Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) trao khoản tài trợ 100 nghìn đô la để hỗ trợ sản xuất gạch làm từ gai dầu

Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) trao khoản tài trợ 100 nghìn đô la để hỗ trợ sản xuất gạch làm từ gai dầu

Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) trong tuần này đã thông báo rằng họ sẽ trao cho một công ty có trụ sở tại Bang Washington khoản tài trợ 100.000 đô la để hỗ trợ phát triển loại gạch bền vững làm từ cây gai dầu công nghiệp.

Earth Merchant là một trong 24 người nhận tài trợ trong chương trình nghiên cứu đổi mới doanh nghiệp nhỏ của EPA. OlogyBricks có trụ sở từ cây gai dầu của công ty được coi là một giải pháp thay thế “bền, nhẹ, không có carbon” cho các loại gạch xây dựng truyền thống làm bằng bê tông hoặc các vật liệu khác.

EPA cho biết trong một thông báo rằng sản phẩm bê tông gai dầu “sẽ cải thiện hiệu quả năng lượng và chất lượng không khí trong nhà, trong các hộ gia đình đơn lẻ và các ứng dụng kiến ​​trúc khác.”

Cơ quan liên bang cho biết: “Cây gai dầu công nghiệp có thể được trồng mà không cần thuốc trừ sâu hoặc phân bón hóa học, cần ít nước hơn các loại cây trồng như bông vải hoặc ngô. Và có thời gian thu hoạch ngắn – sau một trăm ngày kể từ khi trồng.” Cơ quan liên bang cho biết thêm. “Cây gai dầu quang hợp carbon dioxide với hiệu suất cao hơn cây và có thể được thu hoạch hai lần mỗi năm, tăng gấp đôi tốc độ hấp thụ carbon.”

Photo by Brendan Cleak

Hơn nữa, các khối bê tông gai dầu có thể “cải thiện kết quả sức khỏe cho người dân” vì chúng chứa các thành phần “kháng nấm và kháng khuẩn, giảm nguy cơ vi khuẩn trong không khí đồng thời có thể thấm hơi nước”.

OlogyBricks cũng được sản xuất hoàn toàn ở Hoa Kỳ, “nơi mà nguồn cung cấp cây gai dầu công nghiệp đã nở rộ sau khi thông qua Dự luật Nông trại năm 2018” hợp pháp hóa cây gai dầu, EPA cho biết.

Đây không phải là lần đầu tiên cơ quan này bày tỏ sự quan tâm đến tác động môi trường của cây gai dầu. Vào năm 2019, EPA đã trao một khoản tài trợ khoảng 12.000 đô la cho một nhóm nghiên cứu do sinh viên đứng đầu tại Đại học California, Riverside, để hỗ trợ một nghiên cứu về việc sử dụng cây gai dầu làm “sợi tái tạo có liên quan đến công nghiệp trong xây dựng”.

Cũng trong năm đó, Hạ nghị sĩ Tulsi Gabbard (D-HI) đã đưa ra một dự luật nhằm tìm cách hiện đại hóa ngành công nghiệp cây gai dầu, phát triển các hướng dẫn cụ thể và khuyến khích nghiên cứu của liên bang về một loạt các ứng dụng tiềm năng cho cây gai dầu, bao gồm cả như một sự thay thế cho bê tông thông thường.

Nguồn: Marijuana Moment | EPA Awards $100K Grant To Support Production Of Hemp-Based Bricks For Sustainable Construction

Dịch giả: Sadie Pices

Một nghiên cứu mới cho thấy CBD cải thiện hiệu quả của thuốc kháng sinh

Các nhà khoa học tại Đại học Southern Đan Mạch đã công bố một nghiên cứu mới trên tạp chí Scientific Reports cho thấy, CBD có thể hoạt động như một ‘hợp chất trợ giúp’ để cải thiện hiệu quả của thuốc kháng sinh.

Kể từ khi phát hiện ra penicillin vào năm 1928 bởi ông Alexander Fleming – bác sỹ, nhà sinh học người Scotland, thuốc kháng sinh đã cứu sống hàng triệu người khỏi các bệnh nhiễm trùng gây tử vong trên toàn thế giới. Tuy nhiên, theo thời gian, vi khuẩn đã phát triển các cơ chế để thoát khỏi tác dụng của thuốc kháng sinh và trở nên kháng thuốc.

Với số lượng thuốc kháng sinh có sẵn để điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc, khả năng bước vào thời kỳ tiền kháng sinh không còn quá xa.

Tăng cường kháng sinh

Do tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, các chiến lược thay thế mới đang được khám phá và một số ‘hợp chất hỗ trợ’ đang thu hút sự chú ý. Các hợp chất hỗ trợ là các hợp chất không kháng sinh với khả năng tăng cường hiệu quả của thuốc kháng sinh.

Một hợp chất hỗ trợ đã được tiết lộ là cannabidiol (CBD); một cannabinoid từ cây gai dầu.

Phó giáo sư Janne Kudsk Klitgaard và học viên Phd Claes Søndergaard Wassmann là hai tác giả chính và đồng giám sát của nghiên cứu.

Các tác giả nói rằng: ‘Khi chúng tôi kết hợp CBD và thuốc kháng sinh, chúng tôi đã thấy tác dụng mạnh mẽ hơn so với khi điều trị bằng thuốc kháng sinh một mình. Vì vậy, để tiêu diệt một số lượng vi khuẩn nhất định, chúng ta cần ít thuốc kháng sinh hơn.”

Vi khuẩn vô tính lan rộng toàn cầu

Trong nghiên cứu, CBD được sử dụng để tăng cường tác dụng của bacitracin kháng sinh chống lại vi khuẩn staphylococcus aureus – một mầm bệnh chính ở người thường gây ra các bệnh mắc phải tại bệnh viện và nơi công cộng.

Các dòng vô tính đa kháng thuốc của mầm bệnh này đã lan rộng ra toàn cầu. Ở một số quốc gia, việc điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn với những vi khuẩn kháng thuốc này rất khó khăn và vấn đề được dự báo sẽ tiếp tục phát triển.

Theo các nhà nghiên cứu, sự kết hợp giữa CBD và thuốc kháng sinh có thể là một phương pháp điều trị mới đối với các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng kháng sinh.

Vi khuẩn chết đi như thế nào?

Ba điều đã xảy ra với vi khuẩn saphylococcus aureus khi các nhà nghiên cứu điều trị chúng bằng sự kết hợp trong nghiên cứu của họ: Vi khuẩn không còn có thể phân chia bình thường, sự biểu hiện của một số gen quan trọng (phân chia tế bào và gen tự hủy) trong vi khuẩn bị giảm xuống, và màng vi khuẩn trở nên không ổn định.

Theo các nhà nghiên cứu, việc lạm dụng thuốc kháng sinh là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh.

Phó giáo sư Janne Kudsk Klitgaard cho biết: “Nếu chúng ta kết hợp kháng sinh với hợp chất hỗ trợ khác giúp tăng cường tác dụng của kháng sinh, chúng ta sẽ cần ít thuốc kháng sinh hơn để đạt được hiệu quả tương tự. Điều này có thể góp phần phát triển ít vi khuẩn kháng thuốc hơn.”

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Heath Europa | New study shows that CBD improves efficacy of antibiotics

CBD có thể là một loại thuốc kháng sinh của tương lai

CBD Có Thể Là Một Loại Thuốc Kháng Sinh Của Tương Lai

Liệu CBD có phải là tương lai của nền y học và các loại thuốc kháng sinh hay không? 

Mặc dù với sự phát triển vượt bậc của nền y học và những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, nhưng chúng ta vẫn không thể tránh khỏi việc mắc các căn bệnh do vi khuẩn gây ra. Tuy nhiên, cần sa y tế có thể cho thấy được tiềm năng của nó trong việc điều trị đối với rất nhiều loại bệnh và thậm chí là giành lại sự sống cho bệnh nhân. 

Gần đây, một phát hiện đặc biệt thú vị từ các nhà khoa học cho thấy cây gai dầu, một ngày nào đó, có thể trở thành thành phần chính trong những loại thuốc kháng khuẩn. Điều này là đặc biệt quan trọng vì sự gia tăng đáng kể của những chủng vi khuẩn kháng kháng sinh. Những chủng này có thể kháng lại các loại thuốc được thiết kế để tiêu diệt chúng và điều này khiến cho việc điều trị gần như là không thể.

 Tuy nhiên, các nhà khoa học người Úc đã phát hiện ra rằng cannabidiol (CBD) có hiệu quả trong việc tiêu diệt tất cả các chủng vi khuẩn trong một thí nghiệm ở phòng lab – bao gồm cả vi khuẩn có tính kháng thuốc cao. Trong cuộc nghiên cứu, họ đã thử nghiệm trên vi khuẩn gram dương: Staphylococcus aureus, là vi khuẩn gây ra MRSA, cũng như Streptococcus pneumoniae, cả hai đều có thể là mối đe dọa nghiêm trọng đối với những người bị suy giảm miễn dịch.

Một thực tế hiển nhiên trong cộng đồng khoa học là nhiều chủng vi khuẩn trở nên kháng thuốc sau khi tiếp xúc sau khoảng thời gian 20 ngày. Tuy nhiên, vi khuẩn vẫn không thể kháng được CBD.

“Chúng tôi vẫn chưa biết được nó hoạt động như thế nào, và nó có thể có một cơ chế hoạt động độc đáo, và do đó nó có thể hiệu quả với những loại vi khuẩn đã kháng lại các loại kháng sinh khác, nhưng chúng tôi vẫn không biết là bằng cách nào,” trưởng nhóm nghiên cứu Mark Blaskovich cho biết: “Cho đến nay, chúng tôi chỉ biết nó có hiệu quả bôi trực tiếp lên bề mặt da. Thật sự sẽ rất hữu ích nếu chúng ta có thể cho thấy được khả năng điều trị của nó đối với những bệnh nhiễm trùng hệ thống như viêm phổi, hay viêm mô tế bào. Đối với những loại bệnh này, bạn phải điều trị bằng thuốc thông qua đường uống hoặc bằng cách tiêm tĩnh mạch. Một nghiên cứu sơ bộ đã không chứng minh được hiệu quả của nó đối với những trường hợp phức tạp này.” Blaskovich cho biết thêm.

“Phần khó khăn nhất của nghiên cứu đó là việc xin giấy phép để được thử nghiệm cannabidiol trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, khi chính phủ có quy định về đối tượng sử dụng/thử nghiệm nó – mặc dù nguyên liệu chúng tôi đang sử dụng hoàn toàn là dạng tổng hợp, nằm trong “vùng xám” khi nói về định nghĩa của cannabinoid”” Blaskovich giải thích.

Điểm đáng chú ý nhất của nghiên cứu là nó đã chứng minh được rằng CBD có thể có hiệu quả trong việc điều trị các vi khuẩn kháng thuốc như những loại thuốc kháng sinh phổ biến, như là daptomycin hay vancomycin.

Vấn Đề Đối Với Những Loại Thuốc Kháng Sinh Phổ Biến Hiện Nay

Những loại thuốc kháng sinh thường được sử dụng ngay từ lúc ban đầu trong việc điều trị cho rất nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn; những loại thuốc này đã được thiết kế với một mục tiêu duy nhất: tiêu diệt vi khuẩn.

Tuy nhiên, sự phụ thuộc hay lạm dụng thuốc kháng sinh có thể mang đến những tác dụng phụ nhưng điều đáng quan ngại nhất đó là việc kháng kháng sinh của vi khuẩn. Theo thời gian, khi nhiều người cố gắng sử dụng kháng sinh để cải thiện tình trạng viêm nhiễm, vi khuẩn sẽ tiến hóa và một ngày nào đó các loại thuốc kháng sinh không còn đủ hiệu lực để tiêu diệt chúng nữa.

Trên thực tế, Trung Tâm Kiểm Soát Dịch Bệnh (CDC) thậm chí còn khuyến cáo rằng “một trong những vấn đề cấp bách nhất về sức khỏe cộng đồng” là khả năng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn. 

Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc kháng sinh cũng có thể tiêu diệt các lợi khuẩn trong cơ thể – các loại vi khuẩn giúp giữ cho cơ thể chúng ta được khỏe mạnh. Những tác dụng phụ khác gồm có dị ứng thuốc, đau dạ dày, tiêu chảy, khí hư, và xuất hiện các mảng trắng trên lưỡi.

Sử Dụng Cần Sa Y Tế Để Thay Thế

Cần sa y tế thì có thể an toàn hơn nhiều vì dường như nó không gây ra các tác dụng phụ, và ngày nay có nhiều bằng chứng cho rằng nó có thể được sử dụng để điều trị các căn bệnh nhiễm khuẩn. Simon Gibbons từ Đại Học Dược London giải thích rằng CBD có thể được sử dụng để giải quyết những vấn đề về nhiễm khuẩn ngay cả khi dùng CBD được chiết xuất từ cây gai dầu. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể sử dụng cây gai dầu thay cho cần sa để có thể sản xuất ra được những loại thuốc kháng sinh một cách dễ dàng hơn và có giá thành hợp lý, Simon Gibbons cho biết.

Ngoài ra, một nghiên cứu vào năm 2012 đã cho thấy rằng gai dầu với chiết xuất toàn phần có thể mang đến những lợi ích trong việc điều trị Pseudomonias aeruginosa E. Coli, là những chủng vi khuẩn gây ra các vấn đề về hô hấp và da. Chiết xuất toàn phần này cũng được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị tình trạng ngộ độc thực phẩm do Bacillus subtilis gây ra.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: CBD might be the Antibiotic of the Future

Thuốc cần sa – Siêu kháng sinh của tương lai?

Photo Credit: Google Mosaic – Cannabinoids Battle Infection

Các chuyên gia y tế gọi vấn đề này là một tình trạng khẩn cấp trên toàn thế giới. Nạn dịch nhiễm trùng do vi khuẩn không thể kiểm soát được này sẽ gây tử vong cho vô số người già và những người bị suy giảm miễn dịch. Ngày nay, các phương pháp điều trị và phẫu thuật thường quy bao gồm cả các bệnh nhiễm khuẩn, một điều có phần hiếm gặp trong quá khứ.  Công cuộc hợp pháp hoá cần sa cần sa y tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu lâm sàng, đem lại một số phát hiện đáng khích lệ.  Một số nhà nghiên cứu lỗi lạc đang bắt đầu tự hỏi liệu các dạng siêu kháng sinh trong tương lai sẽ được tạo ra trên nền tảng từ các hoạt chất cannabinoid có trong cần sa hay không?

“Nếu không có những hành động phối hợp khẩn cấp của các bên liên quan, thế giới sẽ không thể tránh khỏi một kỷ nguyên hậu kháng sinh.  Các bệnh nhiễm trùng thường gặp và thương tích nhẹ vốn đã được điều trị hàng thập kỷ qua có thể sẽ một lần nữa gây ra nhiều thương vong cho loài người.” – Bác sĩ Keiji Fukuda thuộc Tổ chức Y tế Thế giới phát biểu qua đài BBC

Những loại thuốc kháng sinh đầu tiên xuất hiện trên thị trường vào năm 1911/1912 nhưng chúng khá độc, thậm chí một số có chứa arsen (bạn có tin nổi không).  Cho đến những năm 1930, thuốc kháng sinh vẫn không được kê toa một cách rộng rãi.  Trong Chiến tranh Thế giới thứ II, penicillin đã được sử dụng để cứu sống nhiều người lính.  Kể từ đó, đã có rất nhiều dòng kháng sinh đã được phát triển và đưa ra thị trường.  Các loại chính bao gồm:

  • Nhóm Penicillin:  penicillin và amoxicillin
  • Nhóm Cephalosporin: cephalexin (Keflex)
  • Nhóm Macrolide: erythromycin (E-Mycin), clarithromycin (Biaxin), và azithromycin (Zithromax)
  • Nhóm Fluoroquinolone: ciprofloxacin (Cipro), levofloxacin (Levaquin), và ofloxacin (Floxin)
  • Nhóm Sulfonamid: co-trimoxazole (Bactrim) và trimethoprim (Proloprim)
  • Nhóm Tetracycline: tetracycline (Sumycin, Panmycin) và doxycycline (Vibramycin)
  • Nhóm Aminoglycoside: gentamicin (Garamycin) và tobramycin (Tobrex)

Không may thay, một số bác sĩ và một số người nhận thuốc do họ kê toa đã dùng các loại thuốc kháng sinh này để chữa trị mọi thứ bệnh nhẹ và rối loạn vặt vãnh.  Trong quá trình tiến hóa, các vi khuẩn biến đổi để sinh tồn, một số đặc tính ngẫu nhiên mới xuất hiện đã giúp cho chúng có thể thích nghi với môi trường không ngừng thay đổi. Một lượng ít ỏi trong số những vi khuẩn bị thuốc kháng sinh tiêu diệt trong trận chiến ban đầu đã sống sót và cuối cùng còn phát triển mạnh mẽ.  Những “con siêu trùng”  mới xuất hiện này có thể chống chọi và sống sót trước mọi loại thuốc kháng sinh dùng để tấn công chúng.

“Thứ không giết được bạn thì sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.”

Theo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), hàng năm bệnh tụ cầu vàng kháng Methicillin (MRSA) gây ra hơn 10.000 ca tử vong.  CDC cho biết MRSA là hậu quả trực tiếp của việc kê đơn thuốc kháng sinh quá mức, đã biến vi khuẩn tụ cầu vàng thường gặp này thành một thứ ác quỷ.  Các biến chứng của MRSA dẫn đến sự tăng xác suất tử vong của người bệnh lên tới 60%.  MRSA là các dạng nhiễm trùng và nó đang biến chính bệnh viện và cơ sở y tế thành những nơi nguy hiểm.

Trong quá khứ, MRSA đã rình rập tấn công những người có hệ miễn dịch yếu; nhưng gần đây, chủng vi khuẩn này đang dần xâm lấn đến cả những nhóm người khỏe mạnh. Sự bùng phát của chúng có thể xảy ra tại các trường trung học, các đội bóng, hội nghị, và các tàu du lịch – đây chỉ mới là một vài trường hợp liệt kê chưa đầy đủ.  Mặc dù sổ sách của Tổng thống Obama đã có những tránh né khi đề cập đến việc cải thiện chăm sóc sức khoẻ tại Mỹ, nhưng ông vẫn đã ban hành một sắc luật với mục đích chiến đấu với các loại vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh. Dự thảo ngân sách dành cho vấn đề này là 1,2 tỷ đô la.  Hy vọng rằng số tiền này sẽ không bị lãng phí.

Cần sa trong vai trò một tác nhân kháng khuẩn – các kết quả nghiên cứu

Một số nghiên cứu khảo sát và thử nghiệm lâm sàng đã phát hiện thấy rằng cần sa có thể tiêu diệt MRSA cũng như nhiều loại vi khuẩn khác. Những phát hiện này đã mở rộng về chi tiết, nhằm nghiên cứu tính hiệu quả của  các cannabinoid (THC, CBD…) và các terpene (chất thơm) – những thành phần có tác dụng y tế chính yếu của loài cây này.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm 5 loại cannabinoid phổ biến nhất của cần sa để chống lại 6 chủng khác nhau, bao gồm các chủng EMRSA – là chủng vi khuẩn đã gây bùng phát dịch tại các bệnh viện. Họ phát hiện ra rằng mỗi một loại cannabinoid được thử nghiệm đều cho thấy có “hoạt tính mạnh” chống lại nhiều loại vi khuẩn.

“Một trong những ứng dụng thực tế nhất của các cannabinoid là có thể sử dụng chúng như thuốc bôi tại chỗ để điều trị các vết loét và thương tích trong môi trường bệnh viện, giảm bớt gánh nặng về các loại thuốc kháng sinh.” – Tiến sĩ Giovani

Nghiên cứu đã phát hiện các cannabinoid mang rất nhiều đặc tính y tế, như chống ung thư, chống viêm, chống lo âu, chống đau, giúp tái tạo xương và mô thần kinh, và nhiều lợi ích khác.

“Các hợp chất của cần sa đã được chứng minh khả năng chấm dứt hoạt động của MRSA.”  phát hiện của Tiến sĩ Giovanni Appendino và Tiến sĩ Simon Gibbons.

Nghiên cứu cho thấy, qua hàng triệu năm, các cannabinoid đã được cây cần sa phát triển như một cách thức chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.  Hoạt tính đặc biệt của cannabinoid vẫn được, bất chấp mọi sự thích ứng gần đây nhất của các siêu vi khuẩn, sự duy trì này có lẽ vì một lý do chính đáng.  Cây cần sa đã phát triển những cách tiêu diệt ký sinh trùng như vi khuẩn trong hàng triệu năm, trong khi loài người, bằng sự khôn ngoan hạn hẹp của mình, chỉ đang “làm chơi” chưa đầy một thế kỷ.

“Cơ chế thực tế mà cần sa tiêu diệt các loài ký sinh vẫn còn là một bí ẩn, tôi thực sự không dám đoán mò chúng hoạt động như thế nào, nhưng tính hiệu quả cao trong vai trò kháng sinh của loài cây cho thấy chúng hẳn phải có một cơ chế rất đặc thù.” – Tiến sĩ Gibbons

Lịch sử bị lãng quên – cần sa là thuốc kháng sinh

Khi mà các phát hiện “mới” này tạo ra sự phấn khích cho thế hệ các nhà nghiên cứu y học này thì cây cần sa đã được sử dụng không phải là hàng thế kỷ, mà là hàng thiên niên kỷ.  Ngay cả ở Mỹ, cần sa và cây gai dầu đã được sử dụng suốt 3 thế kỷ đầu tiên trong lịch sử đất nước này. Cần sa đã luôn hợp pháp cho tới những năm 1930, khi mà các nhóm vận động hành lang tìm cách loại bỏ sự cạnh tranh: các ông lớn trong ngành giấy/bột giấy và dầu khí đã thành công trong việc thuyết phục công chúng cả tin rằng cần sa là chính là một chất ma túy quái ác và là “kẻ thù hàng đầu của nhân dân”.  Thú vị thay, FED (Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ) đã không khi nào thuyết phục được cộng đồng y khoa rằng cần sa là thứ xấu xa, và Ủy ban Dược điển Hoa Kỳ đã chống lại việc loại bỏ cần sa khỏi danh mục các loại thuốc/ liệu pháp.

“Nhựa cần sa đã thành công trong việc điều trị cả bệnh uốn ván và dịch tả.” – Theo Tạp chí Y khoa cấp tỉnh ở London năm 1843

Các biên niên sử được phác họa đầy đủ với nhiều tài liệu tham khảo về di truyền cần sa y tế, bao gồm việc sử dụng làm thuốc kháng sinh và điều trị các chấn thương mạn tính và đặc biệt là các vấn đề của phụ nữ như chứng chuột rút, tính khí thất thường, các vấn đề về phụ khoa và đau nhức. Các học giả cho rằng tại Ai Cập cổ đại, các sách giấy cói (papyrus) đã ghi lại rằng cây gai dầu đã từng được sử dụng như một chất khử trùng. Từ những vùng tận cùng thế giới, các bộ lạc châu Phi sử dụng cần sa làm thuốc giảm đau, thuốc an thần và thuốc kháng sinh cho đến tận ngày nay. Trong nền y học dân gian Nam Mỹ, cần sa được sử dụng để điều trị bệnh lậu và lao.

“Chỉ trong vòng vài tháng, dầu cần sa đã làm được những thứ mà thuốc kháng sinh đã không giải quyết được trong bao nhiêu năm, nó đã thực sự trả lại cuộc sống này cho tôi, tôi đã gần như hoàn toàn suy nhược và sa sút, tôi cũng không thể đi bộ hoặc nói chuyện mà chỉ ngồi trên xe lăn để được bón cho ăn. Tôi đã đánh liều dùng thử dầu cần sa và thực sự nó có hiệu quả.” – Theo Nhà văn Shelley White

Nhóm nghiên cứu Nam Rhodesia báo cáo rằng các loại thuốc cần sa là phương thuốc để chữa bệnh than, nhiễm trùng huyết, bệnh lỵ, chứng tiểu tiện hemoglobin sốt rét kí-ninh nhiệt đới.  Theo CDC, mỗi năm có 300.000 ca mắc bệnh Lyme mới do xoắn khuẩn spirochete hoặc borrelia burgdorferi – lây truyền qua côn trùng, ve, bét.  Khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh Lyme thuộc dạng bệnh mãn tính.


ĐỌC THÊM

Cannabinoid, hệ miễn dịch và mạng xytokin.

Cannabinoid đã chứng minh là có vai trò như những chất điều hòa quan trọng trong nhiều chứng rối loạn kể cả các bệnh của hệ miễn dịch. Việc đánh giá các hậu quả sinh học của các thay đổi xytokine do thuốc gây ra trở nên quan trọng, xét đến các tác động của xytokine lên hệ miễn dịch và liệu trước các ảnh hưởng của chúng đến bệnh ung thư, chứng viêm, bệnh tự miễn, tổn thương não, tạo cụm máu.

Sự hiện diện và chức năng điều hòa các thụ thể cannabinoid trong tế bào miễn dịch.

Bài báo này xem xét các tài liệu liên quan đến sự phân bố và chức năng của thụ thể cannabinoid trong hệ miễn dịch và đặt ra các nghi vấn về sự liên quan của chúng đến hiệu quả điều hòa miễn dịch của cannabinoids, THC, CBD… Trong 30 năm qua, hoạt động nghiên cứu về người và động vật lạm dụng ma túy được tiêm bằng nhiều loại cannabinoid, cũng như các mô hình trong ống nghiệm – nuôi cấy tế bào miễn dịch, đã chứng minh rằng cần sa và cannabinoid là các chất điều hoà miễn dịch. Các thụ thể cannabinoid, CB1 và CB2, được phát hiện thấy trong tế bào miễn dịch, cho thấy chúng điều chỉnh các ảnh hưởng của cannabinoid lên hệ miễn dịch.

Cannabinoid kháng khuẩn từ dòng cần sa sativa: nghiên cứu cấu trúc-hoạt tính.

Khi được quan sát cùng nhau, các quan sát thu được cho thấy rằng một nửa prenyl của cannabinoid chủ yếu có vai trò như một chất điều biến ái lực lipid ở cấp độ tế bào.  Hiệu lực cannabinoid mạnh rõ ràng cho thấy đây là một biệt dược, tuy nhiên, các cơ chế hoạt động sâu rộng thì cho đến nay vẫn khó xác định được một cách rõ ràng.

Cannabinoid và các bệnh nhiễm vi-rut

Cannabinoid được phát hiện thấy là những hệ enzyme phụ thuộc Ca2+ suy yếu và kháng viêm, nằm trong nhân của đáp ứng viêm và virus tế bào sẵn có. Khi các đáp ứng vật chủ do virus gây ra dẫn đến bệnh lý miễn dịch trong mô hình loài gặm nhấm đối với MS, TMEV-IDD, hoặc trong một bệnh nhiễm trùng mãn tính của hệ thần kinh do virus nL, BDV, thì việc điều trị bằng cannabinoid được phát hiện là có lợi.

THC kiểm soát: hợp lực cần sa tiềm năng và hiệu ứng cộng hưởng cần cannabinoid thực vật-terpenoid

Các bằng chứng khoa học đưa ra cho các thành phần thực vật phi cannabinoid (như terpene) đóng vai trò như một loại thuốc giải độc cho các tác động gây nhiễm độc của THC có thể cải thiện chỉ chỉ số trị liệu của chúng. Có thể áp dụng các phương pháp khảo sát hiệu ứng cộng hưởng trong các thí nghiệm trong tương lai. Quá trình hợp lực cannabinoid thực vật-terpenoid, nếu được chứng minh, sẽ đưa đến những triển vọng to lớn và liên tục về các sản phẩm trị liệu mới.

“Rễ cây thạch xương bồ (calamus) có thể là thuốc giải độc tốt nhất đối với các tác động tiêu cực của cần sa. . . Nếu một người hút một ít bột rể cây thạch xương bồ với cần sa thì các tác dụng phụ độc hại của thuốc sẽ hoàn toàn không còn.”

Cần sa và các bệnh nhiễm khuẩn

Các nghiên cứu động vật chi tiết và trong ống nghiệm.

Cần sa, miễn dịch và nhiễm trùng.

Những kết quả hấp dẫn này cho thấy trong những điều kiện nhất định, cannabinoid có thể cân bằng miễn dịch và tăng cường quá trình điều trị (điều trị) bệnh. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu nhiều hơn để xác định cả nguy cơ về sức khoẻ của việc lạm dụng cần sa và vai trò của hệ thống thụ thể/ phối tử trong việc điều hòa miễn dịch và cân bằng nội môi.

Dữ liệu về canabinoid chưa xử lý – Hiệu quả kháng khuẩn chống lại các chủng vi sinh vật tuyển chọn – không dành cho người không chuyên

  1. Caiffa, W. T., Vlahov, D., Graham, N. M. H., Astemborski, J., Solomon, L., Nelson, K. E., and Munoz, A. Am. J. Resp. Crit. Care Med. 1994, 150, 1593– 1598
  2. Roth, M. D., Whittaker, K., Salehi, K., Tashkin, D. P., and Baldwin, G. C. J. Neuroimmunol. 2004, 147, 82– 86

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Krjci, Z. Lekarske Listy 1952, 7, 500– 503ChemAbstr195248, 78326 
    (b) Ferenczy, L., Gracza, L., and Jakobey, I. Naturwissenschaften 1958, 45, 188 [CrossRef], [CAS]

(c) Krejci, Z. Pharmazie 1958, 13, 155– 156 [PubMed], [CAS]

(d) Rabinovich, A. S., Aizenman, B. L., and Zelepukha, S. I. Mikrobiol. Zh 1959, 21, 40– 48 (PubMed ID 14435632) [PubMed], [CAS]

(e) Turner, C. E., Elsohly, M. A., and Boeren, E. G. J. Nat. Prod. 1980, 43, 169– 243

  1. Schultz, O. E. and Haffner, G. A. Z. Naturforsch. 1959, 14b, 98– 100

[CAS]

  1. Turner, C. E. and Elsohly, M. A. J. Clin. Pharmacol. 1981, 21, 283S– 291S

[PubMed], [CAS]

  1. Elsohly, H. N., Turner, C. E., Clark, A. M., and Elsohly, M. A. J. Pharm. Sci. 1982, 71, 1319– 1323

[CrossRef], [PubMed]

  1. Van Klingeren, B. and Ten Ham, M. Lab. Chemother. Natl. Inst. Public Health 1976, 42, 9– 12; ChemAbstr197685, 14622
  2. Molnar, J., Csiszar, K., Nishioka, I., and Shoyama, Y. Acta Microb. Hung. 1986, 33, 221– 231

[PubMed], [CAS]

  1. Barrett, C. T. and Barrett, J. F. Curr. Opin. Biotechnol. 2003, 14, 621– 626

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Gibbons, S. Nat. Prod. Rep. 2004, 21, 263– 277

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Stavri, M., Piddock, L. J. V., and Gibbons, S. J. Antimicrob. Chemother. 2007, 59, 1247– 1260

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Smith, E. C. J., Kaatz, G. W., Seo, S. M., Wareham, N., Williamson, E. M., and Gibbons, S. Antimicrob. Agents Chemother. 2007, 51, 4480– 4483

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Richardson, J. F. and Reith, S. J. Hosp. Infect. 1993, 25, 45– 52

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Kaatz, G. W., Seo, S. M., and Ruble, C. A. Antimicrob. Agents Chemother. 1993, 37, 1086– 1094

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Ross, J. I., Farrell, A. M., Eady, E. A., Cove, J. H., and Cunliffe, W. J. J. Antimicrob. Chemother. 1989, 24, 851– 862

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. Gibbons, S. and Udo, E. E. Phytother. Res. 2000, 14, 139– 140

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Mechoulam, R., McCallum, N. K., and Burstein, S. Chem. Rev. 1976, 76, 75– 112

[ACS Full Text ], [CAS]

(b) Elsohly, M. A. and Slade, D. Life Sci. 2005, 78, 539– 548

[CrossRef], [PubMed], [CAS]

  1. (a) Ghosh, R., Todd, A. R., and Wilkinson, S. J. Chem. Soc. 1940, 1393– 1396

[CrossRef], [

By MMJDOCTORONLINE Staff

Dịch giả: Tiềm Long

Nguồn: mmjdoctoronline

 

Bài viết được xem nhiều nhất