Giải thưởng Harvey danh giá tiên đoán người đoạt giải Nobel sẽ là giáo sư Raphael Mechoulam

Một trong những giải thưởng khoa học danh giá nhất, giải Harvey về Kỹ thuật Hóa học và Khoa học Y tế, đã thuộc về Giáo sư Raphael Mechoulam – “cha đẻ” của ngành y học cần sa hiện đại.

Giáo sư Raphael Mechoulam từ Trường Dược thuộc Khoa Y tại Đại học Hebrew ở Jerusalem, là một trong hai người đoạt Giải thưởng Harvey danh giá vì nghiên cứu đột phá của ông trong thế giới cần sa y tế. Các nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này đã mang đến cho toàn thế giới một cái nhìn mới về cần sa như một loài cây chữa bệnh, thay vì chỉ là một hợp chất giải trí.

Giải thưởng Harvey – Giải thưởng tiên đoán giải Nobel!

Trong những năm qua, giải thưởng Harvey đã trở thành một công cụ dự đoán đáng tin cậy cho giải thưởng Nobel cao quý nổi tiếng. Kể từ năm 1986, đã có hơn 30% số người đoạt giải Harvey cuối cùng đã được trao giải Nobel. Trên thực tế, 3 người trong số họ – giáo sư Jennifer Doudna, giáo sư Emmanuelle Charpentier và giáo sư Reinhard Genzel – là những người sẽ nhận được giải thưởng Nobel cao quý năm nay!

Dựa trên sự đóng góp rất lớn của ông đối với các nghiên cứu cần sa y tế. Và chúng ta chỉ có thể khoanh tay với hy vọng rằng đó sẽ là “cha đẻ” của nghiên cứu cần sa sẽ đoạt giải trong những năm tới.

Tiểu sử giáo sư Raphael Mechoulam

Giáo sư Mechoulam sinh ra ở Bulgaria vào năm 1930, đó cũng là nơi ông theo học ngành kỹ thuật hóa học. Sau khi nhập cư đến Israel, ông đã nhận được bằng Thạc sĩ và bằng Tiến sĩ của mình về hóa sinh của Đại học Hebrew ở Jerusalem tại Viện Weizmann và hoàn thành nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Rockefeller ở New York. Năm 1960, ông gia nhập ban cán bộ khoa học của Viện Weizmann, và đến năm 1985, ông trở thành giáo sư tại Đại học Hebrew.

Chính sự tò mò về cần sa như một loài cây chữa bệnh đã dẫn ông đến đồn cảnh sát vào năm 1963, nơi ông lấy mẫu thử nghiệm đầu tiên – 5 kg hash – để sử dụng cho mục đích nghiên cứu. Giáo sư Mechoulam sau đó đã phát triển mối quan hệ của ông với các nhân viên tại Bộ Y tế Israel, những người đã cho ông giấy phép tiếp tục nhận các sản phẩm từ cần sa cho các nghiên cứu của mình trong vài thập kỷ tới. Như ông tóm tắt giản dị sự việc: “Tôi luôn luôn đến Bộ Y tế, họ đưa tôi một lá thư để đưa cho cảnh sát, tôi đến gặp cảnh sát và uống một chút cà phê với họ, lấy hashish tôi cần và chỉ thế thôi.”

Ông là nhà khoa học đầu tiên phân lập các cannabinoid thực vật, đầu tiên là THC (tetrahydrocannabinol) sau đó là CBD (cannabidiol), và ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra hệ thống endocannabinoid của con người, nó là một hệ thống tín hiệu tế bào phức tạp được tạo thành từ các thụ thể được tìm thấy trong toàn bộ cơ thể chúng ta. Các thụ thể này phản ứng với cannabinoid thực vật để điều trị nhiều tình trạng mà chúng ta mắc phải. Tất cả các sinh vật sống ngoại trừ côn trùng đều có hệ thống endocannabinoid.

Giáo Sư Mechoulam – Nhìn lại

Nghiên cứu của ông đã dẫn đến sự phát triển của nhiều lựa chọn điều trị an toàn và tự nhiên cho nhiều chứng rối loạn và bệnh hơn chúng ta có thể đếm được, nhưng đặc biệt là bệnh động kinh, sức khỏe tâm thần, bệnh đa xơ cứng và kiểm soát cơn đau. Hai hợp chất cannabinoid hàng đầu – THC và CBD, được sử dụng ngày nay trong các loại thuốc biệt dược – Marinol, một loại thuốc dùng để điều trị chứng buồn nôn, sử dụng hợp chất THC tổng hợp; và Epidiolex, loại thuốc đầu tiên được FDA chấp thuận sử dụng CBD tự nhiên làm thành phần chính, để điều trị các dạng động kinh hiếm gặp.

Với nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu cần sa, giáo sư Mechoulam đã được ban tặng nhiều sự công nhận và vô số danh hiệu cao quý, bao gồm Giải thưởng Israel về Khoa học Chính xác – Hóa học (2000) và Giải thưởng Kolthoff về Hóa học từ trường đại học Technion. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nhân văn Israel. Năm 2014, Giáo sư Mechoulam được tờ Jerusalem Post vinh danh là một trong “50 người Do Thái có ảnh hưởng nhất thế giới”.

Radio phỏng vấn Giáo sư Raphael Mechoulam, cha đẻ của nghiên cứu cần sa về “Đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng & Thử nghiệm lâm sàng”

Giáo sư Joseph DeSimone

Như đã đề cập trước đó, Mechoulam chỉ là một trong hai người chiến thắng giải thưởng Harvey danh giá. Người còn lại là Giáo sư Joe DeSimone, ông được biết đến với những đóng góp đáng kể trong khoa học vật liệu, hóa học, khoa học polyme, y học nano và in 3D.

Giáo sư DeSimone cũng đã đạt được những bước đột phá quan trọng trong việc sử dụng carbon dioxide siêu tới hạn để sản xuất fluoropolyme có nhiều ứng dụng trong y tế. Giáo sư DeSimone đã xuất bản hơn 350 bài báo trên các tạp chí khoa học và đã có hơn 200 bằng sáng chế mang tên mình. Ngoài ra, giáo sư DeSimone được ghi nhận là đã tạo ra những đổi mới quan trọng trong lĩnh vực y học chính xác (precision medicine), chẳng hạn như công nghệ PRINT (Particle Replication in Non-wetting Templates) trong công nghệ y tế, bao gồm cả sản xuất giao diện chất lỏng liên tục (continuous liquid interface production).

Nguồn: Canadian friends of the hebrew university of jerusalem | Prestigious Harvey Prize, a predictor of the Nobel, goes to Raphael Mechoulam

Dịch giả: Sadie Pices

Tiến sĩ Lumír Hanuš đã nghiên cứu cần sa trong 50 năm

Cách đây 50 năm, tiến sĩ Lumír Hanuš đã nghiên cứu tính chất kháng khuẩn và kháng sinh của cần sa trong một phòng thí nghiệm ở Tiệp Khắc. Các chất chiết xuất chiết xuất từ cần sa mà ông và các đồng nghiệp của mình tạo ra, đã được sử dụng trong các bệnh viện ở đó để điều trị mọi thứ từ loét vì nằm liệt giường, bệnh zona cho đến các bệnh phụ khoa.

“Nó rất hiệu quả chống lại các vi sinh vật gram dương.” Tiến sĩ Hanuš nói: “Bao gồm một số [loại vi sinh vật] gây bệnh.”

Khi tiến sĩ Hanuš rời khỏi đất nước sau cuộc Cách mạng Nhung vào năm 1990, không ai tiếp tục công việc của ông tại đây và cần sa trở thành bất hợp pháp.

Tua nhanh đến giai đoạn năm 1992 tại Jerusalem, tiến sĩ Hanuš là người đầu tiên cô lập một chất hóa học trong não (anandamide) liên kết với cùng thụ thể mà cần sa tương tác, điều đó đã lắp vào mảnh ghép cuối cùng về cách thức hoạt động của hệ thống endocannabinoid.

“Sau đó, khi chúng tôi phân lập được nhiều hợp chất hơn. Chúng tôi đặt tên chúng là endocannabinoid vì những hợp chất nội sinh này hoạt động giống như cannabinoid từ thực vật.” Tiến sĩ Hanuš nói trong một cuộc phỏng vấn với The Cannigma.

Tiến sĩ Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của mình – Lumir Labs, ở Jerusalem. (Photo: Matan Weil / The Cannigma)

“Chúng tôi không mong đợi điều gì xảy ra tiếp theo.” Tiến sĩ giải thích. “Chúng tôi đã xuất bản nghiên cứu trên tạp chí Science vào năm 1992 và năm sau đó, số lượng xuất bản về chủ đề này đã tăng lên theo cấp số nhân. Sau đó, mọi người bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu cần sa, và chính sự bùng nổ mà [chúng ta thấy] ngày nay.”

Tiến sĩ Hanuš có quan điểm độc đáo của một người đã đi đầu trong nghiên cứu cần sa y tế trong hơn 50 năm — ở cả hai đầu của những thay đổi lớn về tính hợp pháp, tính chính đáng và kiến thức của chúng ta về nó. Tiến sĩ là một người nổi tiếng đối với bất kỳ ai trong thế giới cần sa y tế.

Việc nghiên cứu cần sa nên tiếp tục ở đâu?

Tiến sĩ Hanuš sẽ phát biểu tại hội nghị cần sa y tế CannX ở Lisbon vào tháng 2. Một trong những điều ông nói sẽ được thảo luận ở đó, là việc nghiên cứu cần sa y tế nên được thực hiện theo hướng nào.

Tiến sĩ Hanuš cho biết, một trong những vấn đề mà nghiên cứu cần sa y tế ngày nay phải đối mặt, là số lượng tuyệt đối của các hợp chất trong cây cần sa. Đơn giản là, bạn không thể thử kết hợp tất cả các hợp chất để xem cách nào tạo nên phương pháp điều trị tốt nhất cho một căn bệnh nhất định.

Ông cho biết các nhà nghiên cứu nên xem xét các nhóm bệnh nhân đang được điều trị bằng cần sa và xem xét liệu kiểu hình hóa học (giống cần sa) nào và các thành phần của chúng sẽ có hiệu quả.

Tiến sĩ Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của mình – Lumir Labs, ở Jerusalem. (Photo: Matan Weil / The Cannigma)

“Bạn phải có ca bệnh. Bạn phải có những bệnh nhân thành công. Bạn phải có những bệnh nhân không thành công [những người đã từng sử dụng] cần sa. Bạn phải biết chính xác những gì những bệnh nhân thành công đã sử dụng, và phân tích nó. Bạn phải có những bệnh nhân không thành công và biết họ đã sử dụng tài liệu nào và phân tích nó – và có thể tái tạo nó.”

“Càng có nhiều ca bệnh, bạn càng chính xác.” Ông nói thêm: “Không chỉ để thử kết hợp các hợp chất, bởi vì [có] quá nhiều.”

Ngược lại, phần lớn các nghiên cứu về cannabinoid đang diễn ra hiện nay đang thực hiện theo cách tiếp cận ngược lại. Trước hết, họ xem xét các hợp chất cụ thể hoặc sự kết hợp của các hợp chất và cách chúng ảnh hưởng đến các bệnh khác nhau trong phòng thí nghiệm.

“Thiên nhiên vẫn là tốt nhất”

Đối với một nhà hóa học, tiến sĩ Hanuš là người ủng hộ mạnh mẽ các liệu pháp toàn thực vật. Ông nói liên tục về việc sử dụng các cây thuốc như Cây cơm cháy đen (Sambucus Nigra) ở quê hương Cộng hòa Séc — và tất nhiên, là về cần sa.

“Tôi nghĩ rằng con người không thể đánh bại thiên nhiên.” Ông nói về các chất cô lập dược phẩm của cannabinoid hoặc cannabinoid tổng hợp. “Họ đang cố gắng chuẩn bị các công cụ phái sinh vì họ có thể cấp bằng sáng chế cho nó và họ có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng từ thiên nhiên vẫn là tốt nhất.”

Tuy nhiên, điều bắt buộc là phải khám phá ra những hợp chất nào phù hợp nhất hoặc kết hợp tốt nhất để điều trị bệnh – không phải tất cả các cây cần sa đều có cùng tỷ lệ hoặc thành phần hóa học và không phải mọi người và mọi căn bệnh đều phản ứng giống nhau.

“Cannabinoids, cannabinoid acids, terpenes, terpenoids, flavonoids, flavonoid glycosides, polyphenols — đây là những hợp chất hoạt tính sinh học trong cần sa và có thể có một số loại khác nữa.” Tiến sĩ Hanuš giải thích.

Điều phức tạp hơn nữa, các hợp chất khác nhau của cây cần sa chỉ tồn tại ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nó, chưa kể đến việc một số có thể bị biến đổi hoặc mất đi trong quá trình khử cacbon – khi cần sa được đun nóng trong khi hút, hóa hơi hoặc nấu chín.

“Họ đang cố gắng chuẩn bị các công cụ phái sinh vì họ có thể cấp bằng sáng chế cho nó và họ có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng từ thiên nhiên vẫn là tốt nhất.” (Photo: Shutterstock

“Khi chúng tôi điều trị bệnh nhân bằng cần sa ở Tiệp Khắc, chúng tôi không bao giờ khử cacbon. Chúng tôi đã sử dụng những gì có trong cây, chủ yếu là cannabinoid trung tính và chủ yếu là các axit cannabinoid.” Tiến sĩ Hanuš nói.

“Hiện giờ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các axit cannabinoid rất quan trọng.” Ông nói thêm.

“Họ đang cố gắng chuẩn bị các công cụ phái sinh vì họ có thể cấp bằng sáng chế cho nó và họ có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng từ thiên nhiên vẫn là tốt nhất.” (Photo: Shutterstock)

“Khi bạn trồng [cần sa], ở các giai đoạn phát triển khác nhau, nó có thể là một loại thuốc khác nhau.” Tiến sĩ Hanuš tiếp tục giải thích rằng mục tiêu là tìm ra một công thức đạt được hiệu quả tối đa với các hợp chất tối thiểu.

Tiến sĩ Hanuš đưa ra ví dụ về nghiên cứu đang được tiến hành bởi Tiến sĩ Adi Aran với trẻ tự kỷ, chứng minh rằng việc lựa chọn giống cần sa chính xác là rất quan trọng để điều trị thành công.

Ông nói: “Chúng tôi biết giống cần sa là rất quan trọng, nhưng chúng tôi vẫn không biết nó phải là những hợp chất nào.

Anandamide gần như đã không được phát hiện như thế nào?

Tiến sĩ Hanuš cũng thảo luận về độ khó và tốc độ chậm chạp mà loại hình nghiên cứu này đang tiến triển. Ngay cả khám phá của ông về anandamide, được tiến hành trong phòng thí nghiệm của Đại học Hebrew trong phòng thí nghiệm của Giáo sư Raphael Mechoulam, cùng với nhà dược học người Mỹ William Devane, cũng gần như bị đình chỉ.

“Sau một năm, chúng tôi vẫn chưa có kết quả, vì vậy Giáo sư Mechoulam nghĩ chúng tôi nên đóng nghiên cứu này.” Ông hồi tưởng. “Chúng tôi đã hỏi ông ấy liệu ông ấy có thể tử tế và thử với chúng tôi một năm nữa không — và ông ấy đồng ý. Hợp chất đã được phân lập sau nửa năm kế.”

Ở hiện tại, tiến sĩ Hanuš đang xem xét thành phần cốt lõi chính xác của các hợp chất là gì để điều trị cho các loại bệnh và bệnh nhân. Một dự án đang được nghiên cứu với những hợp chất nào trong cần sa có thể giúp điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung.

“Đừng nghĩ rằng nó có thể chỉ qua một đêm hay một tuần, một tháng hay một năm – đó là một chặng đường dài.” Ông nói thêm. “Thông thường bạn làm việc trong một năm và không có kết quả, nhưng rồi bạn có kết quả xuất sắc trong một tuần.”

Hanuš không nghĩ rằng cần sa nên được hợp pháp hóa cho người trưởng thành sử dụng, trước sự ngạc nhiên của nhiều người trong thế giới cần sa.

“Tôi không ủng hộ nó được hợp pháp hóa hoàn toàn. Tôi ủng hộ hợp pháp hóa y tế.” Ông giải thích.

“Tôi không hút thuốc và uống rượu. Cuộc sống hạnh phúc khi bạn sống lành mạnh. Bạn sẽ không hạnh phúc và phấn khích vì hợp chất nào đó.” Ông nói. “Hãy chơi một số môn thể thao.”

 

Nguồn: The Cannigma | Lumír Hanuš Has Been Researching Cannabis for 50 Years

Dịch giả: Sadie Pices

Israel đã trở thành trung tâm nghiên cứu về cần sa như thế nào?

Nhiều người chắc hẳn đã nghe nói về giáo sư Raphael Mechoulam, nhà khoa học người Israel và “cha đỡ đầu của cần sa”, người đã cô lập THC vào những năm 1960. Tuy nhiên, mối liên hệ của Israel với cần sa có nhiều điều hơn là một người đàn ông hay bất kỳ phát hiện khoa học nào.

Thực tế thú vị: Cần sa đã bị coi là bất hợp pháp ở Israel trước khi đất nước này thậm chí trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1948. Nó được đưa vào “Sắc lệnh về các loại ma túy nguy hiểm” năm 1936, do Cao ủy của nước Palestine viết (không có ý định chơi chữ) khi đất nước vẫn còn dưới sự cai trị của người Anh. Vào năm 1961, Israel tham gia với tư cách là một bên ký kết Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 của Liên hợp quốc, một văn kiện đặt nền móng cho việc cấm cần sa quốc tế như chúng ta đã biết. Vài năm sau, vào năm 1973, quốc hội Israel đã sửa đổi đạo luật năm 1936, nhưng đáng chú ý là vẫn làm cho nghiên cứu cần sa hợp pháp. Ngược lại, ở Mỹ, nghiên cứu về cần sa vẫn đang bị hạn chế cực kỳ bởi các lệnh cấm ma túy của liên bang.

Nghiên cứu cần sa đột phá

Giáo sư Raphael Mechoulam (Đại học Hebrew)

Vào đầu những năm 1960, ông Mechoulam, một nhà khoa học trẻ từ Viện khoa học Weizmann ở Israel đã bắt đầu nghiên cứu về cần sa. Theo ông Mechoulam, nghiên cứu về cần sa lúc bấy giờ hầu như bị bỏ quên vì hai lý do chính. Đầu tiên, cần sa là một chất bất hợp pháp, do đó các nhà khoa học và phòng thí nghiệm nghiên cứu không dễ tiếp cận. Ông nói với tạp chí Addiction: “Ngay cả khi có được sự hợp pháp cho việc nghiên cứu, nghiên cứu với cần sa vẫn là một cơn ác mộng trong phòng thí nghiệm.”

“Tôi đến gặp giám đốc hành chính của Viện khoa học Weizmann và chỉ hỏi anh ta rằng liệu anh ta có biết ai đó ở trụ sở cảnh sát hay không… anh ta đã gọi cho người đứng đầu ngành điều tra tại trụ sở cảnh sát – người mà anh ta đã chiến đấu cùng trong quân đội. Tôi nghe viên cảnh sát ấy hỏi: “Anh ấy [có nghĩa là tôi] có đáng tin cậy không?” Khi nhận được câu trả lời xác đáng, anh ta yêu cầu tôi đến thành phô Tel Aviv và nhờ đó tôi đã thu được 5 kg hashish Lebanon nhập lậu tuyệt hảo.” Giáo sư Mechoulam nói.

Lý do thứ hai là các dạng hợp chất hóa học hoạt động trong cây cần sa tinh khiết, dạng cô lập vẫn chưa có sẵn để nghiên cứu. Các loại thuốc bất hợp pháp chính có nguồn gốc thực vật khác, chẳng hạn như opium và coca, đã bị phân lập vào thế kỷ 19, tức là morphine và cocaine. Sự sẵn có của các hợp chất tinh khiết này giúp cho việc nghiên cứu sinh hóa, dược lý và lâm sàng trở nên khả thi. Đó là một công việc vất vả đối với giáo sư Mechoulam.

Thế hệ nhà nghiên cứu tiếp theo

Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của ông ở Jerusalem, Lumir Labs. (Ảnh Matan Weil / The Cannigma)

Ông đã cùng với một số đồng nghiệp thành lập một nhóm nghiên cứu cần sa. Người đầu tiên tham gia là Yuval Shvo, họ cùng nhau phân lập lại và thiết lập cấu trúc của cannabidiol, còn được gọi là CBD. CBD lần đầu tiên được nhà hóa học Roger Adams phân lập vào những năm 1940 nhưng cấu trúc của nó chỉ được biết đến một phần, đây là bước đột phá đầu tiên của nhóm Mechoulam. Ngay sau đó, hai người khác – Yehiel Gaoni, người vừa hoàn thành bằng tiến sĩ hóa học hữu cơ ở Sorbonne. Và Haviv Edery, một người nhập cư từ Argentina vài năm trước đó, cũng đã tham gia nhóm. Mục tiêu của họ là giải mã điều bí ẩn về cần sa đầu tiên — bằng cách nhận dạng các thành phần hoạt động của cần sa. Đầu tiên, họ xác định cấu trúc của THC, tiếp tục với việc phát hiện ra một số cannabinoid “nhỏ” khác.

Vào cuối những năm 1980, phần lớn thế hệ tiếp theo của các nhà nghiên cứu cần sa đã thực hiện một số công việc quan trọng nhất của họ ở Israel, cùng với ông Mechoulam. Hai nhân vật chủ chốt là Bill Devane, một thành viên của nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ra thụ thể đầu tiên của cần sa, và Lumír Hanuš, một nhà nghiên cứu người Séc đã tham gia nghiên cứu cannabinoid ở nơi quê nhà. Cùng với Mechoulam, cả hai đã phát hiện ra Anandamide vào năm 1992, cannabinoid nội sinh đầu tiên (hay còn gọi là endocannabinoid). Công việc của họ, cùng nhau và tách biệt nhau, đã dẫn đến việc phát hiện ra hệ thống endocannabinoid, được coi là một bước đột phá khác về khoa học và y học. Cả Devane và Hanuš đều đã tham gia rất nhiều vào nghiên cứu cần sa kể từ đó.

Nghiên cứu cần sa của Israel cũng đã ảnh hưởng đến công việc quan trọng diễn ra ở nước ngoài. Ví dụ, siêu sao nghiên cứu cần sa, Tiến sĩ Ethan Russo, người chịu trách nhiệm về sự phổ biến của các khái niệm như Hiệu ứng cộng hưởng và Sự thiếu hụt endocannabinoid lâm sàng (CECD), bắt đầu nghiên cứu cần sa của mình vào cuối những năm 1990 và tiến sĩ Russo xem ông Mechoulam là một trong những người cố vấn của mình.

Điều kiện chín muồi cho các nghiên cứu lâm sàng

Một người đàn ông trong viện dưỡng lão Israel được cho sử dụng cần sa từ máy hóa hơi. (Ảnh Chameleon’s Eye / Shutterstock)

Bộ Y tế Israel bắt đầu cấp giấy phép sử dụng cần sa y tế cho từng bệnh nhân vào cuối những năm 1990. Các chỉ định phổ biến để điều trị bằng cần sa là bệnh HIV / AIDS và ung thư, nhưng trên thực tế chỉ một số ít bệnh nhân xin giấy phép và thậm chí một số ít được cấp.

Hầu hết các bệnh nhân đủ điều kiện đều rất ốm yếu và không có khả năng thông quan và do quá trình cấp phép quan liêu khó có thể xin giấy phép trồng cần sa để chữa bệnh. Nếu bệnh nhân có kiếm được cây hoặc hạt giống cần sa, thì hầu hết mọi người đều thiếu kiến thức và thiết bị để tự trồng cần sa.

Tất cả những điều ấy đã thay đổi khi một số người có giấy phép thành lập một tập thể trồng cần sa, Tikun Olam (tiếng Do Thái có nghĩa là “sửa chữa thế giới”). Nhóm tình nguyện viên này đã nhận được giấy phép trồng 100 cây cần sa cho những bệnh nhân khác, đồng thời cũng giới thiệu việc sử dụng cần sa y tế cho những người cao niên, đi từ nhà hưu dưỡng này sang nhà hưu dưỡng khác, quảng bá việc sử dụng cần sa cho mục đích chữa bệnh. Cuối cùng, số lượng người có giấy phép nhiều đến mức Tikun Olam không thể tiếp tục hoạt động như một tổ chức phi chính phủ và trở thành một công ty tư nhân vào năm 2010. 7 nhà sản xuất cần sa khác bắt đầu hoạt động tại quốc gia này cùng năm đó.

Việc sử dụng cần sa trong y tế ở Israel tiếp tục tăng lên hàng năm, với 2.000 bệnh nhân được điều trị vào năm 2009, 22.000 bệnh nhân vào năm 2015 và khoảng 50.000 bệnh nhân vào năm 2019. Sự tăng trưởng này đã tạo điều kiện cho nhiều hơn và các loại nghiên cứu cần sa khác nhau. Trước hoạt động của Tikun Olam, nghiên cứu ở Israel chủ yếu là tiền lâm sàng nhưng với khả năng tiếp cận với một lượng lớn bệnh nhân cần sa y tế, các nghiên cứu lâm sàng về bệnh nhân thực bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là đối với các bệnh như: động kinh, bệnh Alzheimer, ung thư, bệnh Crohn, và viêm loét đại tràng.

Đồng thời, một thế hệ nhà nghiên cứu cần sa mới đã ra đời. Hai ví dụ điển hình là Dedi Meiri từ Học viện Công nghệ Technion-Israel, và Yossi Tam từ Đại học Hebrew ở Jerusalem. Meiri điều hành Phòng thí nghiệm Sinh học Ung thư và Nghiên cứu Cannabinoid điều tra các đối tượng ví dụ như tiềm năng điều trị của cannabinoid và ông chủ yếu tập trung vào các loại ung thư, bệnh động kinh và bệnh tiểu đường. Yossi Tam là Trưởng Trung tâm Đa ngành Nghiên cứu Cannabinoid tại Đại học Hebrew, bao gồm hàng chục nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu các chủ đề như: viêm, đau, hệ thống miễn dịch, sự trao đổi chất và ung thư.

Mặc dù chương trình cần sa y tế của Israel bắt đầu từ những năm 1990, nó vẫn còn rất nhiều hạn chế. Bệnh nhân thường phàn nàn về việc tiếp cận, khó xin đơn thuốc và chi phí cao mà không được bảo hiểm y tế chi trả.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: How Israel Became a Cannabis Research Hub, Written by Matan Weil

Hiệu ứng cộng hưởng trong cần sa có thật hay không?

Cho dù bạn là một người sử dụng lâu năm hay mới sử dụng loại thảo mộc này, bạn có thể đã nghe nói về hiệu ứng cộng hưởng. Hiện tượng này nói về sức mạnh tổng hợp diễn ra khi sử dụng kết hợp THC, CBD, cannabinoid thứ yếu, và tecpen để mang lại lợi ích cho sức khỏe.

Hiện tượng cộng hưởng này thường được gắn liền với “thuốc từ cây tự nhiên” hoặc “sức mạnh tổng hợp của toàn bộ thành phần trong cây”, và nó dựa trên cơ sở rằng các sản phẩm cần sa với nhiều hợp chất đa dạng có thể mang lại những lợi ích sức khỏe mà các hợp chất và cannabinoid cô lập không thể làm được.

Giáo sư Raphael Mechoulam và giáo sư Shimon Ben-Shabat lần đầu tiên nghiên cứu về sức mạnh cộng hưởng của toàn bộ các thành phần trong cây vào năm 1998. Nghiên cứu của họ lập luận rằng hệ thống endocannabinoid của cơ thể phản ứng tốt hơn với chiết xuất từ cần sa tự nhiên bằng cách tăng hoạt động của hai thụ thể endocannabinoid cơ bản. Sức mạnh cộng hưởng tiềm năng này là gợi ý cho câu hỏi tại sao các loại thuốc  tự nhiên thường hiệu quả hơn các loại thuốc chỉ chứa một thành phần hoạt chất được phân lập từ cây đó.

Một loạt các nghiên cứu khoa học được tiến hành trong vòng vài năm trở lại đây đã và đang tiếp tục tìm hiểu và khám phá sâu hơn về chủ để này. Các nhà khoa học đang điều tra, khảo sát những hợp chất điển hình được cho là thúc đẩy hiệu ứng cộng hưởng và thậm chí một nghiên cứu đã đưa ra nghi vấn rằng liệu hiệu ứng cộng hưởng có bị thổi phồng quá mức hay không.

Theo một số kết quả nghiên cứu, các cơ chế thúc đẩy hiệu ứng cộng hưởng này không hề đơn giản như những gì mà giới marketing cần sa vẫn thường nói với chúng ta.

Vậy chúng ta thực sự biết gì về hiệu ứng cộng hưởng?

Đầu tiên, có bằng chứng cho thấy một số cannabinoid làm tăng tác dụng của các cannabinoid khác. Ví dụ: THC có thể nâng cao hiệu quả điều trị của phương pháp trị liệu sử dụng CBD; và các cannabinoid thứ yếu cũng có thể đóng góp lợi ích nhất định.

Trong một nghiên cứu tiến hành trên tế bào ung thư vú được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và động vật thí nghiệm, các nhà khoa học phát hiện ra sự có mặt của các cannabinoid phụ trong cần sa giúp cải thiện kết quả thí nghiệm. Tiến sĩ, bác sĩ Ethan Russo – một nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về tác dụng cộng hưởng trong cần sa và cũng là giám đốc điều hành của tổ chức khoa học CReDO đã đưa ra kết luận rằng:  “Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa có hiệu quả hơn là THC phân lập tinh khiết trong việc tiêu diệt khối u và hạn chế sự phát triển của chúng.” Tác dụng cộng hưởng trong chiết xuất cần sa có thể được giải thích bởi sự xuất hiện với hàm lượng đáng kể của cannabigerol (CBG) và tetrahydrocannabinolic (THCA) trong chiết xuất, bên cạnh THC.

Hơn nữa, nghiên cứu này còn so sánh hiệu quả điều trị bệnh động kinh tình trạng nặng khi sử dụng CBD phân lập so với chiết xuất từ cây cần sa, kết quả thu được là chiết xuất từ cây cần sa cho tác dụng tương đương và với liều lượng ít hơn 20%, tiến sĩ Russo cho hay. Nhưng đối với tiến sĩ – bác sĩ Jordan Tishler, một chuyên gia trị liệu sử dụng cần sa và là cố vấn cho trường đại học Y Havard, một số yếu tố liên quan đến tác dụng cộng hưởng đã được làm sáng tỏ nhưng vẫn còn quá chung chung. Ví dụ, có những bằng chứng hiển nhiên là CBD ảnh hưởng đến khả năng liên kết của THC tại thụ thể của nó, từ đó làm ảnh hướng đến tác dụng của THC.

Ông nói: “Hiệu ứng cộng hưởng cũng giải thích tại sao THC tinh khiết không đặc biệt hiệu quả, và cần sa tự nhiên vẫn tốt hơn.” Tuy nhiên, ông cũng lập luận rằng các tác động của hiệu ứng cộng hưởng đã được ngoại suy quá mức khỏi các bằng chứng khoa học hiện tại. “Quan điểm rằng các hợp chất hóa học khác là quan trọng để CBD có hiệu quả hiện vẫn chưa được ủng hộ.”

Tishler cũng nói rõ rằng vai trò của các cannabinoid thứ yếu như CBG hoặc CBN vẫn chưa được hiểu đầy đủ trong mối tương quan với THC hoặc các cannabinoid khác. “Nói cách khác, nhiều phân tử có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động của THC, nhưng điều này không có nghĩa là chúng có vai trò hỗ trợ các cannabinoid khác,” ông nói.

Trong khi các nhà khoa học đang xem xét những điều này, thì một cách hiểu mới cho hiệu ứng cộng hưởng đã được đề xuất. Hiệu ứng này có thể được sử dụng để hiểu để giải thích hai hiện tượng riêng biệt:

– Tác dụng cộng hưởng nội phân tử, đề cập đến tương tác giữa các cannabinoid và các  tecpen.Tác dụng cộng hưởng liên phân tử, biểu thị tương tác giữa cannabinoid với cannabinoid hoặc giữa các tecpen với nhau.

Trong khi đã có những bằng chứng khẳng định về tác dụng liên phân tử thì vẫn có rất ít nghiên cứu về các tương tác nội phân tử.

Tecpen là gì?

Sự đóng góp chung là tecpen là một nhân tố quan trọng trong hiệu ứng cộng hưởng. Tuy nhiên, nghiên cứu về sức mạnh tổng hợp cannabinoid-terpene vẫn còn tương đối ít ỏi cho đến gần đây. Một nhóm các phát hiện được công bố trong năm qua cho thấy rằng tecpen có thể không góp phần vào hiệu ứng cộng hưởng theo cách mà chúng ta đã tin tưởng.

Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 3 năm 2020, tecpen có trong cần sa có thể không tạo hiệu ứng cộng hưởng chút nào. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy năm trong số các tecpen phổ biến nhất – myrcene, α- và β-pinen, β-caryophyllene, và limonene – tham gia tạo hiệu ứng cộng hưởng bằng cách liên kết với các thụ thể cannabinoid của cơ thể.

Theo nghiên cứu khác được công bố trong năm nay, cũng không có bằng chứng nào cho thấy tecpen tạo điều kiện cho hiệu ứng cộng hưởng liên phân tử- khi cannabinoid và tecpen hoạt động cùng nhau – bằng cách tương tác với các con đường tác động của cannabinoid khác nhau trong cơ thể.

Tuy nhiên, nghiên cứu khác lại cho thấy, những kết quả này là chưa thuyết phục. Trong một nghiên cứu vào tháng 4 năm 2020 trên chuột, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ba loại tecpen cần sa phổ biến — humulene, pinene và geraniol — đã kích hoạt thụ thể CB1. Thụ thể CB1 chịu trách nhiệm tạo ra các phản ứng sinh lý, chẳng hạn như giảm nhận thức về cơn đau. Các tecpen này đã khởi động các phản ứng sinh lý đặc hiệu với CB1 ở chuột, cho thấy tecpen có thể mang lại lợi ích điều trị.

Theo Tishler, không có đủ bằng chứng cho thấy tecpen góp phần tạo nên sức mạnh cộng hưởng trong cần sa toàn phần. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các hợp chất thơm này không hiệu quả. Tishler nói: “Có hai ngoại lệ. “Myrcene, gây buồn ngủ nhưng một cách độc lập, chứ không phải là khi một phần của hiệu ứng cộng hưởng; và β-caryophyllene có thể quan trọng trong việc kiểm soát cơn đau”.

Vậy hiệu ứng cộng hưởng có thực sự tồn tại?

Tishler nói rằng hiệu ứng cộng hưởng là một hiện tượng thực tế bị hiểu nhầm. Ông nói: “Hiện tại, hiểu biết của chúng tôi về các tương tác của hiệu ứng cộng hưởng là khá hạn chế. Không có đủ dữ liệu để cho ra mắt các sản phẩm hoặc đề xuất cụ thể dựa trên các cannabinoid hoặc tecpen khác. Điều đó không có nghĩa là hiệu ứng cộng hưởng không có thật, nhưng chúng tôi chưa thực sự chắc chắn về các cơ chế hoạt động của nó.”

“Ở khía cạnh lâm sàng, các sản phẩm THC và CBD nguyên chất có vẻ kém hiệu quả hơn so với cần sa tự nhiên, điều đó cho thấy thực sự có các chất hoạt chất khác có tác dụng trong đó – chỉ là vẫn chưa rõ chúng là loại nào và cách hoạt động ra sao.” Tishler nói.

Bất chấp những phát hiện mâu thuẫn xuất hiện trong một số tài liệu, Ethan Russo vẫn là người ủng hộ nhiệt tình cho hiệu ứng cộng hưởng. Ông khẳng định: “Mặc dù vẫn có một số những thất bại trong việc chứng minh lợi ích của các chất cộng hưởng, có thể là do các chế phẩm không được tối ưu hóa về mặt điều trị, khái niệm về hiệu ứng cộng hưởng đang dần được khai thác đúng hướng.”

Russo chỉ ra các tiêu chuẩn không nhất quán về chất lượng cần sa là nguyên nhân dẫn đến những kết quả trái ngược.

Russo giải thích: “Việc tiếp cận các loại thuốc làm từ cần sa chất lượng cao và hiệu quả nhất vẫn là một thách thức to lớn đối với người tiêu dùng hoặc người chăm sóc của họ. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin phân tích và an toàn, bao gồm hồ sơ cannabinoid và terpenoid hoàn chỉnh thông qua các kết quả xét nghiệm của các lô hàng có sẵn tại điểm bán. Điều này cũng cần phải đi kèm với việc giáo dục tốt hơn về những tác dụng dược lý của các thành phần cannabinoid và terpenoid khác nhau”.

 

Dịch giả: Lê Quỳnh Anh

Nguồn: Leafy | Is the cannabis entourage effect real?

Hệ thống cannabinoid nội sinh cho người mới bắt đầu

Hệ thống Endocannabinoid được tạo thành từ các tế bào thần kinh, endocannabinoid và thụ thể cannabinoid. Các tế bào thần kinh được gọi là nơron trong não và cơ thể được kết nối với nhau bởi các chất dẫn truyền thần kinh. Các chất dẫn truyền thần kinh này là các phân tử được gọi là các chất chủ vận, chúng di chuyển từ nơron này sang nơron khác thông qua khoảng không giữa chúng, được gọi là khớp thần kinh (Xy náp). Các chất chủ vận gắn vào các thụ thể thần kinh, gây ra chuỗi phản ứng. Trong hệ thống cannabinoid nội sinh, các thụ thể này được gọi là CB1 (thụ thể Cannabinoid 1) và CB2 (thụ thể Cannabinoid 2). Các thụ thể CB1 chủ yếu được tìm thấy trong não, một số trong gan, phổi và thận. Các thụ thể CB2 được tìm thấy khắp cơ thể. Có nhiều thụ thể cannabinoid hơn trong não so với bất kỳ loại thụ thể thần kinh nào khác và điểm tương đồng chung là các chất chủ vận là chìa khóa và các thụ thể là ổ khóa.

 

Hệ thống cannabinoid nội sinh gửi tín hiệu đến não bộ và khắp cơ thể.

Cannabinoids truyền tín hiệu từ nơron này sang nơron khác.

CB1 = Thụ thể cannabinoid 1, được tìm thấy nhiều nhất trong não.

Cb2 = Thụ thể cannabinoid 2, được tìm thấy chủ yếu trong cơ thể.

Hệ thống cannabinoid nội sinh được hoạt hóa bởi các cannabinoid. Các chất cannabinoid được sản sinh một cách tự nhiên bởi cơ thể được gọi là các cannabinoid nội sinh, còn khi được tìm thấy trong cây cần sa sẽ được gọi là phytocannabinoids. Cơ chế chìa khóa và ổ khóa dựa trên việc các thụ thể CB1 và ​​CB2 chỉ được kích hoạt bởi cannabinoids, không phải bất kỳ loại phân tử chủ vận nào khác. Chỉ duy nhất “chìa khóa” cannabinoid là khớp với các “ổ khóa” CB1, CB2.

Phyto: có nghĩa là cây hoặc thực vật.

Endo: có nghĩa là bên trong.

Phytocannabinoids: còn được gọi là các Cannabinoid cổ điển, có nguồn gốc từ thực vật.

Endocannabinoids: các cannabinoid cơ thể tự sản xuất được.

Các thụ thể CB1 được hoạt hóa bởi phytocannabinoid, tetrahydrocannabinol hay THC, do đó, khi hiệu ứng “high” gây ra bởi các giống SATIVA, chủng có nhiều THC hiển nhiên được nhắc đến đầu tiên, câu nói đó đúng sự thật là như vậy! Các thụ thể CB2 được kích hoạt bởi phytocannabinoid cannabidiol hoặc CBD, tạo ra một hiệu ứng thư giãn, hiệu ứng toàn thân. Điều này giúp việc ghi nhớ sự khác biệt giữa vị trí và tác động của hai loại thụ thể thật dễ dàng!

 

CB1 = THC = đầu

CB2 = CBD = cơ thể

Hệ cannabinoid nội sinh điều hòa nhiều hệ thống khác trong cơ thể để duy trì cân bằng nội môi: trạng thái ổn định cần thiết của cơ thể khỏe mạnh. Cân bằng nội môi có thể được hiểu là một khoảng hẹp các trạng thái dao động để cơ thể hoạt động được bình thường. Ví dụ: đường huyết, thân nhiệt, độ pH của máu, sự điều tiết nước và khoáng chất trong cơ thể và việc loại bỏ chất thải trao đổi chất đều bị chi phối bởi các quá trình cân bằng nội môi.

Hầu hết các chất chủ vận chỉ hoạt động theo một chiều. Nhưng lạ thường là cannabinoids có thể di chuyển theo cả hai chiều giữa các tế bào thần kinh. Đây gọi là cơ chế điều hoà ngược âm tính. Cơ chế này làm cho Hệ thống Endocannabinoid trở thành hệ thống thiết yếu cho hầu hết các dạng sống. Nó báo hiệu cho cơ thể khi bắt đầu một quá trình (ví dụ; đổ mồ hôi để hạ nhiệt) cũng như dừng lại quá trình đó (nếu không chúng ta sẽ đổ mồ hôi liên tục).

Cơ thể liên tục sản xuất các chất cannabinoid nội sinh tương tác với hệ thống Endocannabinoid để đảm bảo sự cân bằng nội môi được liên tục. Nếu cannabinoid nội sinh được tạo thành không đủ sẽ dẫn đến sự thiếu hụt endocannabinoid lâm sàng. Chứng bệnh này có thể chữa được bằng cách bổ sung phytocannabinoid, một việc mà loài người vốn vẫn làm dưới nhiều mức độ khác nhau từ rất lâu trong lịch sử.

 

Lý do cần sa có thể chữa nhiều chứng bệnh vì Hệ thống Endocannabinoid có mặt khắp cơ thể và chịu trách nhiệm duy trì chức năng chính xác của nhiều phần khác nhau của nó.

Tất cả các động vật có xương sống và động vật không xương sống đều có Hệ thống Endocannabinoid. Điều này giải thích tại sao các sản phẩm từ cần sa rất thành công khi được sử dụng trên vật nuôi và có khả năng chữa trị cho một số lượng hầu như không giới hạn các loài. Có một vài loài là không có hệ thống endocannabinoid, chẳng hạn như bọt biển, giun tròn và cỏ chân ngỗng, vì sự tiến hóa của chúng đã phân hóa từ rất lâu.

Dạng sống sớm nhất được biết là có thụ thể cannabinoid là hải tiêu.  Sinh vật hình ống nguyên thủy này đã tiến hóa hơn 600 triệu năm trước và nôn ra các cơ quan nội tạng của nó như là một động thái tự vệ! Thậm chí còn có một loại nấm nhầy “sở hữu một hệ thống endocannabinoid thô sơ“. Bạn có thể nghĩ rằng, vì hệ thống Endocannabinoid quá cổ xưa, quan trọng và rất phổ biến trong các dạng sống, nó đáng lẽ ra đã được phát hiện từ lâu. Nhưng không, hệ thống Endocannabinoid chỉ được xác nhận ở dạng mà chúng ta biết ngày nay (thụ thể CBD1 và CBD2 , được hoạt hóa bởi hai endocannabinoid đã biết) vào năm 1995!

1940 – CBD được phân lập lần đầu tiên.

1963 – CBD được tổng hợp lần đầu tiên.

1964 – THC được tổng hợp lần đầu tiên.

1988 – CB1 được xác định (ở chuột).

1991 – CB1 của người được nhân bản thành công.

1992 – Anandamide, endocannabinoid đầu tiên, được phát hiện trong não người.

1993 – CB2 được xác định ở người và nhân bản thành công.

1995 – 2-AG, endocannabinoid thứ hai, được phát hiện.

CBD phytocannabinoid lần đầu tiên được phân lập vào năm 1940, nhưng mãi cho đến năm 1963, Giáo sư Raphael Mechoulam và nhóm nghiên cứu của ông mới khám phá ra cấu trúc hóa học của nó và tổng hợp thành công. Kỳ tích của họ đã được lặp lại với THC một năm sau đó. Năm 1988, thụ thể cần sa đầu tiên được xác định, và vào năm 1993, thụ thể thứ hai. Endocannabinoid đầu tiên, Anandamide, được phát hiện vào năm 1992 và endocannabinoid thứ hai, 2-Arachidonoylglycerol, được gọi là 2-AG, được tìm thấy tiếp theo vào năm 1995. Giáo sư Mechoulam, đã cho biết, một thông điệp đơn giản nhưng quả quyết:

“Bằng cách sử dụng một loài thực vật đã tồn tại hàng ngàn năm, chúng tôi đã khám phá ra một hệ thống sinh lý mới có tầm quan trọng to lớn… Chúng tôi sẽ không bao giờ đạt được điều đó nếu bỏ qua cây cần sa.”

Dịch giả: WalterWhite

Nguồn: Hemp Edification

Bài viết được xem nhiều nhất