Giải thưởng Harvey danh giá tiên đoán người đoạt giải Nobel sẽ là giáo sư Raphael Mechoulam

Một trong những giải thưởng khoa học danh giá nhất, giải Harvey về Kỹ thuật Hóa học và Khoa học Y tế, đã thuộc về Giáo sư Raphael Mechoulam – “cha đẻ” của ngành y học cần sa hiện đại.

Giáo sư Raphael Mechoulam từ Trường Dược thuộc Khoa Y tại Đại học Hebrew ở Jerusalem, là một trong hai người đoạt Giải thưởng Harvey danh giá vì nghiên cứu đột phá của ông trong thế giới cần sa y tế. Các nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này đã mang đến cho toàn thế giới một cái nhìn mới về cần sa như một loài cây chữa bệnh, thay vì chỉ là một hợp chất giải trí.

Giải thưởng Harvey – Giải thưởng tiên đoán giải Nobel!

Trong những năm qua, giải thưởng Harvey đã trở thành một công cụ dự đoán đáng tin cậy cho giải thưởng Nobel cao quý nổi tiếng. Kể từ năm 1986, đã có hơn 30% số người đoạt giải Harvey cuối cùng đã được trao giải Nobel. Trên thực tế, 3 người trong số họ – giáo sư Jennifer Doudna, giáo sư Emmanuelle Charpentier và giáo sư Reinhard Genzel – là những người sẽ nhận được giải thưởng Nobel cao quý năm nay!

Dựa trên sự đóng góp rất lớn của ông đối với các nghiên cứu cần sa y tế. Và chúng ta chỉ có thể khoanh tay với hy vọng rằng đó sẽ là “cha đẻ” của nghiên cứu cần sa sẽ đoạt giải trong những năm tới.

Tiểu sử giáo sư Raphael Mechoulam

Giáo sư Mechoulam sinh ra ở Bulgaria vào năm 1930, đó cũng là nơi ông theo học ngành kỹ thuật hóa học. Sau khi nhập cư đến Israel, ông đã nhận được bằng Thạc sĩ và bằng Tiến sĩ của mình về hóa sinh của Đại học Hebrew ở Jerusalem tại Viện Weizmann và hoàn thành nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Rockefeller ở New York. Năm 1960, ông gia nhập ban cán bộ khoa học của Viện Weizmann, và đến năm 1985, ông trở thành giáo sư tại Đại học Hebrew.

Chính sự tò mò về cần sa như một loài cây chữa bệnh đã dẫn ông đến đồn cảnh sát vào năm 1963, nơi ông lấy mẫu thử nghiệm đầu tiên – 5 kg hash – để sử dụng cho mục đích nghiên cứu. Giáo sư Mechoulam sau đó đã phát triển mối quan hệ của ông với các nhân viên tại Bộ Y tế Israel, những người đã cho ông giấy phép tiếp tục nhận các sản phẩm từ cần sa cho các nghiên cứu của mình trong vài thập kỷ tới. Như ông tóm tắt giản dị sự việc: “Tôi luôn luôn đến Bộ Y tế, họ đưa tôi một lá thư để đưa cho cảnh sát, tôi đến gặp cảnh sát và uống một chút cà phê với họ, lấy hashish tôi cần và chỉ thế thôi.”

Ông là nhà khoa học đầu tiên phân lập các cannabinoid thực vật, đầu tiên là THC (tetrahydrocannabinol) sau đó là CBD (cannabidiol), và ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra hệ thống endocannabinoid của con người, nó là một hệ thống tín hiệu tế bào phức tạp được tạo thành từ các thụ thể được tìm thấy trong toàn bộ cơ thể chúng ta. Các thụ thể này phản ứng với cannabinoid thực vật để điều trị nhiều tình trạng mà chúng ta mắc phải. Tất cả các sinh vật sống ngoại trừ côn trùng đều có hệ thống endocannabinoid.

Giáo Sư Mechoulam – Nhìn lại

Nghiên cứu của ông đã dẫn đến sự phát triển của nhiều lựa chọn điều trị an toàn và tự nhiên cho nhiều chứng rối loạn và bệnh hơn chúng ta có thể đếm được, nhưng đặc biệt là bệnh động kinh, sức khỏe tâm thần, bệnh đa xơ cứng và kiểm soát cơn đau. Hai hợp chất cannabinoid hàng đầu – THC và CBD, được sử dụng ngày nay trong các loại thuốc biệt dược – Marinol, một loại thuốc dùng để điều trị chứng buồn nôn, sử dụng hợp chất THC tổng hợp; và Epidiolex, loại thuốc đầu tiên được FDA chấp thuận sử dụng CBD tự nhiên làm thành phần chính, để điều trị các dạng động kinh hiếm gặp.

Với nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu cần sa, giáo sư Mechoulam đã được ban tặng nhiều sự công nhận và vô số danh hiệu cao quý, bao gồm Giải thưởng Israel về Khoa học Chính xác – Hóa học (2000) và Giải thưởng Kolthoff về Hóa học từ trường đại học Technion. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nhân văn Israel. Năm 2014, Giáo sư Mechoulam được tờ Jerusalem Post vinh danh là một trong “50 người Do Thái có ảnh hưởng nhất thế giới”.

Radio phỏng vấn Giáo sư Raphael Mechoulam, cha đẻ của nghiên cứu cần sa về “Đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng & Thử nghiệm lâm sàng”

Giáo sư Joseph DeSimone

Như đã đề cập trước đó, Mechoulam chỉ là một trong hai người chiến thắng giải thưởng Harvey danh giá. Người còn lại là Giáo sư Joe DeSimone, ông được biết đến với những đóng góp đáng kể trong khoa học vật liệu, hóa học, khoa học polyme, y học nano và in 3D.

Giáo sư DeSimone cũng đã đạt được những bước đột phá quan trọng trong việc sử dụng carbon dioxide siêu tới hạn để sản xuất fluoropolyme có nhiều ứng dụng trong y tế. Giáo sư DeSimone đã xuất bản hơn 350 bài báo trên các tạp chí khoa học và đã có hơn 200 bằng sáng chế mang tên mình. Ngoài ra, giáo sư DeSimone được ghi nhận là đã tạo ra những đổi mới quan trọng trong lĩnh vực y học chính xác (precision medicine), chẳng hạn như công nghệ PRINT (Particle Replication in Non-wetting Templates) trong công nghệ y tế, bao gồm cả sản xuất giao diện chất lỏng liên tục (continuous liquid interface production).

Nguồn: Canadian friends of the hebrew university of jerusalem | Prestigious Harvey Prize, a predictor of the Nobel, goes to Raphael Mechoulam

Dịch giả: Sadie Pices

Tiến sĩ Lumír Hanuš đã nghiên cứu cần sa trong 50 năm

Cách đây 50 năm, tiến sĩ Lumír Hanuš đã nghiên cứu tính chất kháng khuẩn và kháng sinh của cần sa trong một phòng thí nghiệm ở Tiệp Khắc. Các chất chiết xuất chiết xuất từ cần sa mà ông và các đồng nghiệp của mình tạo ra, đã được sử dụng trong các bệnh viện ở đó để điều trị mọi thứ từ loét vì nằm liệt giường, bệnh zona cho đến các bệnh phụ khoa.

“Nó rất hiệu quả chống lại các vi sinh vật gram dương.” Tiến sĩ Hanuš nói: “Bao gồm một số [loại vi sinh vật] gây bệnh.”

Khi tiến sĩ Hanuš rời khỏi đất nước sau cuộc Cách mạng Nhung vào năm 1990, không ai tiếp tục công việc của ông tại đây và cần sa trở thành bất hợp pháp.

Tua nhanh đến giai đoạn năm 1992 tại Jerusalem, tiến sĩ Hanuš là người đầu tiên cô lập một chất hóa học trong não (anandamide) liên kết với cùng thụ thể mà cần sa tương tác, điều đó đã lắp vào mảnh ghép cuối cùng về cách thức hoạt động của hệ thống endocannabinoid.

“Sau đó, khi chúng tôi phân lập được nhiều hợp chất hơn. Chúng tôi đặt tên chúng là endocannabinoid vì những hợp chất nội sinh này hoạt động giống như cannabinoid từ thực vật.” Tiến sĩ Hanuš nói trong một cuộc phỏng vấn với The Cannigma.

Tiến sĩ Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của mình – Lumir Labs, ở Jerusalem. (Photo: Matan Weil / The Cannigma)

“Chúng tôi không mong đợi điều gì xảy ra tiếp theo.” Tiến sĩ giải thích. “Chúng tôi đã xuất bản nghiên cứu trên tạp chí Science vào năm 1992 và năm sau đó, số lượng xuất bản về chủ đề này đã tăng lên theo cấp số nhân. Sau đó, mọi người bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu cần sa, và chính sự bùng nổ mà [chúng ta thấy] ngày nay.”

Tiến sĩ Hanuš có quan điểm độc đáo của một người đã đi đầu trong nghiên cứu cần sa y tế trong hơn 50 năm — ở cả hai đầu của những thay đổi lớn về tính hợp pháp, tính chính đáng và kiến thức của chúng ta về nó. Tiến sĩ là một người nổi tiếng đối với bất kỳ ai trong thế giới cần sa y tế.

Việc nghiên cứu cần sa nên tiếp tục ở đâu?

Tiến sĩ Hanuš sẽ phát biểu tại hội nghị cần sa y tế CannX ở Lisbon vào tháng 2. Một trong những điều ông nói sẽ được thảo luận ở đó, là việc nghiên cứu cần sa y tế nên được thực hiện theo hướng nào.

Tiến sĩ Hanuš cho biết, một trong những vấn đề mà nghiên cứu cần sa y tế ngày nay phải đối mặt, là số lượng tuyệt đối của các hợp chất trong cây cần sa. Đơn giản là, bạn không thể thử kết hợp tất cả các hợp chất để xem cách nào tạo nên phương pháp điều trị tốt nhất cho một căn bệnh nhất định.

Ông cho biết các nhà nghiên cứu nên xem xét các nhóm bệnh nhân đang được điều trị bằng cần sa và xem xét liệu kiểu hình hóa học (giống cần sa) nào và các thành phần của chúng sẽ có hiệu quả.

Tiến sĩ Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của mình – Lumir Labs, ở Jerusalem. (Photo: Matan Weil / The Cannigma)

“Bạn phải có ca bệnh. Bạn phải có những bệnh nhân thành công. Bạn phải có những bệnh nhân không thành công [những người đã từng sử dụng] cần sa. Bạn phải biết chính xác những gì những bệnh nhân thành công đã sử dụng, và phân tích nó. Bạn phải có những bệnh nhân không thành công và biết họ đã sử dụng tài liệu nào và phân tích nó – và có thể tái tạo nó.”

“Càng có nhiều ca bệnh, bạn càng chính xác.” Ông nói thêm: “Không chỉ để thử kết hợp các hợp chất, bởi vì [có] quá nhiều.”

Ngược lại, phần lớn các nghiên cứu về cannabinoid đang diễn ra hiện nay đang thực hiện theo cách tiếp cận ngược lại. Trước hết, họ xem xét các hợp chất cụ thể hoặc sự kết hợp của các hợp chất và cách chúng ảnh hưởng đến các bệnh khác nhau trong phòng thí nghiệm.

“Thiên nhiên vẫn là tốt nhất”

Đối với một nhà hóa học, tiến sĩ Hanuš là người ủng hộ mạnh mẽ các liệu pháp toàn thực vật. Ông nói liên tục về việc sử dụng các cây thuốc như Cây cơm cháy đen (Sambucus Nigra) ở quê hương Cộng hòa Séc — và tất nhiên, là về cần sa.

“Tôi nghĩ rằng con người không thể đánh bại thiên nhiên.” Ông nói về các chất cô lập dược phẩm của cannabinoid hoặc cannabinoid tổng hợp. “Họ đang cố gắng chuẩn bị các công cụ phái sinh vì họ có thể cấp bằng sáng chế cho nó và họ có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng từ thiên nhiên vẫn là tốt nhất.”

Tuy nhiên, điều bắt buộc là phải khám phá ra những hợp chất nào phù hợp nhất hoặc kết hợp tốt nhất để điều trị bệnh – không phải tất cả các cây cần sa đều có cùng tỷ lệ hoặc thành phần hóa học và không phải mọi người và mọi căn bệnh đều phản ứng giống nhau.

“Cannabinoids, cannabinoid acids, terpenes, terpenoids, flavonoids, flavonoid glycosides, polyphenols — đây là những hợp chất hoạt tính sinh học trong cần sa và có thể có một số loại khác nữa.” Tiến sĩ Hanuš giải thích.

Điều phức tạp hơn nữa, các hợp chất khác nhau của cây cần sa chỉ tồn tại ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nó, chưa kể đến việc một số có thể bị biến đổi hoặc mất đi trong quá trình khử cacbon – khi cần sa được đun nóng trong khi hút, hóa hơi hoặc nấu chín.

“Họ đang cố gắng chuẩn bị các công cụ phái sinh vì họ có thể cấp bằng sáng chế cho nó và họ có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng từ thiên nhiên vẫn là tốt nhất.” (Photo: Shutterstock

“Khi chúng tôi điều trị bệnh nhân bằng cần sa ở Tiệp Khắc, chúng tôi không bao giờ khử cacbon. Chúng tôi đã sử dụng những gì có trong cây, chủ yếu là cannabinoid trung tính và chủ yếu là các axit cannabinoid.” Tiến sĩ Hanuš nói.

“Hiện giờ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các axit cannabinoid rất quan trọng.” Ông nói thêm.

“Họ đang cố gắng chuẩn bị các công cụ phái sinh vì họ có thể cấp bằng sáng chế cho nó và họ có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng từ thiên nhiên vẫn là tốt nhất.” (Photo: Shutterstock)

“Khi bạn trồng [cần sa], ở các giai đoạn phát triển khác nhau, nó có thể là một loại thuốc khác nhau.” Tiến sĩ Hanuš tiếp tục giải thích rằng mục tiêu là tìm ra một công thức đạt được hiệu quả tối đa với các hợp chất tối thiểu.

Tiến sĩ Hanuš đưa ra ví dụ về nghiên cứu đang được tiến hành bởi Tiến sĩ Adi Aran với trẻ tự kỷ, chứng minh rằng việc lựa chọn giống cần sa chính xác là rất quan trọng để điều trị thành công.

Ông nói: “Chúng tôi biết giống cần sa là rất quan trọng, nhưng chúng tôi vẫn không biết nó phải là những hợp chất nào.

Anandamide gần như đã không được phát hiện như thế nào?

Tiến sĩ Hanuš cũng thảo luận về độ khó và tốc độ chậm chạp mà loại hình nghiên cứu này đang tiến triển. Ngay cả khám phá của ông về anandamide, được tiến hành trong phòng thí nghiệm của Đại học Hebrew trong phòng thí nghiệm của Giáo sư Raphael Mechoulam, cùng với nhà dược học người Mỹ William Devane, cũng gần như bị đình chỉ.

“Sau một năm, chúng tôi vẫn chưa có kết quả, vì vậy Giáo sư Mechoulam nghĩ chúng tôi nên đóng nghiên cứu này.” Ông hồi tưởng. “Chúng tôi đã hỏi ông ấy liệu ông ấy có thể tử tế và thử với chúng tôi một năm nữa không — và ông ấy đồng ý. Hợp chất đã được phân lập sau nửa năm kế.”

Ở hiện tại, tiến sĩ Hanuš đang xem xét thành phần cốt lõi chính xác của các hợp chất là gì để điều trị cho các loại bệnh và bệnh nhân. Một dự án đang được nghiên cứu với những hợp chất nào trong cần sa có thể giúp điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung.

“Đừng nghĩ rằng nó có thể chỉ qua một đêm hay một tuần, một tháng hay một năm – đó là một chặng đường dài.” Ông nói thêm. “Thông thường bạn làm việc trong một năm và không có kết quả, nhưng rồi bạn có kết quả xuất sắc trong một tuần.”

Hanuš không nghĩ rằng cần sa nên được hợp pháp hóa cho người trưởng thành sử dụng, trước sự ngạc nhiên của nhiều người trong thế giới cần sa.

“Tôi không ủng hộ nó được hợp pháp hóa hoàn toàn. Tôi ủng hộ hợp pháp hóa y tế.” Ông giải thích.

“Tôi không hút thuốc và uống rượu. Cuộc sống hạnh phúc khi bạn sống lành mạnh. Bạn sẽ không hạnh phúc và phấn khích vì hợp chất nào đó.” Ông nói. “Hãy chơi một số môn thể thao.”

 

Nguồn: The Cannigma | Lumír Hanuš Has Been Researching Cannabis for 50 Years

Dịch giả: Sadie Pices

Nghiên cứu: Trong đại dịch coronavirus, người tiêu dùng ở Mỹ chuyển sang CBD để giảm căng thẳng, cải thiện sức khỏe

Trong một năm xảy ra đại dịch chết người và cuộc bầu cử tổng thống đáng nhớ, không gì quá ngạc nhiên khi mức độ lo âu của người tiêu dùng ở Mỹ tăng cao ngất ngưởng.

Theo một nghiên cứu vào tháng 6 của Aclara Research, có trụ sở tại Chicago – một công ty phân tích người tiêu dùng cần sa và CBD hợp tác với Nielsen Global Connect. Ngành công nghiệp cây gai dầu và CBD và có ít nhất 20% người tiêu dùng đang sử dụng nhiều sản phẩm CBD hơn do kết quả trực tiếp của COVID-19. Kết quả nghiên cứu đã được nhấn mạnh trong một báo cáo của tờ Hemp Industry Daily được thực hiện với sự hợp tác của Nielsen trong bài viết “Làm thế nào để điều hướng thế giới phức tạp của CBD trong bán lẻ”.

Nghiên cứu nhấn mạnh cách người tiêu dùng hiện tại và người tiêu dùng mới sẽ phát triển một chế độ chăm sóc sức khỏe chủ động, để quản lý sức khỏe tâm lý của họ – bao gồm cả cách những hành vi này có thể tiếp tục sau đại dịch.

Trong số gần 3.000 người tiêu dùng trên khắp các tiểu bang nơi cần sa là hợp pháp, Aclara Research phát hiện ra rằng khoảng 1/5 người tiêu dùng được khảo sát cho biết họ đang mua nhiều sản phẩm CBD hơn trong thời gian đại dịch. Hơn một nửa số người tham gia (55%) cho biết họ không thay đổi số lượng cần sa hoặc CBD mà họ đã mua.

Những người tiêu dùng tham gia khảo sát đã có hiểu biết về cần sa từ trước, với hơn 80% nói rằng họ tự coi mình là người dùng sản phẩm cao cấp hoặc sử dụng sản phẩm tức thì. Và cứ 10 người thì có 8 người sử dụng cả cần sa và các sản phẩm CBD. Ngoài ra, 60% người sử dụng cần sa cũng đang mua các sản phẩm CBD có nguồn gốc từ cây gai dầu.

Người tiêu dùng trong khảo sát chi tiêu khoảng 900 đô la mỗi năm cho các sản phẩm CBD, với mức chi tiêu hàng năm lớn nhất bên cạnh chăm sóc sắc đẹp, đồ uống hoặc hoa, theo Aclara Research.

Theo ông Carmen Brace, người sáng lập và hiệu trưởng của Aclara Research, các thành viên tham gia khảo sát cho biết họ sử dụng các sản phẩm CBD thường xuyên và 88% sử dụng CBD vài lần mỗi tuần hoặc hơn.

Những người được khảo sát cho biết lý do hàng đầu để sử dụng các sản phẩm CBD là:

  • 1. Giảm đau (58%).
  • 2. Lo lắng (58%).
  • 3. Thư giãn (48%).
  • 4. Giấc ngủ (37%).
  • 5. Chăm sóc sức khỏe nói chung (30%).

CBD đang là xu hướng

“Khi đại dịch tiếp tục, các lý do hàng đầu cho việc sử dụng cần sa và CBD có nguồn gốc từ cây gai dầu trở nên phù hợp hơn khi số lượng người tiêu dùng tìm cách xoa dịu căng thẳng và lo lắng ngày càng tăng.” Ông Brace nói.

Nghiên cứu từ Kaiser Family Foundation chỉ ra rằng hơn 53% người trưởng thành cho biết, sức khỏe tinh thần của họ đã bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch coronavirus. Hơn 1/3 số người trưởng thành đã báo cáo các triệu chứng lo lắng, so với 1/10 người trưởng thành báo cáo từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 6 năm 2019.

Hơn nữa, dịch vụ phúc lợi thuốc có trụ sở tại Missouri, Express Scripts đã báo cáo rằng các đơn thuốc trị bệnh lo âu đã tăng 34% kể từ đại dịch, ông Brace cho biết thêm.

Trong khảo sát người tiêu dùng CBD vào tháng 6 năm 2020, Aclara Research phát hiện ra rằng:

– Có 68% số người được hỏi đồng ý với báo cáo: “Tôi đang cảm thấy căng thẳng hơn trong thời kỳ đại dịch so với trước đây.”

– 42% người được hỏi đồng ý với báo cáo: “Tôi đang mua thêm các loại thực phẩm và chất bổ sung tăng cường miễn dịch để cải thiện sức khỏe của mình.”

“Đối với các nhà bán lẻ, người tiêu dùng tập trung vào các giải pháp chăm sóc sức khỏe tích hợp có thể làm tăng diện tích bán lẻ — và tập trung vào các sản phẩm CBD có nguồn gốc từ cây gai dầu.” Ông Brace nói. “Những sản phẩm này đang hợp xu hướng với nhu cầu của người tiêu dùng, đóng vai trò tạo ra lợi nhuận mạnh mẽ và tăng trưởng của ngành.”

 

Nguồn: Hemp Industry Daily | Study: During coronavirus pandemic, American consumers turn to CBD for stress relief, wellness

Dịch giả: Sadie Pices

Kết quả nghiên cứu cho thấy: cần sa có nguồn gốc từ cao nguyên Tây Tạng


Bộ ba nhà nghiên cứu thuộc Đại học Vermont, Cao đẳng Middlebury và Đại học Nottingham, thành phố Ninh Ba, Trung Quốc, đã tìm thấy bằng chứng cho thấy cây cần sa có nguồn gốc từ Cao nguyên Tây Tạng. Trong bài báo [1] của họ được xuất bản trên tạp chí Lịch sử thực vật và Cổ thực vật học (Vegetation History and Archaeobotany), các nhà nghiên cứu: John McPartland, William Hegman và Tengwen Long mô tả phân tích của họ về các nghiên cứu trước đây về loài thực vật này và cách họ thu hẹp phạm vi nơi có khả năng mà nó có thể phát triển lần đầu tiên.

Cần sa có thể là một trong những loài thực vật được biết đến nhiều nhất trên Trái đất vì nó tạo ra những chất cannabinoid – những hợp chất có tác động rõ rệt đến não người. Các nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng loài thực vật này có thể có nguồn gốc từ một nơi nào đó ở Trung Á khoảng 28 triệu năm trước – thời điểm mà nó tách ra từ tổ tiên – loài hoa bia. Trong nỗ lực nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu đã tìm cách xác định chính xác hơn về nơi bắt nguồn của loài cây này.

Phương pháp được các nhà nghiên cứu sử dụng là xem xét các nghiên cứu trước đó, cho dù là khảo cổ học hay địa chất học, họ tìm kiếm đề cập liên quan đến loài thực vật nổi tiếng này. Và hầu hết các ký hiệu đều đề cập đến phấn hoa vì nó là bộ phận của cây có thể tồn tại lâu nhất. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng việc xác định phấn hoa cần sa tại các điểm khai quật không phải là một nhiệm vụ tầm thường, vì trong hầu hết các thí nghiệm, nó có vẻ giống với phấn hoa của hoa bia. Để giải quyết vấn đề đó, các nhà khoa học đã lưu ý đến các loại phấn hoa khác được tìm thấy so với cần sa. Nếu các loại phấn hoa khác đến từ trong rừng, các nhà nghiên cứu cho rằng chúng là hoa bia. Trái lại, nếu chúng đến từ thảo nguyên, thì phấn hoa được cho là từ cây cần sa – cây cần sa hiện đại thường mọc ở kiểu khí hậu thảo nguyên hơn. Khi các nhà nghiên cứu tập trung vào các nghiên cứu có đề cập đến cây cần sa (được tìm thấy cùng với phấn hoa thảo nguyên khác) có sớm nhất, họ đã tìm thấy tài liệu tham khảo đến các vùng phía nam nước Nga và phía bắc Trung Quốc. Các phân tích sâu hơn khiến họ tin rằng nơi bắt nguồn nhiều khả năng là Cao nguyên Tây Tạng, có lẽ gần Hồ Thanh Hải – nơi mà bộ ba nhà nghiên cứu ghi chú có độ cao cao khoảng 3200 mét trên mực nước biển. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng địa điểm này cũng gần nơi đã tìm thấy bằng chứng về người Denisovan – cùng với phấn hoa cần sa.

[1] Cannabis in Asia: its center of origin and early cultivation, based on a synthesis of subfossil pollen and archaeobotanical studies

Nguồn: PHYS | Study results suggest cannabis originated in the Tibetan Plateau

Dịch giả: Sadie Pices

Cần sa và dầu dừa: Cách dùng, lợi ích và công thức giúp bạn tự chế biến hỗn hợp này

Dầu dừa đã và đang được sử dụng phổ biến trong các loại sản phẩm thông dụng của ngành công nghiệp chế biến cần sa, bao gồm thực phẩm tẩm cần sa và kem bôi tẩm cần sa, vậy tại sao dầu dừa lại được ưa chuộng sử dụng như vậy?

Tại sao dầu dừa lại được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm từ cần sa?

Dầu dừa có hàm lượng axit béo (bão hòa) cao. Sự sẵn có với hàm lượng lớn của các axit béo này trong dầu dừa tạo ra một mối liên kết hóa học mạnh mẽ với các cannabinoid.

So với dầu ô liu, loại dầu chứa hàm lượng chất béo bão hòa dưới 20%, dầu dừa chứa hơn 80% là chất béo bão hòa và do đó có khả năng giữ lại nhiều cannabinoid hơn trong quá trình sử dụng, làm tăng hiệu quả của việc sử dụng cần sa lên hơn rất nhiều. Dầu dừa là một chất nền gần như hoàn hảo cho các loại dầu tẩm cần sa.

Công dụng và lợi ích sức khỏe của dầu dừa

Dầu dừa cũng chứa các axit béo khác đã được biết đến là có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Axit lauric là một ví dụ tuyệt vời — khi được tiêu hóa, axit lauric tạo ra một loại monoglyceride tính hoạt động như một chất chống vi khuẩn có hại trong đường ruột.

Các axit béo này được tìm thấy rất nhiều trong dầu dừa, khiến nó trở thành ứng cử viên hàng đầu cho những ai đang tìm kiếm một loại dầu tốt cho sức khỏe hơn dầu bơ hoặc dầu hạt cải.

Một lợi ích tuyệt vời khác của dầu dừa là nó tồn tại ở dạng rắn tại nhiệt độ phòng. Điều này làm cho nó trở thành một thành phần tuyệt vời để sử dụng như một chất bôi ngoài da. Hơn nữa, trạng thái rắn của dầu dừa giúp nó ổn định hơn khi bạn bảo quản trong viên nang gelatin, một trong những dạng sử dụng phổ biến của các sản phẩm chứa cần sa.

Viên nang mềm gelatin rất đơn giản và dễ làm tại nhà — các thành phần có thể được mua từ bất kỳ hiệu thuốc nào hoặc mua trực tuyến, tạo nên một sản phẩm “handmade” đầy thú vị.

Cách tạo ra hỗn hợp dầu dừa tẩm cần sa

Ngoài việc bạn có thể mua dầu dừa tương đối rẻ ở bất cứ đâu, quá trình kích hoạt và tẩm cần sa vào dầu dừa chỉ cần một số nguyên liệu đơn giản và có thể được thực hiện tại nhà.

Công thức chế biến

  • Thành phần

– 1 cốc hoa cần sa đã được xay (7-10 gam)

– 1 cốc dầu dừa

  • Dụng cụ và vật liệu chế biến

– Miếng lọc hoặc vải lọc (cheesecloth)

– Máy xay (máy xay cầm tay đơn giản là tốt nhất; các thiết bị như máy xay sinh tố và máy xay cà phê sẽ xay cần sa quá nhỏ, dẫn đến việc sản phẩm bị lẫn tạp chất không mong muốn gây vị khó chịu.)

– Nồi hơi kép, nồi ninh, xoong, v.v.

  • Các bước thực hiện

– Xay cần sa bằng máy xay cầm tay. Bạn có thể sử dụng lá hoặc hoa đều được — lựa chọn hoa hay toàn bộ cây hoàn toàn là do sở thích của bạn. Chỉ cần lưu ý rằng bất cứ thứ gì đủ nhỏ để có thể lọt qua rây lọc sẽ đi vào thành phẩm của dịch lọc phía dưới, vì vậy, một lần nữa, nhớ đừng xay cần sa quá mịn.

– Trộn dầu dừa và cần sa trong nồi hơi kép, nồi ninh hoặc chảo của bạn và đun cả hai với nhau ở nhiệt độ thấp hoặc ấm trong vài giờ. Điều này cho phép hoạt hóa THC mà không gây cháy (phá hủy các thành phần hoạt tính). Có thể nấu theo nhiều cách khác nhau: trong nồi ninh ở nhiệt độ thấp trong 4-6 giờ, thỉnh thoảng khuấy; trong nồi hơi kép ở nhiệt độ thấp trong ít nhất 6 giờ (8 giờ thì tốt hơn), thỉnh thoảng khuấy; hoặc trong một chiếc chảo đơn giản ở nhiệt độ thấp trong ít nhất 2-3 giờ, khuấy thường xuyên (sử dụng chảo dễ bị cháy xém nhất). Trong mọi trường hợp, có thể thêm một lượng nhỏ nước vào hỗn hợp để tránh bị cháy. Lưu ý: bất kỳ phương pháp nào bạn chọn, nhiệt độ của dầu không được vượt quá 245 ° F (118 ° C).

– Lọc và bảo quản dầu. Không lọc dịch bằng cách vắt hỗn hợp với vải thưa; điều này sẽ làm chất diệp lục đi qua vải để vào hỗn hợp dầu. Tất cả nguyên liệu thực vật còn lại sau khi lọc có thể được loại bỏ hoặc sử dụng trong các món ăn khác nếu bạn có muốn. Thời hạn sử dụng của dầu ít nhất là hai tháng và có thể được kéo dài khi bảo quản lạnh.

Cách sử dụng hỗn hợp dầu dừa và cần sa?

Một khi bạn tẩm dầu dừa với cần sa, các ứng dụng của chúng là vô cùng!

Kết hợp dầu dừa cần sa với sáp ong và lô hội để tạo thành thuốc bôi cần sa cho bạn.

Sử dụng dầu dừa của bạn thay cho dầu trong công thức chế biến đồ ăn mà bạn chọn để chế biến nhiều món ăn khác nhau (hãy thử món Khoai tây nướng thảo mộc!)

Dầu dừa pha với cần sa có thể dễ dàng được sử dụng như một chất bôi trơn trong chuyện phòng the (Nhưng hãy cẩn thận! Dầu dừa có thể làm yếu bao cao su)

Cho dầu dừa cần sa vào viên nang để dễ dàng định liều sử dụng.

Pha một cốc latte trà tẩm cần sa.

Phối hợp dầu dừa với cần sa được kì vọng trở thành một xu thể phổ biến trong tương lai. Khi các thương hiệu lớn liên tục đổi mới, dầu dừa sẽ có mặt trong thành phần nguyên liệu của rất nhiều sản phẩm sẽ được tung ra trên thị trường!

Tuy nhiên, nếu bạn không thể đến tiệm bán cần sa, bạn luôn có thể tự làm ở nhà. Hãy tin chúng tôi, bạn sẽ rất thích nó!

Cách làm dầu dừa CBD

Đối với những người không muốn ảnh hưởng của THC trong dầu dừa pha với cần sa của họ, bạn có thể pha dầu dừa với CBD thay thế. Đơn giản chỉ cần làm theo công thức trên nhưng sử dụng hoa cần sa có thành phần CBD cao thay vì hoa có hàm lượng cao THC để có được những lợi ích sức khỏe của CBD.

 

Dịch giả: Quỳnh Anh

Nguồn: Leafly | Cannabis and coconut oil: Uses, benefits, and a recipe to make your own

 

Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19

Photo: iStock-Darren415©

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng cần sa y tế có thể có tiềm năng trong việc điều trị các triệu chứng của COVID-19.

COVID-19 không có dấu hiệu chậm lại và vắc-xin sẽ được công bố trong vài tháng, thậm chí một năm. Sự nôn nóng để dùng loại thuốc đã có mặt trên thị trường dẫn đến việc một số chính phủ phải mua vào kịch liệt nhằm giảm tác động của một loại vi rút ngấm ngầm.

Cùng với việc rất nhiều chuyên gia y tế đang tìm kiếm một phương pháp chữa trị – hoặc, thất bại đó, chiến lược phòng ngừa tốt nhất ngoài khẩu trang và giãn cách xã hội – là nên lùi lại một bước để xem vai trò của cần sa y tế trong việc giúp giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bởi COVID-19 như thế nào.

Coronavirus hoạt động như thế nào?

Vi rút sử dụng các protein có bề mặt gai nhọn của nó để bám vào các thụ thể được tìm thấy trên các tế bào khỏe mạnh, đặc biệt là các thụ thể được tìm thấy trong phổi. Các protein virus này đi qua các thụ thể ACE2; và một khi chúng đã vào được bên trong, coronavirus sẽ bắt giữ các tế bào khỏe mạnh và nắm quyền chỉ huy. Cuối cùng, nó giết chết một số tế bào khỏe mạnh.

Vi rút tác động đến hệ hô hấp bằng cách di chuyển xuống đường hô hấp của bạn. Bao gồm miệng, mũi, họng và phổi. Tuy nhiên, do đường hô hấp dưới có nhiều thụ thể ACE2 hơn phần còn lại của đường hô hấp, COVID-19 có nhiều khả năng di chuyển sâu hơn các loại vi rút khác như cảm lạnh thông thường. Đây là điều làm cho COVID-19 mạnh hơn so với cảm lạnh trung bình hoặc các loại cúm khác. Khi vi rút xâm nhập vào phổi, nó khiến người ta khó thở – đặc biệt hơn là nó dẫn đến viêm phổi.

Đối với hầu hết mọi người (khoảng 80%), các triệu chứng là ho và sốt. Đối với những người không may bị nặng hơn, tình trạng nhiễm trùng có thể trở nên rất nặng. Khoảng 5 đến 8 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu, một số người sẽ bị khó thở và có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) vài ngày sau đó.

Cần sa có tác dụng gì?

Các cannabinoid như cannabidiol (CBD) có lịch sử sử dụng an toàn và chứa một số đặc tính có thể hữu ích trong việc điều trị các triệu chứng y tế nhất định: CBD có đặc tính chống viêm và có thể hoạt động như một chất chống co mạch, có khả năng giảm đau và giảm lo lắng. Kết hợp với các cannabinoid và tecpen khác, cũng như can thiệp lâm sàng cần thiết, CBD có nhiều tiềm năng để điều trị các triệu chứng của vi rút như COVID-19. Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa cũng đã được chứng minh là làm giảm đông máu ở các mô hình thí nghiệm động vật; người ta biết rằng nhiều tác dụng tiêu cực trên toàn cơ thể của COVID-19 dường như có liên quan đến việc đông máu bị thay đổi, vì thế có thể cần sa có thể hữu ích trong việc kiểm soát những di chứng này.

Cần sa y tế có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị COVID-19 hay không?

Phòng ngừa

Cho đến nay, phạm vi và khoảng cách của dữ liệu nghiên cứu có thể xác minh được mối liên kết giữa việc cannabinoid và việc phòng ngừa COVID-19 là còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các cách tiếp cận mới để phòng ngừa COVID-19 bao gồm một nghiên cứu đã giám định khả năng kết hợp của CBD vào các dung dịch uống; chẳng hạn như nước súc miệng và thuốc súc họng nhằm mục đích “giảm hoặc điều chỉnh mức ACE2 trong các mô có nguy cơ cao”. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ ACE2 thay đổi trong quá trình tiến triển của COVID-19 và do đó khả năng điều chỉnh các mức này trở nên đặc biệt quan trọng vì ACE2 đã được chứng minh là cần thiết cho chức năng phổi trong các mô hình động vật nhiễm virus SARS.

Giảm mức độ nghiêm trọng và tác động

Trong các phân tích về COVID-19, người ta quan tâm nhiều đến Hội chứng phóng thích Cytokine (Cytokine Release Syndrome – CRS), trong đó quá nhiều protein cytokine được giải phóng trong cơ thể: những protein này có thể tấn công phổi và áp đảo hệ thống miễn dịch bằng cách căng phồng phổi quá mức. Các bằng chứng ban đầu đã chỉ ra rằng CBD và THC có thể có ích trong việc điều trị những bệnh nhân có phản ứng viêm trong cơ thể đã có khả năng gây bệnh.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào khả năng của các cannabinoid và các terpen nhằm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch mà không ngăn chặn nó. Những phát hiện ban đầu trong một nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi nhà sản xuất terpene Eybna và công ty nghiên cứu và phát triển cần sa CannaSoul Analytics. Cả hai đều đến từ Israel, họ dường như đã chỉ ra rằng sự kết hợp của các tecpen và các cannabinoid được sử dụng có hiệu quả gấp hai lần so với khi sử dụng thuốc chống viêm dexamethasone để giảm viêm từ COVID-19. Nghiên cứu vẫn chưa được thẩm định bình duyệt.

Một phương pháp mới khác hiện đang được nghiên cứu ở Israel là phát triển một phương pháp điều trị tế bào tiềm năng bằng cách sử dụng các túi ngoại bào exosomes và nạp CBD để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mục đích của công nghệ này là “nhắm mục tiêu vào hệ thống thần kinh trung ương và coronavirus COVID-19”. Các túi ngoại bào exosomes được nạp CBD có khả năng cung cấp tương tác hiệp đồng cao của các đặc tính chống viêm bằng cách nhắm cụ thể vào các cơ quan bị tổn thương chẳng hạn như các tế bào phổi đã bị nhiễm trùng.

Có thể làm gì để tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực này?

Nghiên cứu về tiềm năng y tế của cần sa nổi tiếng vì sự phức tạp của các quy trình ứng dụng và khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp cần sa. Ở Úc, việc chỉ sử dụng CBD mà không có hàm lượng THC trong các hoạt động nghiên cứu yêu cầu cơ sở học thuật đó phải xin giấy phép đặc biệt để cho phép họ thu thập và lưu trữ cannabinoid vì nó vẫn là một loại thuốc thuộc Bảng 9 ở đất nước này mặc dù chúng không có đặc tính tác động đến thần kinh.

Đại dịch COVID-19 có thể sẽ tiếp tục trong nhiều tháng nữa; và đây có thể không phải là loại coronavirus mới nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong đời. Do đó, phận sự nằm ở các chính phủ có trách nhiệm làm cho việc nghiên cứu tiềm năng của các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như cần sa, dễ dàng hơn cho các cơ quan nghiên cứu và phòng thí nghiệm tư nhân.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Health Europa | Medicinal cannabis may play a significant role during COVID-19

Continue reading “Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19”

Cannabinoid có thể giảm triệu chứng của bệnh Parkinson và LID

Theo một nghiên cứu mới công bố, các hợp chất cannabinoid — đặc biệt là cannabidiol (CBD) — có khả năng làm giảm các triệu chứng ở những người mắc bệnh Parkinson và rối loạn vận động do thuốc levodopa (LID).

Dữ liệu cũng cho thấy rằng tác dụng điều trị của CBD có thể liên quan đến việc điều chỉnh trực tiếp các phân tử truyền tin quan trọng trong não và gián tiếp giảm viêm não.

Tuy nhiên, các nghiên cứu lâm sàng trong tương lai là cần thiết để xác nhận những lợi ích tiềm năng này ở những người bị bệnh Parkinson và LID.

Nghiên cứu tổng quan, “Cannabidiol và các hợp chất cannabinoid là chiến lược tiềm năng để điều trị bệnh Parkinson và chứng rối loạn vận động do thuốc L-DOPA,” đã được xuất bản trên tạp chí Nghiên cứu Độc tính Thần kinh (Neurotoxicity Research).

Bệnh Parkinson đặc trưng bởi sự hiện diện của các triệu chứng về vận động, bao gồm run không tự chủ, chuyển động chậm lại, suy giảm khả năng giữ thăng bằng. Tuy nhiên, nó cũng có thể dẫn đến một loạt các triệu chứng không-vận động.

Điều trị lâu dài bằng thuốc levodopa – liệu pháp điều trị Parkinson tiêu chuẩn vàng – sẽ dẫn đến rối loạn vận động do thuốc levodopa dẫn đến rối loạn vận động do thuốc levodopa (viết tắt LID), hoặc cử động giật, không tự chủ ở hơn 50% bệnh nhân Parkinson.

Thuốc Levodopa được sử dụng để giảm bớt các triệu chứng vận động bằng cách phục hồi sự mất mát của dopamine – một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng hoặc phân tử truyền tin trong các tế bào thần kinh ở những bệnh nhân này.

Cả hai tình trạng (mất dopamine và LID) đều có liên quan đến những thay đổi ở hạch nền, một vùng não có chứa chất nền và thể vân có liên quan đến chức năng vận động.

Nhiều nghiên cứu trong thập kỷ qua đã xem xét gai dầu và các thành phần hoạt tính cannabinoid – như là phương pháp điều trị tiềm năng cho các triệu chứng vận động trong một số tình trạng thoái hóa thần kinh.

Cannabinoid và các thụ thể khác trong hệ thống endocannabinoid – một mạng lưới điều biến phức tạp liên quan đến sự phát triển não bộ, trí nhớ, kiểm soát chuyển động, sản xuất hormone và phản ứng miễn dịch – được biết là có tác dụng bảo vệ thần kinh.

Đó là lý do tại sao, “Vận dụng hệ thống endocannabinoid có thể là một liệu pháp đầy hứa hẹn để kiểm soát [bệnh Parkinson] và các triệu chứng LID.” Các nhà nghiên cứu viết.

Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Brazil đã xem xét dữ liệu tiền lâm sàng và lâm sàng về tiềm năng điều trị của các hợp chất cannabinoid ở những người mắc bệnh Parkinson và LID.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống endocannabinoid, bao gồm thụ thể anandamide và các thụ thể cannabinoid của hệ thống endocannabinoid – đã thay đổi ở bệnh nhân Parkinson và các mô hình động vật mắc bệnh. Và việc nhắm mục tiêu vào hệ thống này có thể ngăn ngừa mất tế bào thần kinh sản xuất dopamine, giảm viêm và giảm bớt các triệu chứng của bệnh Parkinson.

Bằng chứng về mối liên quan giữa hệ thống endocannabinoid bị rối loạn điều hòa và LID không mạnh bằng với bệnh Parkinson. Nhưng nhóm nghiên cứu lưu ý rằng vẫn có dữ liệu cho thấy rằng bằng cách điều chỉnh hệ thống này, và đặc biệt là các thụ thể của nó, có thể là một phương pháp điều trị tiềm năng.

Các nhà nghiên cứu viết: “Trong số các cannabinoid được điều tra cho đến nay, CBD là một trong những loại thuốc hứa hẹn nhất trong các thử nghiệm tiền lâm sàng.”

CBD, thành phần không tác động đến thần kinh chính trong cây gai dầu, có liên quan đến nhiều chức năng sinh học quan trọng. Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã gợi ý rằng CBD điều chỉnh giao tiếp thần kinh phụ thuộc-dopamine bằng cách tăng mức dopamine, đồng thời giảm sản xuất các loại oxy phản ứng có hại tiềm ẩn và các phân tử gây viêm.

Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng “Những đặc tính chống viêm và chống oxy hóa này có thể giúp giải thích hành động bảo vệ thần kinh của CBD”.

Hầu hết các nghiên cứu về CBD trong các mô hình động vật của bệnh Parkinson đã chỉ ra rằng CBD làm giảm sự mất mát của các tế bào thần kinh sản xuất dopamine và giảm bớt các triệu chứng vận động. Tuy nhiên, những người khác báo cáo không có lợi ích đáng kể.

Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng cho thấy cannabinoid này làm dịu các triệu chứng ở bệnh nhân Parkinson, nhưng vẫn còn thiếu tác dụng có lợi nhất quán đối với các triệu chứng vận động. Hơn nữa, cho đến nay chưa có nghiên cứu lâm sàng nào tập trung vào tác dụng của CBD trong việc giảm LID ở những người bị bệnh Parkinson.

Một số nghiên cứu báo cáo rằng CBD dẫn đến giảm các triệu chứng rối loạn tâm thần và cải thiện tình trạng cảm xúc, nhận thức, giao tiếp cũng như khả năng vận động và sự khó chịu cơ thể ở bệnh nhân Parkinson. Tuy nhiên, những cải thiện tiềm năng về chức năng vận động này không phản ánh sự khác biệt về tổng điểm vận động so với bệnh nhân dùng giả dược.

Trong khi một số trường hợp báo cáo, các thử nghiệm và khảo sát không kiểm soát cho thấy tác dụng có lợi của cannabinoid ở bệnh nhân Parkinson, chỉ có 4 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược đã phân tích tác động của các cannabinoid khác nhau đối với các triệu chứng vận động của Parkinson chẳng hạn như vận động, run hoặc LID, akinesia (chứng mất vận động).

Các tác giả cũng lưu ý rằng, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự phát triển của LID có liên quan đến tăng mức độ viêm thần kinh, có thể do thuốc levodopa và các phương pháp điều trị Parkinson khác gây ra. Tác dụng có lợi của thuốc chống viêm để giảm bớt các triệu chứng LID cũng củng cố sự đóng góp của viêm trong LID.

Cần có nhiều thử nghiệm lâm sàng hơn để làm rõ tác dụng điều trị của cannabinoid ở những người bị bệnh Parkinson và LID, và liệu sự kết hợp với các hợp chất khác điều chỉnh chứng viêm thần kinh có làm tăng tác dụng của chúng hay không.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Parkinson News TodayCredoweb

Một nghiên cứu mới cho thấy CBD cải thiện hiệu quả của thuốc kháng sinh

Các nhà khoa học tại Đại học Southern Đan Mạch đã công bố một nghiên cứu mới trên tạp chí Scientific Reports cho thấy, CBD có thể hoạt động như một ‘hợp chất trợ giúp’ để cải thiện hiệu quả của thuốc kháng sinh.

Kể từ khi phát hiện ra penicillin vào năm 1928 bởi ông Alexander Fleming – bác sỹ, nhà sinh học người Scotland, thuốc kháng sinh đã cứu sống hàng triệu người khỏi các bệnh nhiễm trùng gây tử vong trên toàn thế giới. Tuy nhiên, theo thời gian, vi khuẩn đã phát triển các cơ chế để thoát khỏi tác dụng của thuốc kháng sinh và trở nên kháng thuốc.

Với số lượng thuốc kháng sinh có sẵn để điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc, khả năng bước vào thời kỳ tiền kháng sinh không còn quá xa.

Tăng cường kháng sinh

Do tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, các chiến lược thay thế mới đang được khám phá và một số ‘hợp chất hỗ trợ’ đang thu hút sự chú ý. Các hợp chất hỗ trợ là các hợp chất không kháng sinh với khả năng tăng cường hiệu quả của thuốc kháng sinh.

Một hợp chất hỗ trợ đã được tiết lộ là cannabidiol (CBD); một cannabinoid từ cây gai dầu.

Phó giáo sư Janne Kudsk Klitgaard và học viên Phd Claes Søndergaard Wassmann là hai tác giả chính và đồng giám sát của nghiên cứu.

Các tác giả nói rằng: ‘Khi chúng tôi kết hợp CBD và thuốc kháng sinh, chúng tôi đã thấy tác dụng mạnh mẽ hơn so với khi điều trị bằng thuốc kháng sinh một mình. Vì vậy, để tiêu diệt một số lượng vi khuẩn nhất định, chúng ta cần ít thuốc kháng sinh hơn.”

Vi khuẩn vô tính lan rộng toàn cầu

Trong nghiên cứu, CBD được sử dụng để tăng cường tác dụng của bacitracin kháng sinh chống lại vi khuẩn staphylococcus aureus – một mầm bệnh chính ở người thường gây ra các bệnh mắc phải tại bệnh viện và nơi công cộng.

Các dòng vô tính đa kháng thuốc của mầm bệnh này đã lan rộng ra toàn cầu. Ở một số quốc gia, việc điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn với những vi khuẩn kháng thuốc này rất khó khăn và vấn đề được dự báo sẽ tiếp tục phát triển.

Theo các nhà nghiên cứu, sự kết hợp giữa CBD và thuốc kháng sinh có thể là một phương pháp điều trị mới đối với các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng kháng sinh.

Vi khuẩn chết đi như thế nào?

Ba điều đã xảy ra với vi khuẩn saphylococcus aureus khi các nhà nghiên cứu điều trị chúng bằng sự kết hợp trong nghiên cứu của họ: Vi khuẩn không còn có thể phân chia bình thường, sự biểu hiện của một số gen quan trọng (phân chia tế bào và gen tự hủy) trong vi khuẩn bị giảm xuống, và màng vi khuẩn trở nên không ổn định.

Theo các nhà nghiên cứu, việc lạm dụng thuốc kháng sinh là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh.

Phó giáo sư Janne Kudsk Klitgaard cho biết: “Nếu chúng ta kết hợp kháng sinh với hợp chất hỗ trợ khác giúp tăng cường tác dụng của kháng sinh, chúng ta sẽ cần ít thuốc kháng sinh hơn để đạt được hiệu quả tương tự. Điều này có thể góp phần phát triển ít vi khuẩn kháng thuốc hơn.”

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Heath Europa | New study shows that CBD improves efficacy of antibiotics

Hiệu ứng cộng hưởng trong cần sa có thật hay không?

Cho dù bạn là một người sử dụng lâu năm hay mới sử dụng loại thảo mộc này, bạn có thể đã nghe nói về hiệu ứng cộng hưởng. Hiện tượng này nói về sức mạnh tổng hợp diễn ra khi sử dụng kết hợp THC, CBD, cannabinoid thứ yếu, và tecpen để mang lại lợi ích cho sức khỏe.

Hiện tượng cộng hưởng này thường được gắn liền với “thuốc từ cây tự nhiên” hoặc “sức mạnh tổng hợp của toàn bộ thành phần trong cây”, và nó dựa trên cơ sở rằng các sản phẩm cần sa với nhiều hợp chất đa dạng có thể mang lại những lợi ích sức khỏe mà các hợp chất và cannabinoid cô lập không thể làm được.

Giáo sư Raphael Mechoulam và giáo sư Shimon Ben-Shabat lần đầu tiên nghiên cứu về sức mạnh cộng hưởng của toàn bộ các thành phần trong cây vào năm 1998. Nghiên cứu của họ lập luận rằng hệ thống endocannabinoid của cơ thể phản ứng tốt hơn với chiết xuất từ cần sa tự nhiên bằng cách tăng hoạt động của hai thụ thể endocannabinoid cơ bản. Sức mạnh cộng hưởng tiềm năng này là gợi ý cho câu hỏi tại sao các loại thuốc  tự nhiên thường hiệu quả hơn các loại thuốc chỉ chứa một thành phần hoạt chất được phân lập từ cây đó.

Một loạt các nghiên cứu khoa học được tiến hành trong vòng vài năm trở lại đây đã và đang tiếp tục tìm hiểu và khám phá sâu hơn về chủ để này. Các nhà khoa học đang điều tra, khảo sát những hợp chất điển hình được cho là thúc đẩy hiệu ứng cộng hưởng và thậm chí một nghiên cứu đã đưa ra nghi vấn rằng liệu hiệu ứng cộng hưởng có bị thổi phồng quá mức hay không.

Theo một số kết quả nghiên cứu, các cơ chế thúc đẩy hiệu ứng cộng hưởng này không hề đơn giản như những gì mà giới marketing cần sa vẫn thường nói với chúng ta.

Vậy chúng ta thực sự biết gì về hiệu ứng cộng hưởng?

Đầu tiên, có bằng chứng cho thấy một số cannabinoid làm tăng tác dụng của các cannabinoid khác. Ví dụ: THC có thể nâng cao hiệu quả điều trị của phương pháp trị liệu sử dụng CBD; và các cannabinoid thứ yếu cũng có thể đóng góp lợi ích nhất định.

Trong một nghiên cứu tiến hành trên tế bào ung thư vú được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và động vật thí nghiệm, các nhà khoa học phát hiện ra sự có mặt của các cannabinoid phụ trong cần sa giúp cải thiện kết quả thí nghiệm. Tiến sĩ, bác sĩ Ethan Russo – một nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về tác dụng cộng hưởng trong cần sa và cũng là giám đốc điều hành của tổ chức khoa học CReDO đã đưa ra kết luận rằng:  “Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa có hiệu quả hơn là THC phân lập tinh khiết trong việc tiêu diệt khối u và hạn chế sự phát triển của chúng.” Tác dụng cộng hưởng trong chiết xuất cần sa có thể được giải thích bởi sự xuất hiện với hàm lượng đáng kể của cannabigerol (CBG) và tetrahydrocannabinolic (THCA) trong chiết xuất, bên cạnh THC.

Hơn nữa, nghiên cứu này còn so sánh hiệu quả điều trị bệnh động kinh tình trạng nặng khi sử dụng CBD phân lập so với chiết xuất từ cây cần sa, kết quả thu được là chiết xuất từ cây cần sa cho tác dụng tương đương và với liều lượng ít hơn 20%, tiến sĩ Russo cho hay. Nhưng đối với tiến sĩ – bác sĩ Jordan Tishler, một chuyên gia trị liệu sử dụng cần sa và là cố vấn cho trường đại học Y Havard, một số yếu tố liên quan đến tác dụng cộng hưởng đã được làm sáng tỏ nhưng vẫn còn quá chung chung. Ví dụ, có những bằng chứng hiển nhiên là CBD ảnh hưởng đến khả năng liên kết của THC tại thụ thể của nó, từ đó làm ảnh hướng đến tác dụng của THC.

Ông nói: “Hiệu ứng cộng hưởng cũng giải thích tại sao THC tinh khiết không đặc biệt hiệu quả, và cần sa tự nhiên vẫn tốt hơn.” Tuy nhiên, ông cũng lập luận rằng các tác động của hiệu ứng cộng hưởng đã được ngoại suy quá mức khỏi các bằng chứng khoa học hiện tại. “Quan điểm rằng các hợp chất hóa học khác là quan trọng để CBD có hiệu quả hiện vẫn chưa được ủng hộ.”

Tishler cũng nói rõ rằng vai trò của các cannabinoid thứ yếu như CBG hoặc CBN vẫn chưa được hiểu đầy đủ trong mối tương quan với THC hoặc các cannabinoid khác. “Nói cách khác, nhiều phân tử có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động của THC, nhưng điều này không có nghĩa là chúng có vai trò hỗ trợ các cannabinoid khác,” ông nói.

Trong khi các nhà khoa học đang xem xét những điều này, thì một cách hiểu mới cho hiệu ứng cộng hưởng đã được đề xuất. Hiệu ứng này có thể được sử dụng để hiểu để giải thích hai hiện tượng riêng biệt:

– Tác dụng cộng hưởng nội phân tử, đề cập đến tương tác giữa các cannabinoid và các  tecpen.Tác dụng cộng hưởng liên phân tử, biểu thị tương tác giữa cannabinoid với cannabinoid hoặc giữa các tecpen với nhau.

Trong khi đã có những bằng chứng khẳng định về tác dụng liên phân tử thì vẫn có rất ít nghiên cứu về các tương tác nội phân tử.

Tecpen là gì?

Sự đóng góp chung là tecpen là một nhân tố quan trọng trong hiệu ứng cộng hưởng. Tuy nhiên, nghiên cứu về sức mạnh tổng hợp cannabinoid-terpene vẫn còn tương đối ít ỏi cho đến gần đây. Một nhóm các phát hiện được công bố trong năm qua cho thấy rằng tecpen có thể không góp phần vào hiệu ứng cộng hưởng theo cách mà chúng ta đã tin tưởng.

Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 3 năm 2020, tecpen có trong cần sa có thể không tạo hiệu ứng cộng hưởng chút nào. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy năm trong số các tecpen phổ biến nhất – myrcene, α- và β-pinen, β-caryophyllene, và limonene – tham gia tạo hiệu ứng cộng hưởng bằng cách liên kết với các thụ thể cannabinoid của cơ thể.

Theo nghiên cứu khác được công bố trong năm nay, cũng không có bằng chứng nào cho thấy tecpen tạo điều kiện cho hiệu ứng cộng hưởng liên phân tử- khi cannabinoid và tecpen hoạt động cùng nhau – bằng cách tương tác với các con đường tác động của cannabinoid khác nhau trong cơ thể.

Tuy nhiên, nghiên cứu khác lại cho thấy, những kết quả này là chưa thuyết phục. Trong một nghiên cứu vào tháng 4 năm 2020 trên chuột, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ba loại tecpen cần sa phổ biến — humulene, pinene và geraniol — đã kích hoạt thụ thể CB1. Thụ thể CB1 chịu trách nhiệm tạo ra các phản ứng sinh lý, chẳng hạn như giảm nhận thức về cơn đau. Các tecpen này đã khởi động các phản ứng sinh lý đặc hiệu với CB1 ở chuột, cho thấy tecpen có thể mang lại lợi ích điều trị.

Theo Tishler, không có đủ bằng chứng cho thấy tecpen góp phần tạo nên sức mạnh cộng hưởng trong cần sa toàn phần. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các hợp chất thơm này không hiệu quả. Tishler nói: “Có hai ngoại lệ. “Myrcene, gây buồn ngủ nhưng một cách độc lập, chứ không phải là khi một phần của hiệu ứng cộng hưởng; và β-caryophyllene có thể quan trọng trong việc kiểm soát cơn đau”.

Vậy hiệu ứng cộng hưởng có thực sự tồn tại?

Tishler nói rằng hiệu ứng cộng hưởng là một hiện tượng thực tế bị hiểu nhầm. Ông nói: “Hiện tại, hiểu biết của chúng tôi về các tương tác của hiệu ứng cộng hưởng là khá hạn chế. Không có đủ dữ liệu để cho ra mắt các sản phẩm hoặc đề xuất cụ thể dựa trên các cannabinoid hoặc tecpen khác. Điều đó không có nghĩa là hiệu ứng cộng hưởng không có thật, nhưng chúng tôi chưa thực sự chắc chắn về các cơ chế hoạt động của nó.”

“Ở khía cạnh lâm sàng, các sản phẩm THC và CBD nguyên chất có vẻ kém hiệu quả hơn so với cần sa tự nhiên, điều đó cho thấy thực sự có các chất hoạt chất khác có tác dụng trong đó – chỉ là vẫn chưa rõ chúng là loại nào và cách hoạt động ra sao.” Tishler nói.

Bất chấp những phát hiện mâu thuẫn xuất hiện trong một số tài liệu, Ethan Russo vẫn là người ủng hộ nhiệt tình cho hiệu ứng cộng hưởng. Ông khẳng định: “Mặc dù vẫn có một số những thất bại trong việc chứng minh lợi ích của các chất cộng hưởng, có thể là do các chế phẩm không được tối ưu hóa về mặt điều trị, khái niệm về hiệu ứng cộng hưởng đang dần được khai thác đúng hướng.”

Russo chỉ ra các tiêu chuẩn không nhất quán về chất lượng cần sa là nguyên nhân dẫn đến những kết quả trái ngược.

Russo giải thích: “Việc tiếp cận các loại thuốc làm từ cần sa chất lượng cao và hiệu quả nhất vẫn là một thách thức to lớn đối với người tiêu dùng hoặc người chăm sóc của họ. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin phân tích và an toàn, bao gồm hồ sơ cannabinoid và terpenoid hoàn chỉnh thông qua các kết quả xét nghiệm của các lô hàng có sẵn tại điểm bán. Điều này cũng cần phải đi kèm với việc giáo dục tốt hơn về những tác dụng dược lý của các thành phần cannabinoid và terpenoid khác nhau”.

 

Dịch giả: Lê Quỳnh Anh

Nguồn: Leafy | Is the cannabis entourage effect real?

Cannabinoid và bệnh ung thư trong lâm sàng

Phỏng theo tài liệu “Healing with Cannabis: The Evolution of the Endocannabinoid System and How Cannabinoids Help Relieve PTSD, Pain, MS, Anxiety, and More”(đăng tải trên tạp chí Skyhorse, 2020).

Tiến sĩ Donald l. Abrams là bác sĩ chuyên khoa ung thư học tại bệnh viện đa khoa San Francisco, bác sĩ chuyên khoa ung thư tích hợp tại Trung tâm Y học Tích hợp Osher của Đại học California – San Francisco (UCSF), đồng thời là giáo sư y học lâm sàng tại UCSF. Ông cũng là thành viên của một ủy ban gồm 16 người từ các ngành nghề khác nhau, tạo nên cuốn sách 486 trang: Những tác động tới sức khỏe của Dầu gai và các cannabonoids: Hệ thống bằng chứng hiện tại, được cập nhật năm 2017 vấn đề từ Viện Hàn Lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia.

“Tôi là một chuyên gia nghiên cứu về ung thư ở San Francisco tính đến nay được 36 năm, và tôi dám nói rằng hầu hết các bệnh nhân ung thư tôi từng chăm sóc đều từng sử dụng dầu gai”, Abram nói trong một cuộc phỏng vấn ngày 3/5/2019, “Nhưng không có ngày nào trôi qua mà tôi không thấy một bệnh nhân ung thư chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, mất ngủ, đau đớn, trầm cảm hoặc lo lắng, và nếu tôi có một loại thuốc có thể giảm buồn nôn và nôn mửa, tăng cường sự thèm ăn, giảm đau, cải thiện giấc ngủ và tâm trạng, tôi coi đó là một can thiệp có giá trị. Thay vì viết đơn thuốc cho năm hoặc sáu loại dược phẩm mà tất cả chúng đều có thể tương tác với nhau hoặc với hóa trị liệu họ đang sử dụng, tôi có thể giới thiệu một loại thực vật rất an toàn”.

Những năm 1970, khi Abrams còn là một bác sĩ thực tập và cư trú tại San Francisco, nhiều người đã sử dụng cần sa, kể cả những người trẻ tuổi bị ung thư. Ông bắt đầu trở thành nghiên cứu sinh về ung thư tại UCSF vào năm 1980, thời điểm mà cần sa đang trở nên phổ biến còn trên thị trường thì không có nhiều loại thuốc chống nôn hiệu quả.

“Chúng tôi có prochlorperazine, hoặc Compazine, và Tigan [trimethobenzamine hydrochloride]… nhưng chúng không thực sự hiệu quả,” Abrams nói, “và những người trẻ tuổi mắc những bệnh ung thư của người trẻ, chẳng hạn như bệnh Hodgkin hoặc ung thư tinh hoàn, nói với chúng tôi,“Bác sĩ biết gì không? Cần sa là một liệu pháp chống buồn nôn hiệu quả, tốt hơn so với những thuốc kê đơn của ông”. Abrams cho rằng đó là điều khiến Viện Y tế Quốc gia Viện Ung thư Quốc gia và một số công ty dược phẩm nghiên cứu delta-9 THC tổng hợp như một loại thuốc chống buồn nôn tiềm năng.

“Một số nghiên cứu được thực hiện vào những năm 70 và 80 cho phép cả dronabinol [THC tổng hợp trong viên nang] và nabilone [chất tương tự THC dạng uống] được chấp thuận để điều trị chứng buồn nôn và nôn do hóa trị liệu vào năm 1985. Tôi không chắc mình đã sử dụng bao nhiêu trong số đó cho bệnh nhân trong khoảng thời gian này” ông nói thêm,“ nhưng vào năm 1992, FDA đã mở rộng chỉ định sử dụng dronabinol để điều trị chứng chán ăn liên quan đến giảm cân ở bệnh nhân HIV. ”

Đó là lần đầu tiên anh ấy thực sự bắt đầu với dronabinol, Abrams giải thích, “bởi vì tôi đã trở thành bác sĩ AIDS sau khóa đào tạo để trở thành một chuyên gia về ung thư và khi đó, tôi bắt đầu kê rất nhiều dronabinol. Và bệnh nhân nói, ‘Bạn có thể giữ nó. Tôi thích hút cần sa hơn vì [dronabinol] mất quá nhiều thời gian để phát huy tác dụng và khi đã phát huy tác dụng thì tôi thấy quá say. ‘”Delta-9 THC trong dầu mè [dronabinol được bán trên thị trường là Marinol] là một loại thuốc rất khác với cần sa nguyên cây, Abrams nói. “Đó là những gì tôi học được trong thử nghiệm lâm sàng đầu tiên của mình.”

Dầu gai nguyên cây và THC (tetrahydrocannabinol)

Vào giữa những năm 1990 và cho đến ngày nay, Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy (NIDA) là nơi cung cấp cần sa chính thức duy nhất cho các thử nghiệm lâm sàng. Và NIDA nhận được chỉ thị từ quốc hội rằng chỉ tài trợ cho các nghiên cứu điều tra các chất gây nghiện như các chất các hợp chất gây nghiện chứ không phải là tác nhân điều trị, Abrams nói.

See the source image
Tiến sỹ Donald Abrams

“Vì vậy, họ không bao giờ có thể tài trợ cho một nghiên cứu mà tôi đang cố gắng thực hiện – để chỉ ra rằng cần sa mang lại lợi ích cho bệnh nhân AIDS – nhưng họ có thể tài trợ cho một nghiên cứu để xem liệu bệnh nhân HIV sử dụng chất ức chế protease hít cần sa có an toàn hay không. Vì vậy, nghiên cứu đó cuối cùng đã được tài trợ. “Đây là nghiên cứu về dầu gai đầu tiên do NIH tài trợ. Một phần ba số bệnh nhân dùng dronabinol, 2,5 mg, ba lần một ngày, một phần ba hút một điếu thuốc lá từ NIDA nguyên cây, và một phần ba dùng giả dược dronabinol.

“Mỗi bệnh nhân ở Trung tâm Nghiên cứu Lâm sàng Tổng quát của chúng tôi trong 25 ngày, trong đó 21 ngày họ uống dronabinol hoặc hút cần sa. Và đối với tôi, rất rõ ràng rằng những bệnh nhân nào đang sử dụng dronabinol, do họ nằm trên giường suốt cả ngày, hoàn toàn mệt mỏi. Trong khi đó, các bệnh nhân sử dụng dầu gai đã dậy và nhảy múa, dọn dẹp phòng của họ, và rất nhiều hoạt động nữa. Vì vậy, vâng, ”Abrams nói,“ Tôi nghĩ nó chắc chắn là một loại thuốc khác biệt”.

“Một điều khá ấn tượng trong kinh nghiệm của ông với các bệnh nhân ung thư, Abrams nói thêm, đó là “rất nhiều bệnh nhân ung thư vào giai đoạn cuối của cuộc đời họ được cho sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện bởi các bác sĩ ung thư có thiện chí, những người đang cố gắng xoa dịu nỗi đau và nỗi khổ của họ, cả về thể chất và cảm xúc. Những bệnh nhân nói rằng, “Điều này không cho phép tôi giao tiếp với gia đình bởi vì tôi quá say thuốc. “Vì vậy, họ cai thuốc phiện và chỉ sử dụng cần sa, và họ thích điều đó hơn rất nhiều.”

Abrams cho biết cần sa y tế đã hợp pháp ở California trong hai mươi ba năm và được sử dụng với mục đích giải trí, tiêu khiển trong hai năm, tuy nhiên, những khi cần thiết sử dụng chỉ định y tế, Abrams sẽ viết một lá để bệnh nhân mang đến nơi cấp phát thuốc, và điều đó sẽ cho phép họ lấy cần sa trong một năm.

“Nhưng tôi không nói rằng có thể lạm dụng loại thuốc này quá nhiều, nhiều lần trong ngày”, ông nói. “Tôi không nghĩ cần sa là một loại thuốc cần có giấy hướng dẫn. Hầu hết mọi người có thể tìm ra cách sử dụng nó. Mỗi bệnh nhân là khác nhau, khả năng chịu đựng của họ cũng khác nhau – tôi nghĩ khuyến nghị tốt nhất là “bắt đầu với liều thấp và tăng dần”. Điều đó trở thành một câu thần chú”. Và Abrams cho rằng việc dược hóa cần sa là sai lầm.

“Tôi nghĩ chúng ta nên coi nó như một liệu pháp thực vật đã có từ 5.000 năm trước và có những lợi ích đáng kể,” bác sĩ ung thư nói. “Nhưng để nói rằng đó là một loại thần dược có thể không đúng. Tôi nghĩ nó nên được đối xử như cây cọ lá xẻ và cây cúc dại nhưng cần được quản lý như thuốc lá và rượu, và cho phép những người trưởng thành có trách nhiệm sử dụng nó khi họ thấy phù hợp”.

TÁC DỤNG CỦA DẦU GAI TRONG CÁC TRIỆU CHỨNG UNG THƯ & TÁC DỤNG PHỤ

Bác sĩ Dustin Sulak là một bác sĩ chỉnh xương tích hợp và chuyên gia về cần sa y tế, người có thực hành lâm sàng tập trung vào điều trị các tình trạng bệnh khó chữa ở người lớn và trẻ em từ năm 2009. Ông là người sáng lập Integr8 Health, có văn phòng tại Maine, theo dõi hơn 8.000 bệnh nhân sử dụng thuốc y tế cần sa và các phương thức chữa bệnh tích hợp khác. Sulak đã công bố trong các tài liệu đã được bình duyệt và các bài giảng cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên toàn thế giới về các ứng dụng lâm sàng của cần sa. Những thông tin dưới đây được điều chỉnh cho phù hợp (đã được sự cho phép) từ trang web giáo dục của Sulak, Healer.com, trang web cung cấp một loạt các chương trình về cần sa y tế, cũng như đào tạo về cần sa y tế và chương trình chứng nhận cho các bác sĩ, các chuyên gia y tế khác và người tiêu dùng.

Khi làm việc với bệnh nhân ung thư, các nỗ lực điều trị bằng cần sa thường đi theo hai con đường riêng biệt – sử dụng cần sa để giảm các triệu chứng và cải thiện khả năng dung nạp điều trị, hoặc sử dụng cần sa, thường ở liều lượng cao, để tiêu diệt ung thư. Theo Sulak, các mục tiêu không loại trừ lẫn nhau, nhưng mỗi mục tiêu yêu cầu một cách tiếp cận khác nhau để định liều.

Khi được sử dụng đúng cách, cần sa có thể là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả cho những bệnh nhân ung thư bị đau mãn tính, mất ngủ, buồn nôn và nôn do hóa trị liệu. Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng cannabinoid có thể ngăn chặn sự phát triển của đau thần kinh, một tác dụng phụ phổ biến của hóa trị liệu có thể hạn chế liều hoặc liệu trình hóa trị của bệnh nhân. Ngay cả sau khi bệnh ung thư thuyên giảm, nhiều bệnh nhân vẫn bị đau do thần kinh suy nhược mãn tính.

“Bệnh nhân thường có thể đạt được những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống với tác dụng phụ tối thiểu, sử dụng liều rất thấp cannabinoid trong khoảng 10 mg đến 60 mg mỗi ngày”, Sulak viết trong tài liệu khóa học của mình: “Sự kết hợp của THC, CBD, và các cannabinoid khác với nhiều tỷ lệ khác nhau có thể được sử dụng để tăng cường tác dụng và giảm thiểu tác dụng phụ của việc điều trị bằng cannabinoid”.

Cần sa y tế có thể giúp bệnh nhân chịu đựng các phương pháp điều trị ung thư thông thường như hóa trị và xạ trị, và có thể được sử dụng cùng với các phương pháp điều trị này với khả năng tương tác thuốc thấp. Điều này có nghĩa là hiếm khi có lý do để tránh kết hợp cần sa với các phương pháp điều trị ung thư thông thường (với một vài trường hợp ngoại lệ được lưu ý trong các tài liệu giáo dục).
Đối với những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối, cần sa mang lại nhiều lợi ích trong việc chăm sóc giảm nhẹ vào cuối cuộc đời. Sulak cho biết: “Đó là một sự bổ sung cực kỳ hữu ích cho các phương pháp điều trị thông thường trong chăm sóc sức khỏe giảm nhẹ.

TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ VÀ THÚC ĐẨY CHỮA LÀNH

Cùng với việc giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư, cannabinoid cũng cho thấy tác dụng chống ung thư trong nhiều mô hình thí nghiệm trên tế bào và động vật. Và có rất nhiều bằng chứng cho thấy ung thư ở người cũng đáp ứng với điều trị bằng cannabinoid, Sulak nhận xét. Một số bệnh nhân đã báo cáo việc sử dụng dầu gai thực sự giúp làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của khối u, những người khác đã thuyên giảm hoàn toàn các bệnh ung thư xâm lấn.

Bác sỹ Dustin Sulak

Để đạt được những tác dụng chống ung thư mạnh mẽ này, hầu hết bệnh nhân cần sử dụng liều cao hơn mức cần thiết để giảm triệu chứng – thường là 200 mg đến 2.000 mg cannabinoid mỗi ngày, hoặc tương đương với 1-2 ounce cần sa thảo dược mỗi tuần. Mức độ điều trị này có thể hiệu quả về chi phí nếu bệnh nhân hoặc người chăm sóc trồng cần sa ở ngoài trời, nhưng việc mua lượng thuốc này từ một nhà bán lẻ cần sa y tế có thể khá tốn kém.

Ở liều cao này, Sulak nói, “một nhà cung cấp dịch vụ y tế hiểu biết phải theo dõi quá trình điều trị để ngăn ngừa các tác dụng phụ và tương tác với điều trị ung thư thông thường. Bệnh nhân phải chuẩn độ cẩn thận để đạt được những liều cao này mà không có tác dụng phụ đáng kể. Đáng ngạc nhiên là liều trong khoảng 2.000 mg/ ngày có thể được dung nạp tốt”.

Ông cho biết thêm, bất kỳ phương pháp điều trị y tế nào cũng có những rủi ro nhất định, nhưng sử dụng cần sa liều cao không gây chết người mà còn an toàn hơn nhiều so với hóa trị liệu thông thường, mặc dù hiệu quả của cần sa liều cao đối với bệnh ung thư chưa được nghiên cứu ở người. Một số bệnh nhân sử dụng liều rất cao báo cáo về sự cải thiện vượt bậc cả về các triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Những người khác nhận thấy rằng ở liều lượng cực cao, cần sa không giúp giảm các triệu chứng như đau, lo lắng và rối loạn giấc ngủ – những lợi ích mà họ dễ dàng đạt được ở liều thấp hơn. Một số người không thể chịu đựng được những tác động bất lợi của cần sa liều cao và thấy mình bị sa thuốc, chệnh choạng và khó chịu.

KHÔNG CÓ CÔNG THỨC CHÍNH XÁC CHO MỌI NGƯỜI

Sulak nói rằng bệnh nhân và nghiên cứu sinh nên đề phòng bất kỳ ai tuyên bố có giải pháp chung để dùng cần sa điều trị ung thư. Internet có đầy đủ các tỷ lệ, liều lượng và các kế hoạch điều trị khác cho các loại ung thư cụ thể, nhưng nhiều tuyên bố trong số này dựa trên sự thành công của một bệnh nhân hoặc dựa trên những phát hiện có liên quan một phần từ tài liệu tiền lâm sàng (nghiên cứu tế bào và động vật).

Bệnh ung thư vô cùng phức tạp và “ngay cả với cùng một loại ung thư, ở hai người khác nhau cũng có thể phản ứng rất khác nhau với các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hoặc thay thế”, Sulak viết. Ông cho biết thêm: “Bởi vì chúng là những tế bào bất thường, ung thư làm những điều bất thường – như biểu hiện quá mức hoặc không biểu hiện được với các thụ thể cannabinoid. Môi trường sinh lý bên trong, di truyền, chế độ ăn uống và các yếu tố khác của mỗi cá nhân tạo ra một sự khác biệt. Kết quả khả quan từ một trường hợp hoặc một nghiên cứu không thể được áp dụng rộng rãi – tốt nhất là chúng có thể được sử dụng làm hướng dẫn. Một kế hoạch điều trị ung thư cũng phải tính đến các mục tiêu và sở thích cá nhân của một cá nhân”.

Cannabinoid chống lại ung thư thông qua các cơ chế hoạt động khác nhau, bao gồm kích hoạt tế bào chết, ngăn chặn sự phát triển và phân chia tế bào, ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu nuôi khối u và ngăn tế bào ung thư di chuyển đến các khu vực khác của cơ thể. Sulak lưu ý rằng hầu hết các trường hợp thành công khi sử dụng cần sa để tiêu diệt ung thư đều liên quan đến liều lượng cao, tuy nhiên một số bệnh nhân mô tả việc giảm đáng kể gánh nặng ung thư khi dùng liều lượng thấp đến trung bình.

Ông viết: “Không giống như các phương pháp điều trị hóa trị thông thường, chúng tôi biết rằng cannabinoid không gây độc cho các tế bào bình thường. Trong hóa trị liệu thông thường, phương pháp tường sử dụng là dùng một loại thuốc độc với tế bào ung thư hơn là đối với tế bào khỏe mạnh và trong mức độ chịu đựng của bệnh nhân. Các tác dụng phụ không thể chữa khỏi, như bệnh thần kinh ngoại biên hoặc suy dinh dưỡng do buồn nôn và nôn, thường là những yếu tố hạn chế trong điều trị”.

“Liều lượng cần sa có thể bị hạn chế bởi các tác dụng phụ”, Sulak khẳng định, “nhưng độc tính không dẫn đến những hạn chế lâu dài”.

Cheryl Pellerin, một nhà văn chuyên viết báo khoa học, là tác giả của Healing With Cannabis: The Evolution of the Endocannabinoid System và How Cannabinoid Help Relieve PTSD, Pain, MS, Loxiety, and More (Skyhorse Publishing), với lời tựa của Jeffrey Y. Hergenrather, MD. Cuốn sách đầu tiên của cô Trip: How Hallucinogens work in your brain , đã được dịch sang tiếng Pháp và Đức.

Dịch giả: Quỳnh Anh

Nguồn: Cannabinoid & cancer in the clinic | Project CBD

Bài viết được xem nhiều nhất