Rễ cần sa xứng đáng có được một vị trí trong tủ thuốc của bạn

Trong khi hầu hết mọi người chỉ tập trung vào búp hoa cần sa với những cách sử dụng như hút (bằng điếu, bong, hay máy hóa hơi), nấu ăn, hoặc chiết xuất; song vẫn có một điều quan trọng cần ghi nhớ chính là tất thảy mọi bộ phận của loài cây này cũng có những giá trị đáng lưu ý. Hạt, thân, lá, nhựa, và ngay cả rễ của cần sa  đều có những lợi ích y tế.

Từ xa xưa, rễ chính là một trong những bộ phận có giá trị nhất của cây cần sa. Những thầy thuốc sử dụng thảo dược trong nền về y học Trung Hoa đã đưa cần sa vào các bài thuốc của họ từ gần 5.000 năm trước, ví dụ như dùng rễ cây gai dầu như một vị thuốc lợi tiểu. Họ cũng sử dụng rễ cây gai dầu cho những bà mẹ mới sinh để ngăn ngừa xuất huyết hậu sản.

Tại Rome vào khoảng đầu thiên niên kỷ thứ nhất, sử gia Gaius Plinius Secundus (được biết đến nhiều hơn với tên gọi Pliny Già) đã ghi lại những công dụng của rễ cây gai dầu trong tác phẩm Naturalis Historia (Lịch sử tự nhiên.) Cụ thể, ông đã viết rằng nó có ích trong điều trị triệu chứng cứng khớp và những vết thương do bỏng. Tại Azerbaijan thời Trung Cổ, rễ cây cần sa được sử dụng để điều trị vết thương, sốt, đau răng, áp-xe và viêm loét.

Năm 1653, cuốn sách Complete Herbal (Thảo dược toàn diện) của nhà thực vật học người Anh Nicholas Culpeper đã xếp loại rễ cần sa như một phương pháp trị bệnh vàng da, đau bụng, xuất huyết nặng, ho khan và bỏng. Năm 1696, thầy thuốc người Đức Georg Eberhard Rumpf đã ghi nhận rễ cây cần sa có lợi trong điều trị bệnh lậu. Tác phẩm The New English Dispensatory (Tân dược thư Anh quốc) trong ấn bản năm 1764 cũng khuyên sử dụng rễ cần sa đun sôi để điều trị các khối u, bệnh gout, và viêm da.

Giá trị y tế của rễ cây cần sa nằm trong thuộc tính hóa học của nó. Đầu tiên, nó chứa một lượng choline, một dưỡng chất giúp duy trì sức khoẻ của màng tế bào và đặc biệt hữu ích đối với phụ nữ sau mãn kinh – những người thường có nguy cơ thiếu hụt choline. Nó cũng chứa các terpene (còn gọi là các phân tử thơm) như friedelin và epifriedelanol – là những chất mang đặc tính chống oxy hóa, bảo vệ gan, và chống khối u. Các terpene khác như các ketone triterpene pentacyclic (xe-ton tri-tec-pen 5 vòng) làm giảm viêm và vi khuẩn, có tác dụng như một chất lợi tiểu, và tiêu diệt các tế bào ung thư; trong khi piperdine và pyrroldine được các công ty dược phẩm sử dụng trong bào chế dược phẩm. Rễ cần sa cũng chứa altopine – chất  có thể hoạt động như một loại thuốc giãn phế quản hoặc thuốc giãn cơ mắt.

Nếu nơi bạn đang sinh sống cho phép người dân tự trồng cần sa phục vụ những mục đích y tế hoặc sử dụng cho người trưởng thành, hãy lưu ý giữ lại rễ cây khi thu hoạch các búp hoa. Bạn có thể đun rễ cần sa với lửa nhỏ trong thời gian nửa ngày để có được một món trà; có thể cho thêm các loại thảo mộc khác như bạc hà hoặc quế để cải thiện hương vị, cũng như thêm dầu hoặc bơ để dễ hòa tan các hoạt chất trong cơ thể. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng rễ cần sa ở dạng kem bôi ngoài da hoặc cồn thuốc để điều trị vết xước/rách da và vết bỏng, các bệnh ngoài da, viêm khớp, viêm, và các chứng đau nhức.

Nguồn: janest.com

Y học Cổ Truyền Trung Hoa: Cần sa đã được sử dụng qua nhiều thế kỷ

Ngành Y đã dẫn dắt người phương Tây đi lạc đường, khiến chúng ta phải chờ đến lúc bị bệnh và được điều trị cho căn bệnh đó.

Nhưng nhận thức đang dần thay đổi – nhiều người Tây đang chú ý đến sức khỏe hơn và tìm kiếm thêm các phương án điều trị.

Y học cổ truyền Trung Quốc đã có nhiều phương pháp dựa trên một khái niệm truyền thống 5.000 năm. Cách chữa bệnh này gồm các dạng thảo mộc, mát xa (tui na), tập thể dục (tai chi), liệu pháp dinh dưỡng và châm cứu. Nhiều người đã quen thuộc với công dụng của châm cứu, nhưng phần lớn vẫn chưa quen với sự liên hệ của nó với cần sa. Nghiên cứu đã xác nhận rằng châm cứu tác động cộng hưởng cùng với hệ thống Endocannabinoid cũng như Cần sa. Cũng không có gì khó hiểu nếu bạn đang trị đau/viêm bằng cần sa, thêm châm cứu vào có thể làm dịu đi cơn đau.

Cần sa có một lịch sử lâu đời trong Y học Trung Hoa cổ truyền. Cần sa là một trong 50 thảo mộc “cơ bản” của YHTHCT, được kê đơn cho nhiều triệu chứng khác nhau. Cần sa, đọc là má, trong tiếng Hoa nghĩa là “gai dầu; cần sa; tê liệt”, và được vua Thần Nông, một nhà dược học sử dụng.

Năm 2737 trước Công nguyên, ông đã viết sách về các phương pháp trị bệnh, cuốn sách đầu tiên có nhắc đến công dụng y tế của cần sa. Thần Nông có liên quan đến sự thất bại của Saman giáo và ông đã nghiên cứu những đặc tính của cây trồng Trung Quốc, ông thường thử nghiệm trên chính mình. Theo báo cáo, cơ thể ông đã chuyển sang màu xanh lá và tử vong một ngày sau khi bị nhiễm một chất độc tự quản. Thần Nông khuyên dùng một loại thần dược gai dầu, hình như là một loại trà hoa lá, và ông thường chấp nhận được trả công bằng gai dầu. Vào năm thứ nhất Công nguyên, cuốn sách “Pen Ts’ao Ching” (Thảo mộc Thần nông) được biên soạn, dựa trên những truyền thống của thời Thần Nông và được biết là dược thư lâu đời nhất, một cuốn sách tham khảo về thảo mộc. Trong đó, cần sa được khuyến cáo để trị hơn 100 bệnh, gồm có bệnh gút, thấp khớp, sốt rét và đãng trí. Nhiều thế kỷ sau, một văn bản y tế Trung Quốc mô tả việc sử dụng cần sa để trị nôn mửa, nhiễm ký sinh trùng và xuất huyết.

Hoa Đà sinh ra rất lâu sau đó (140-208 AD), tuy nhiên ông được công nhận là người đầu tiên dùng cần sa để gây mê. Trong tiếng Hoa, thuật ngữ gây mê cũng cấu thành từ những ký tự mang nghĩa gai dầu, sau đó là những ký tự mang nghĩa nhiễm độc. Hoa Đà đã sấy khô và nghiền cây gai dầu thành bột, trộn với rượu để kiểm soát bên trong lẫn bên ngoài. Hoa Đà đã giải phẫu loại bỏ các mô bệnh bằng tính năng gây mê, kiểm soát từng khu và toàn bộ cơ thể bằng rượu cần sa và châm cứu để kiểm soát cơn đau. Hoa Đà có thể đã dùng những chủng gai dầu Ấn Độ có hàm lượng CBD cao.

Thật là một sự kết hợp thú vị — liệu pháp cannabinoid và châm cứu để giảm đau. Hãy xem xét kỹ hơn.
Châm cứu được sử dụng cho những cơn đau cấp tính và mãn tính, nhưng cơ chế tác dụng của nó vẫn chưa được hiểu rõ. Châm cứu là đâm kim vào cấu trúc bề mặt của cơ thể, gồm có da, mô và cơ dưới da, thường nằm ở những điểm châm cứu, và những thao tác khác với cây kim. Thao tác này nhằm để lưu thông dòng khí – năng lượng sống của cơ thể. Những người hành nghề y Trung Hoa tin rằng sự trì trệ và thiếu vận động của năng lượng này mang đến cơn đau và rối loạn chức năng. Theo YHTHCT, châm cứu nhằm để tạo thuận lợi cho dòng khí di chuyển trong con đường năng lượng của cơ thể.

Châm cứu thường đi kèm với ngải cứu – một thảo mộc ngải cứu được đốt và hơ gần da hoặc cuộn thành một điếu xì gà như một nguồn nhiệt tập trung.

Chữ Châm cứu trong tiếng Hoa nghĩa là “Châm cứu bằng ngải”. Liệu pháp ngải cứu được giảng dạy trong chương trình cấp bằng YHTHCT nhưng nhiều học viên nghĩ rằng nó không thực tế để áp dụng trong phòng khám.

Nhiều học giả đã đọc và diễn dịch các văn bản cổ cho rằng loại thảo mộc dùng trong điếu xì gà không phải là ngải cứu, mà là cần sa, và lớp ngải cứu đó chỉ dùng để gói điếu xì gà. Ngày nay, lớp ngoài và ruột bên trong điếu xì gà chỉ là ngải cứu. Có lẽ các thầy thuốc Trung Quốc đã hun khói bệnh nhân của mình, vài người tin rằng khói đó có đặc tính chữa bệnh và nó kích thích làn da bằng nhiệt độ. Quá trình xông khói này diễn ra trước khi dùng cây kim để tạo thuận lợi cho dòng khí.

Châm cứu và ngải cứu đã phổ biến ở Trung Quốc và là một phần của một phương pháp có hệ thống. Ở phương Tây, mới đầu người ta nghĩ rằng nó phụ thuộc vào những điểm châm cứu tưởng tượng và kinh tuyến giả thuyết. Vào đầu năm 1972, chuyến thăm của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc đã thúc đẩy một phương pháp khoa học để giải thích những đặc tính giảm đau của châm cứu. Trong những năm 1970, nghiên cứu cho thấy những tác dụng giảm đau của châm cứu là trung gian của opioid nội sinh. Chỉ riêng hệ thống opioid chứa đến khoảng 30 hợp chất opioid. Về mặt sinh học, những hợp chất phóng thích nhanh này là câu trả lời liên quan đến chứng viêm và đau. Hơn nữa, sự viêm và đau làm tăng sự tổng hợp các thụ thể opioid theo thời gian, làm giảm hiệu quả.

Nghiên cứu đã chứng minh: Châm cứu kết hợp một dòng điện nhỏ (ảnh hưởng đến việc giải phóng một hoặc nhiều endorphin) với một số đặc trưng khác.

Các nghiên cứu đã tập trung vào sinh lý học cannabinoid nội sinh. Endo-cannabinoid là những hợp chất nằm trong cơ thể có cấu trúc hình học tương tự như các cannabinoid, hay hợp chất thực vật THC và CBD. Ít nhất đã tìm thấy 5 endocannabinoid, gồm có anandamide, palmitoylethanolamide và 2-arachidonglycerol. Hơn 60 cannabinoid trong cây cần sa đều trực thuộc hệt thống Endocannabinoid. Những thụ thể cannabinoid được nghiên cứu nhiều nhất là thụ thể cannabinoid CB1 và CB2. Có một mối liên hệ giữa edogenous opiates (opiates nội sinh) và cannabinoid nội sinh. Những tín hiệu hóa học và các thụ thể liên kết này, cùng với cơ quan thụ cảm TRPV1, có thể là cách cannabinoid làm tăng sản lượng opiates và ngược lại.

Sự châm cứu ảnh hưởng đến hệ thống opioid và cannabinoid bằng cách giải phóng các phối tử thụ thể nội sinh (endogenous receptor ligands). Giống như các nghiên cứu từ những năm 1970 cho thấy sự sản xuất opiate gia tăng. Một nghiên cứu năm 2009 (sử dụng điện châm cứu để giảm đau các mô da bị viêm) đã tìm thấy một sự gia tăng liên quan đến mức anandamide (endocannabinoid) trên vùng da được điều trị.

Năm 2011, các nhà nghiên cứu Châu Âu kết luận rằng “Các kết quả cho thấy điện châm cứu làm giảm đau viêm và các cytokine gây viêm trên mô da bị viêm thông qua kích hoạt những thụ thể CB2.” Cytokine được hiểu là các sứ giả nội bào, hoặc cách mà các tế bào liên lạc với nhau. Với điện châm cứu, chúng giải phóng những opioid nội sinh, tăng endocannabinoid và tăng hoạt tính của thụ thể cannabinoid.

Trung Hoa cổ đại là một nền văn minh nông nghiệp quan sát những mô hình trong tự nhiên, họ cố gắng tìm cách sống hòa hợp với trái đất. Triết lý và phương pháp trị liệu của người Hoa là chiết trung, đã được thử nghiệm theo thời gian bởi những người như Thần Nông. Trước thời khoa học hiện đại, những điều người Hoa đã khám phá về giải phẫu và sinh lý học thật đáng kinh ngạc.

Tác giả: Tiến sĩ Scott D. Rose là một nhà thiên nhiên liệu pháp có một phòng khám tư ở Kirkland, Washington 

Nguồn: The Northwest Leaf

Dịch Giả: QM

Bài viết được xem nhiều nhất