gibbons, S. and Udo, E. E. Phytother. Res. 2000, 14, 139– 140

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Mechoulam, R., McCallum, N. K., and Burstein, S. Chem. Rev. 1976, 76, 75– 112

[ACS Full Text ], [CAS]

(b) Elsohly, M. A. and Slade, D. Life Sci. 2005, 78, 539– 548

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Ghosh, R., Todd, A. R., and Wilkinson, S. J. Chem. Soc. 1940, 1393– 1396

[CrossRef], [

By MMJDOCTORONLINE Staff

Dịch giả: Tiềm Long

Nguồn: mmjdoctoronline

 

Bài viết được xem nhiều nhất