Panaxia được chấp thuận để xuất khẩu cần sa hóa hơi ở Châu Âu

Dùng cần sa y tế thông qua máy hóa hơi được coi là một hình thức tiêu thụ lành mạnh hơn hút điếu, do giảm tổn thương gây ra cho miệng, cổ họng và phổi.

Gã khổng lồ cần sa y tế của Israel, công ty dược phẩm công nghiệp Panaxia đã công bố trong một thông cáo báo chí hôm thứ Tư, rằng họ đã trở thành công ty đầu tiên nhận được sự chấp thuận của cơ quan quản lý để tiếp thị một giải pháp cần sa hóa hơi ở Châu Âu – Đức. Cụ thể hơn – cùng với đối tác chiến lược của họ, công ty dược phẩm Đức Neuraxpharm.

Theo phân tích về xu hướng thị trường năm 2018-2019, cần sa dành cho máy hóa hơi là sản phẩm cần sa y tế phổ biến nhất ở Mỹ, chiếm hơn 50% thị trường.

Hơn nữa, dùng cần sa y tế thông qua máy hóa hơi thường được coi là một hình thức tiêu thụ lành mạnh hơn khi so sánh với hút điếu, do giảm tổn thương gây ra cho miệng, cổ họng và phổi.

Sự chấp thuận cho phép Neuraxpharm nhập khẩu các sản phẩm của Panaxia, phân phối các sản phẩm đến các hiệu thuốc và tiếp thị cho các bác sĩ được ủy quyền cấp đơn thuốc cho các sản phẩm cần sa y tế cho bệnh nhân trong nhiều tình trạng bệnh lý, chẳng hạn như đau mãn tính, co cứng, chứng biếng ăn, bệnh trầm cảm và hơn thế nữa.

Ngoài ra, là một phần của sự hợp tác chiến lược với Neuraxpharm, các ứng dụng sau đó sẽ được nộp để đăng ký và tiếp thị các sản phẩm tiên tiến khác do Panaxia phát triển, bao gồm cả viên nang cần sa.

Panaxia là công ty duy nhất ở Israel được Cơ quan Y tế Châu Âu phê duyệt chứng nhận EU-GMP, cho phép xuất khẩu tất cả các loại sản phẩm cần sa y tế sang hầu hết các nước Châu Âu.

Cho đến nay, họ đã sử dụng các phê duyệt đặc biệt của mình để thiết lập các thỏa thuận xuất khẩu ở các nước như: Đức, Pháp, Cộng Hòa Síp và Úc – giúp công ty càng phát triển lớn hơn trong thời điểm nhiều công ty khác đang gặp khó khăn.

Công ty cho biết hiện tại, Bộ Y tế Israel vẫn không cho phép xuất khẩu các sản phẩm cần sa hóa hơi ở Israel. Do đó, miễn là vị trí này không thay đổi trong những tháng tới, công ty sẽ phải sản xuất các sản phẩm bên ngoài Israel và xuất khẩu sang Đức từ một quốc gia khác.

Công ty hiện đang khám phá các lựa chọn xuất khẩu các sản phẩm thông qua nhà máy của chủ sở hữu kiểm soát ở Malta, hoặc từ các quốc gia khác, để chuẩn bị cho việc ra mắt và bán hàng đầu tiên tại Đức các sản phẩm này trong nửa cuối năm 2021, song song với việc áp dụng xin giấy phép xuất khẩu của Bộ Y tế.

Tiến sĩ Dadi Segal, Người sáng lập và Giám đốc điều hành của Panaxia, cho biết trong một tuyên bố rằng: “Chúng tôi rất vui mừng là công ty đầu tiên và duy nhất ở Châu Âu nhận được giấy phép tiếp thị cho các chiết xuất cần sa y tế dạng hóa hơi.”

“Đây là một thành tựu thương mại và quy định chưa từng có, và là một dòng sản phẩm quan trọng cho bệnh nhân ở Đức, những người lần đầu tiên có thể tiêu thụ một sản phẩm sạch, mà không chứa phụ gia độc hại và các sản phẩm sử dụng nhiệt liên quan đến việc hút búp hoa cần sa y tế, đặc biệt là khi kết hợp với thuốc lá.” Ông nói.

“Chúng tôi mong muốn làm cho các chất chiết xuất hóa hơi chất lượng để có thể tiếp cận được với bệnh nhân ở các quốc gia châu Âu khác đang nỗ lực đăng ký chúng theo các quy trình pháp lý thích hợp.” Ông Segal cho biết.

Nguồn: The Jerusalem Post | Panaxia becomes first in Europe to be approved to export cannabis solution
Dịch giả: Sadie Pices

Phillip Morris có thể sử dụng cần sa trong dòng sản phẩm không khói thuốc của họ

Một trong những công ty thuốc lá lớn nhất thế giới đang nghiên cứu cách đầu tư vào các sản phẩm cần sa không khói thuốc.

Tập đoàn thuốc lá đa quốc gia Philip Morris International gần đây đã thông báo rằng họ đang nghiên cứu khả năng tham gia vào ngành công nghiệp cần sa hợp pháp.

Tuần trước, Giám đốc điều hành Philip Morris, ông Andre Calantzopoulos nói với tờ Bloomberg News rằng ông đang xem xét cần sa như một yếu tố tiềm năng trong chiến lược “Vượt ra ngoài Nicotine” mới của công ty. Hiện doanh số bán thuốc lá toàn cầu đang giảm, hãng thuốc lá này đang có kế hoạch đa dạng hóa các dòng sản phẩm của họ để bao gồm các sản phẩm hỗ trợ giấc ngủ có nguồn gốc thực vật, tăng cường năng lượng hoặc trấn an tinh thần. Và mặc dù công ty vẫn chưa thống nhất các kế hoạch này, nhưng cần sa rất có thể phù hợp với bức tranh đó.

Ông André Calantzopoulos là một doanh nhân người Hy Lạp. Ông là CEO của tập đoàn thuốc lá khổng lồ Philip Morris International. Ông từng là kỹ sư thiết kế trong ngành ô tô trước khi gia nhập PMI năm 28 tuổi.

Ông Calantzopoulos nói với Bloomberg: “Chúng tôi đang thực hiện tất cả công việc này và sẽ xác định phương pháp nào để theo đuổi. Nhưng ưu tiên của công ty là những gì chúng tôi đang làm với các sản phẩm không khói thuốc và đó là cách tôi sẽ tiếp tục phát triển cần sa.”

5 năm trước, Philip Morris đã đầu tư 20 triệu đô la vào Syqe Medical, một công ty của Israel vừa phát triển ống hít cần sa y tế đầu tiên nhận được sự chấp thuận của cơ quan quản lý quốc tế. Vào thời điểm đó, Philip Morris chỉ quan tâm đến việc sử dụng công nghệ của Syqe để tạo ra các thiết bị không nicotine – không khói thuốc. Nhưng giờ đây, ống hít cần sa y tế đã được chấp thuận sử dụng ở Canada, gã khổng lồ thuốc lá đang có một cái nhìn mới mẻ về ngành công nghiệp cần sa hợp pháp.

Philip Morris mới chỉ đang thực hiện những bước đầu tiên trong việc điều tra thị trường cần sa hợp pháp, nhưng các công ty thuốc lá khác đã bỏ xu hướng nghiêm trọng vào ngành công nghiệp mới này. Vào năm 2018, công ty thuốc lá Altria, nổi tiếng với việc sản xuất thuốc lá Marlboro, đã chi 1,8 tỷ USD để mua 45% cổ phần của Cronos, một công ty cần sa của Canada. Kể từ khi mua lại, công ty đã nộp hai bằng sáng chế cho máy hóa hơi và thuê một nhà vận động để vận động cho quy định sản phẩm CBD tại Quốc hội.

Tháng 3 năm nay, British American Tobacco (BAT), nhà sản xuất American Spirit, Camel, Newport và các loại thuốc hút khác, đã mua 20% cổ phần trong Organigram, một hãng cần sa khác của Canada. Thỏa thuận trị giá 175 triệu đô la này sẽ trở thành cổ đông lớn nhất của BAT Organigram và công ty đã chỉ ra rằng họ sẽ tập trung nỗ lực ban đầu vào việc đưa các sản phẩm CBD mới ra thị trường.

Sự quan tâm của các công ty thuốc lá lớn đối với ngành công nghiệp thuốc lá hợp pháp đang tăng nhanh đến mức Quốc hội đã chú ý. Dự luật hợp pháp hóa cần sa mới của Lãnh đạo phe đa số Thượng viện Chuck Schumer được cho là sẽ bao gồm các điều khoản để ngăn các công ty rượu và thuốc lá lớn thống trị thị trường cần sa Hoa Kỳ.

 

Nguồn: MerryJane | Phillip Morris Might Use Cannabis in Its New “Beyond Nicotine” Product Line 

Dịch giả: Sadie Pices

Thiết bị cần sa y tế của Israel sẽ được sử dụng ở Canada

Công ty công nghệ dược phẩm Syqe Medical cho biết, sự chấp thuận đầu tiên của cơ quan quản lý quốc tế cho phép tiếp thị một loại ống hít cần sa đã được định lượng chính xác như một sản phẩm y tế.

Công ty Syqe Medical của Israel, một nhà phát triển ống hít cần sa y tế, cho biết vào hôm thứ Tư rằng họ đã nhận được sự đồng ý của cơ quan y tế Canada và cho phép công ty tiếp thị ống hít có định lượng cho bệnh nhân ở Canada.

Đây là sự chấp thuận đầu tiên do cơ quan quản lý quốc tế đưa ra để tiếp thị một loại ống hít cần sa đã được định lượng chính xác như một sản phẩm y tế, cũng như sự chấp thuận đầu tiên để tiếp thị một sản phẩm kết hợp cần sa với một thiết bị y tế, công ty cho biết trong một tuyên bố, giấy phép thiết bị y tế (MDL) nhận được từ cơ quan quản lý Canada.

Sự chấp thuận đã được phê duyệt dựa trên các thử nghiệm lâm sàng do công ty thực hiện tại Trung tâm Y tế Rambam ở thành phố Haifa, Israel, và trên dữ liệu từ những bệnh nhân sử dụng sản phẩm tại thị trường Israel. Dữ liệu cho thấy liệu pháp điều trị bằng cần sa y tế được cung cấp bởi ống hít của Syqe Medical đạt được kết quả giảm đau mong muốn đồng thời giảm 90% các tác dụng phụ, bao gồm cả các hiệu ứng thần kinh, tuyên bố cho biết.

Công ty cho biết ống hít cho phép phân phối cần sa chính xác ở mức độ an toàn và chính xác.

Công ty cho biết thị trường Canada sẽ là một động lực đáng kể cho chiến lược tăng trưởng kinh doanh của công ty Syqe Medical. Thị trường cần sa y tế ở Canada bao gồm khoảng 370.000 bệnh nhân cần sa y tế được cấp phép vào cuối năm 2020 và có đến tổng số hơn 5,8 triệu người Canada bị đau mãn tính. Theo tuyên bố ước tính rằng thị trường sẽ đạt 380 triệu đô la vào năm 2024.

Sự chấp thuận ở Canada dựa trên Chứng nhận Tiêu chuẩn Châu Âu (CE) mà công ty đã nhận được cách đây vài tháng, cho ống hít định lượng và cartridge dùng một lần do Syqe Medical phát triển. Công ty cho biết, phê duyệt đánh dấu CE của Châu Âu có giá trị đối với cả cần sa y tế và nhiều loại thuốc dạng cartridge mới và hiện có mà công ty sẽ đưa vào cartridge, tùy thuộc vào các phê duyệt quy định bắt buộc, công ty cho biết.

Dựa trên sự chấp thuận của CE, các thử nghiệm lâm sàng và tài liệu tham khảo của bệnh nhân, Syqe Medical đang tìm cách giới thiệu ống hít cùng với cartridge cần sa y tế vào “giỏ” dịch vụ y tế của Israel do các tổ chức chăm sóc sức khỏe của họ chi trả, đồng thời, họ đang nghiên cứu nhận được sự chấp thuận ở một số quốc gia Châu Âu. Công ty hy vọng sẽ bắt đầu tiếp thị sản phẩm của mình tại Canada vào cuối năm nay.

Thử nghiệm lâm sàng gần đây nhất được thực hiện bởi công ty tại Bệnh viện Rambam, được công bố trên European Journal of Pain, cho thấy liều lượng tối ưu cân bằng giữa việc giảm đau với việc giảm các tác dụng phụ và thần kinh – “cửa sổ điều trị” – được khuyến nghị cho bệnh nhân tiếp nhận cần sa bằng cách hít chỉ đơn thuần là 500 microgam THC, thành phần tác động thần kinh chính của cần sa. Điều này cho phép bệnh nhân của Syqe Medical tiêu thụ lượng cần sa y tế nhỏ hơn so với bệnh nhân sử dụng các phương pháp khác như hút, những người nhận được trung bình một gram cần sa mỗi ngày, chứa khoảng 150.000 microgam THC, tuyên bố cho biết.

Nghiên cứu tại Rambam cũng chỉ ra rằng liều lượng cực thấp của cần sa mang lại hiệu quả mong muốn đồng thời tránh cảm giác “high” đi kèm với việc sử dụng cần sa, góp phần lớn vào hoạt động hàng ngày, chất lượng cuộc sống và sự an toàn, tuyên bố cho biết thêm. Dữ liệu của những bệnh nhân ở Israel sử dụng ống hít cho thấy giảm khoảng 90% các tác dụng phụ so với các phương pháp sử dụng cần sa khác như dầu, hóa hơi và hút điếu, công ty cho biết.

Ông Perry Davidson, Giám đốc điều hành và người sáng lập công ty Syqe Medical, cho biết: “Việc phê duyệt ở Canada sẽ không thể thực hiện được nếu không có 10 năm phát triển công nghệ và thử nghiệm lâm sàng, chứng minh rằng liều lượng thấp cùng với việc phân phối chính xác cao dẫn đến việc điều trị cần sa tối ưu.” ông Perry Davidson cho biết thêm. “Dữ liệu sử dụng ở Israel cho thấy rằng bệnh nhân lấy lại được cuộc sống bình thường, trong khi việc điều trị làm giảm tác dụng thần kinh và các tác dụng phụ không mong muốn.”

Ông nói thêm: “Công nghệ của Syqe Medical, được phát triển và sản xuất tại Israel, là sản phẩm xuất khẩu thực sự của Israel về thiết bị công nghệ y tế trong lĩnh vực cần sa.

“Sự chấp thuận nhận được từ các cơ quan y tế Canada, và việc bắt đầu tiếp thị và bán hàng tại thị trường Canada, trên thực tế là sự xác nhận chiến lược kinh doanh và quy định của Syqe Medical, và cùng với việc bán hàng ở Israel, Syqe Medical đang phát triển và hoàn thiện tiến vào thị trường toàn cầu.” Tiến sĩ Eytan Hyam, cựu Tổng giám đốc Bộ Y tế Israel và Chủ tịch điều hành y tế Syqe Medical cho biết.

Nguồn: The Times Of Israel | Israeli medical cannabis inhaler gets Canada’s marketing nod

Dịch giả: Sadie Pices

Công nghệ chỉnh sửa gen trên cây Cần Sa tại Israel

Công ty khởi nghiệp có tên CanBreed của Israel cho biết họ đã sử dụng công nghệ chỉnh sửa gen để thay đổi một gen trong cây cần sa để làm tăng khả năng chống lại bệnh sương mai (phấn trắng) – một loại nấm có thể gây chết cho cây.

Theo thông tin từ CanBreed, đây là lần đầu tiên mà một công ty thương mại đã ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen trên cây cần sa. Việc chỉnh sửa này được thực hiện bằng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR-Cas9.

Thông qua cuộc phỏng vấn qua điện thoại, Ido Margalit – CEO của CanBreed cho biết: “Rất khó để sử dụng công nghệ CRISPR trên cây cần sa”. Ông nói rằng, thông qua việc sử dụng công nghệ chỉnh sửa gen này, nhóm nghiên cứu và phát triển của công ty, bao gồm các nhà di truyền học, sinh học phân tử và nông học, đã chỉnh sửa một gen quy định protein chịu trách nhiệm tạo ra độ nhạy với bệnh phấn trắng.

Ông giải thích, bằng cách chỉnh sửa gen này, protein này không được biểu hiện, dẫn đến khả năng kháng bệnh phấn trắng. Hiện tại, công ty phải chứng minh được rằng những cây đã được chỉnh sửa gen này thực sự có khả năng chống lại loài nấm này, và sẽ cùng hợp tác thực hiện cùng với các nhà khoa học tại Đại học Hebrew của Jerusalem, ông cho biết thêm.

Công ty hướng tới mục tiêu tạo ra và sau đó bán các hạt giống cần sa có đặc tính kháng bệnh phấn trắng và hy vọng sử dụng công nghệ này để chỉnh sửa các gen khác nhằm gia tăng các đặc tính khác của cây.

Margalit nói rằng: “Vào cuối năm 2021, chúng tôi hy vọng sẽ có được những hạt giống cần sa kháng bệnh phấn trắng đầu tiên được thương mại hóa” và nói thêm rằng “những thành tựu phi thường” của công ty có thể “thay đổi bộ mặt của việc canh tác cần sa tại Israel và trên toàn thế giới” bằng cách giúp những người canh tác tạo ra những cây cần sa đồng đều và có khả năng kháng bệnh cao hơn, mở đường cho việc “tiêu chuẩn hóa ngành công nghiệp này”.

Ông còn cho biết “Công ty đã được cấp bằng sáng chế cho gen tạo ra khả năng chống lại bệnh phấn trắng và nộp đơn đăng ký cho nhiều bằng sáng chế khác trên các gen quy định những đặc điểm nông học quan trọng trên cây cần sa”.

CanBreed hy vọng rằng những hạt giống cần sa của họ sẽ cho phép người trồng tạo ra được các cây cần sa đồng nhất một cách hiệu quả và có độ lặp lại cao. Vì cần sa là một loài thực vật có chứa đặc tính y học, nên cần phải có sự chuẩn hóa và tính đồng nhất, và điều đó có thể đạt được bằng cách trồng cần sa từ những hạt giống ổn định.

Margalit giải thích rằng bệnh phấn trắng là tình trạng một loại nấm tấn công đến nhiều loại thực vật khác nhau, và nếu không được chữa một cách kịp thời, nó có thể gây chết cây trồng, từ đó làm giảm năng suất. Cây bị nhiễm bệnh sẽ xuất hiện những đốm trắng trên thân và lá. Vì cần sa được sử dụng cho mục đích y tế, nên người canh tác không được phép sử dụng thuốc diệt nấm.

Vào tháng 8, công ty cho biết họ đã đạt được thỏa thuận cấp phép sử dụng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR-Cas9 từ Corteva Agriscience và Viên nghiên cứu MIT và Harvard – chính là những đơn vị nắm giữ bản quyền của công nghệ này.

CanBreed có trụ sở tại Givat Chen, Israel – được thành lập vào năm 2017 bởi Margalit và Tal Sherman.

Margalit là một nhà nông học có bằng Thạc sĩ Công nghệ Quản lý tại trường Đại học New York. Ông đã có hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành khoa học đời sống tại Israel và là cựu giám đốc phát triển kinh doanh của Syngenta Seeds. Người đồng sáng lập của ông là Sherman, một nhà thực vật học có bằng Tiến sĩ về Khoa học Thực vật tại Đại học Tel Aviv ở Israel. Sherman là một chuyên gia trong lĩnh vực sinh học phân tử và sinh lý thực vật, đồng thời có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, phát triển và quản lý giống cây trồng với tư cách là Giám đốc dự án tại Syngenta Seeds.

Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: The times of Israel – Israeli startup says it has edited cannabis plant gene to resist fungus

Cần sa y tế của Israel sản xuất được phê duyệt để xuất khẩu sang Đức, Pháp


Ngành công nghiệp xuất khẩu cần sa y tế của Israel đang bắt đầu hình thành. Công ty cần sa y tế hàng đầu của Israel, Panaxia đã nhận được sự phê duyệt xuất khẩu sản phẩm của họ sang nước Đức và Pháp vào đầu tháng 12.

Panaxia, nhà sản xuất các sản phẩm cần sa y tế lớn nhất của Israel tại Israel, đã thông báo rằng họ đã trở thành công ty đầu tiên trong nước nhận được giấy phép xuất khẩu cần sa y tế thương mại sang Đức từ Bộ Y tế.

Trước khi kết thúc năm 2020, Panaxia sẽ bắt đầu bán một loạt sản phẩm dầu cần sa y tế cao cấp tại Đức dưới thương hiệu Naxiva-Panaxol, công ty chia sẻ với gã khổng lồ dược phẩm Châu Âu Neuraxpharm.

Chỉ mới tháng 7 năm ngoái, Israel đã vượt qua Đức để trở thành nhà nhập khẩu búp hoa cần sa y tế lớn nhất trên thế giới, một minh chứng cho việc cải tổ ngành công nghiệp cần sa y tế bị chỉ trích rộng rãi của cựu Bộ trưởng Y tế Yaakov Litzman.

Tháng trước, xu hướng cần sa y tế này cuối cùng đã bắt đầu thay đổi, khi Panaxia trở thành công ty đầu tiên ở Israel nhận được giấy phép xuất khẩu cần sa y tế thương mại sang Úc và Bồ Đào Nha.

Tuy nhiên, tiềm năng thị trường ở Đức có khoảng 70 nghìn bệnh nhân cần sa y tế, cùng với mức giá hàng tháng cao hơn đáng kể so với ở Israel – đã cho thấy rằng thông báo này có thể là một bước ngoặt lớn hơn nhiều đối với Panaxia và ngành công nghiệp cần sa y tế của Israel nói chung.

Panaxia và Neuraxpharm cũng đã nhận được sự chấp thuận của Bộ Y tế để xuất khẩu các mẫu viên nang và dầu cần sa y tế sang Pháp, để đăng ký tham gia chương trình thử nghiệm do chính phủ Pháp khởi xướng nhằm điều chỉnh ngành công nghiệp cần sa y tế tại nước này.

Việc thí điểm dự kiến ​​sẽ bắt đầu trong những tháng tới và tiếp tục trong khoảng hai năm, trong đó 5-6 công ty sẽ lựa chọn các sản phẩm cần sa y tế và áp dụng miễn phí cho 3.000 bệnh nhân đáp ứng được các tiêu chí mà chính phủ Pháp sẽ đặt ra.

Tiến sĩ Dadi Segal, Người sáng lập và Giám đốc điều hành của Panaxia ở Israel cho biết: “Đây là một ngày trọng đại đối với Panaxia; một ngày mà chúng tôi đã chuẩn bị trong một thời gian dài. Có được giấy phép xuất khẩu sang Đức là cột mốc quan trọng nhất đối với công ty cho đến nay và hoạt động như một bước ngoặt trong hoạt động của công ty. ”

 

Nguồn: The Jerusalem Post | Israeli medical cannabis approved for export to Germany, France

Dịch giả: Sadie Pices

Giải thưởng Harvey danh giá tiên đoán người đoạt giải Nobel sẽ là giáo sư Raphael Mechoulam

Một trong những giải thưởng khoa học danh giá nhất, giải Harvey về Kỹ thuật Hóa học và Khoa học Y tế, đã thuộc về Giáo sư Raphael Mechoulam – “cha đẻ” của ngành y học cần sa hiện đại.

Giáo sư Raphael Mechoulam từ Trường Dược thuộc Khoa Y tại Đại học Hebrew ở Jerusalem, là một trong hai người đoạt Giải thưởng Harvey danh giá vì nghiên cứu đột phá của ông trong thế giới cần sa y tế. Các nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này đã mang đến cho toàn thế giới một cái nhìn mới về cần sa như một loài cây chữa bệnh, thay vì chỉ là một hợp chất giải trí.

Giải thưởng Harvey – Giải thưởng tiên đoán giải Nobel!

Trong những năm qua, giải thưởng Harvey đã trở thành một công cụ dự đoán đáng tin cậy cho giải thưởng Nobel cao quý nổi tiếng. Kể từ năm 1986, đã có hơn 30% số người đoạt giải Harvey cuối cùng đã được trao giải Nobel. Trên thực tế, 3 người trong số họ – giáo sư Jennifer Doudna, giáo sư Emmanuelle Charpentier và giáo sư Reinhard Genzel – là những người sẽ nhận được giải thưởng Nobel cao quý năm nay!

Dựa trên sự đóng góp rất lớn của ông đối với các nghiên cứu cần sa y tế. Và chúng ta chỉ có thể khoanh tay với hy vọng rằng đó sẽ là “cha đẻ” của nghiên cứu cần sa sẽ đoạt giải trong những năm tới.

Tiểu sử giáo sư Raphael Mechoulam

Giáo sư Mechoulam sinh ra ở Bulgaria vào năm 1930, đó cũng là nơi ông theo học ngành kỹ thuật hóa học. Sau khi nhập cư đến Israel, ông đã nhận được bằng Thạc sĩ và bằng Tiến sĩ của mình về hóa sinh của Đại học Hebrew ở Jerusalem tại Viện Weizmann và hoàn thành nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Rockefeller ở New York. Năm 1960, ông gia nhập ban cán bộ khoa học của Viện Weizmann, và đến năm 1985, ông trở thành giáo sư tại Đại học Hebrew.

Chính sự tò mò về cần sa như một loài cây chữa bệnh đã dẫn ông đến đồn cảnh sát vào năm 1963, nơi ông lấy mẫu thử nghiệm đầu tiên – 5 kg hash – để sử dụng cho mục đích nghiên cứu. Giáo sư Mechoulam sau đó đã phát triển mối quan hệ của ông với các nhân viên tại Bộ Y tế Israel, những người đã cho ông giấy phép tiếp tục nhận các sản phẩm từ cần sa cho các nghiên cứu của mình trong vài thập kỷ tới. Như ông tóm tắt giản dị sự việc: “Tôi luôn luôn đến Bộ Y tế, họ đưa tôi một lá thư để đưa cho cảnh sát, tôi đến gặp cảnh sát và uống một chút cà phê với họ, lấy hashish tôi cần và chỉ thế thôi.”

Ông là nhà khoa học đầu tiên phân lập các cannabinoid thực vật, đầu tiên là THC (tetrahydrocannabinol) sau đó là CBD (cannabidiol), và ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra hệ thống endocannabinoid của con người, nó là một hệ thống tín hiệu tế bào phức tạp được tạo thành từ các thụ thể được tìm thấy trong toàn bộ cơ thể chúng ta. Các thụ thể này phản ứng với cannabinoid thực vật để điều trị nhiều tình trạng mà chúng ta mắc phải. Tất cả các sinh vật sống ngoại trừ côn trùng đều có hệ thống endocannabinoid.

Giáo Sư Mechoulam – Nhìn lại

Nghiên cứu của ông đã dẫn đến sự phát triển của nhiều lựa chọn điều trị an toàn và tự nhiên cho nhiều chứng rối loạn và bệnh hơn chúng ta có thể đếm được, nhưng đặc biệt là bệnh động kinh, sức khỏe tâm thần, bệnh đa xơ cứng và kiểm soát cơn đau. Hai hợp chất cannabinoid hàng đầu – THC và CBD, được sử dụng ngày nay trong các loại thuốc biệt dược – Marinol, một loại thuốc dùng để điều trị chứng buồn nôn, sử dụng hợp chất THC tổng hợp; và Epidiolex, loại thuốc đầu tiên được FDA chấp thuận sử dụng CBD tự nhiên làm thành phần chính, để điều trị các dạng động kinh hiếm gặp.

Với nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu cần sa, giáo sư Mechoulam đã được ban tặng nhiều sự công nhận và vô số danh hiệu cao quý, bao gồm Giải thưởng Israel về Khoa học Chính xác – Hóa học (2000) và Giải thưởng Kolthoff về Hóa học từ trường đại học Technion. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nhân văn Israel. Năm 2014, Giáo sư Mechoulam được tờ Jerusalem Post vinh danh là một trong “50 người Do Thái có ảnh hưởng nhất thế giới”.

Radio phỏng vấn Giáo sư Raphael Mechoulam, cha đẻ của nghiên cứu cần sa về “Đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng & Thử nghiệm lâm sàng”

Giáo sư Joseph DeSimone

Như đã đề cập trước đó, Mechoulam chỉ là một trong hai người chiến thắng giải thưởng Harvey danh giá. Người còn lại là Giáo sư Joe DeSimone, ông được biết đến với những đóng góp đáng kể trong khoa học vật liệu, hóa học, khoa học polyme, y học nano và in 3D.

Giáo sư DeSimone cũng đã đạt được những bước đột phá quan trọng trong việc sử dụng carbon dioxide siêu tới hạn để sản xuất fluoropolyme có nhiều ứng dụng trong y tế. Giáo sư DeSimone đã xuất bản hơn 350 bài báo trên các tạp chí khoa học và đã có hơn 200 bằng sáng chế mang tên mình. Ngoài ra, giáo sư DeSimone được ghi nhận là đã tạo ra những đổi mới quan trọng trong lĩnh vực y học chính xác (precision medicine), chẳng hạn như công nghệ PRINT (Particle Replication in Non-wetting Templates) trong công nghệ y tế, bao gồm cả sản xuất giao diện chất lỏng liên tục (continuous liquid interface production).

Nguồn: Canadian friends of the hebrew university of jerusalem | Prestigious Harvey Prize, a predictor of the Nobel, goes to Raphael Mechoulam

Dịch giả: Sadie Pices

Israel đã trở thành trung tâm nghiên cứu về cần sa như thế nào?

Nhiều người chắc hẳn đã nghe nói về giáo sư Raphael Mechoulam, nhà khoa học người Israel và “cha đỡ đầu của cần sa”, người đã cô lập THC vào những năm 1960. Tuy nhiên, mối liên hệ của Israel với cần sa có nhiều điều hơn là một người đàn ông hay bất kỳ phát hiện khoa học nào.

Thực tế thú vị: Cần sa đã bị coi là bất hợp pháp ở Israel trước khi đất nước này thậm chí trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1948. Nó được đưa vào “Sắc lệnh về các loại ma túy nguy hiểm” năm 1936, do Cao ủy của nước Palestine viết (không có ý định chơi chữ) khi đất nước vẫn còn dưới sự cai trị của người Anh. Vào năm 1961, Israel tham gia với tư cách là một bên ký kết Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 của Liên hợp quốc, một văn kiện đặt nền móng cho việc cấm cần sa quốc tế như chúng ta đã biết. Vài năm sau, vào năm 1973, quốc hội Israel đã sửa đổi đạo luật năm 1936, nhưng đáng chú ý là vẫn làm cho nghiên cứu cần sa hợp pháp. Ngược lại, ở Mỹ, nghiên cứu về cần sa vẫn đang bị hạn chế cực kỳ bởi các lệnh cấm ma túy của liên bang.

Nghiên cứu cần sa đột phá

Giáo sư Raphael Mechoulam (Đại học Hebrew)

Vào đầu những năm 1960, ông Mechoulam, một nhà khoa học trẻ từ Viện khoa học Weizmann ở Israel đã bắt đầu nghiên cứu về cần sa. Theo ông Mechoulam, nghiên cứu về cần sa lúc bấy giờ hầu như bị bỏ quên vì hai lý do chính. Đầu tiên, cần sa là một chất bất hợp pháp, do đó các nhà khoa học và phòng thí nghiệm nghiên cứu không dễ tiếp cận. Ông nói với tạp chí Addiction: “Ngay cả khi có được sự hợp pháp cho việc nghiên cứu, nghiên cứu với cần sa vẫn là một cơn ác mộng trong phòng thí nghiệm.”

“Tôi đến gặp giám đốc hành chính của Viện khoa học Weizmann và chỉ hỏi anh ta rằng liệu anh ta có biết ai đó ở trụ sở cảnh sát hay không… anh ta đã gọi cho người đứng đầu ngành điều tra tại trụ sở cảnh sát – người mà anh ta đã chiến đấu cùng trong quân đội. Tôi nghe viên cảnh sát ấy hỏi: “Anh ấy [có nghĩa là tôi] có đáng tin cậy không?” Khi nhận được câu trả lời xác đáng, anh ta yêu cầu tôi đến thành phô Tel Aviv và nhờ đó tôi đã thu được 5 kg hashish Lebanon nhập lậu tuyệt hảo.” Giáo sư Mechoulam nói.

Lý do thứ hai là các dạng hợp chất hóa học hoạt động trong cây cần sa tinh khiết, dạng cô lập vẫn chưa có sẵn để nghiên cứu. Các loại thuốc bất hợp pháp chính có nguồn gốc thực vật khác, chẳng hạn như opium và coca, đã bị phân lập vào thế kỷ 19, tức là morphine và cocaine. Sự sẵn có của các hợp chất tinh khiết này giúp cho việc nghiên cứu sinh hóa, dược lý và lâm sàng trở nên khả thi. Đó là một công việc vất vả đối với giáo sư Mechoulam.

Thế hệ nhà nghiên cứu tiếp theo

Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của ông ở Jerusalem, Lumir Labs. (Ảnh Matan Weil / The Cannigma)

Ông đã cùng với một số đồng nghiệp thành lập một nhóm nghiên cứu cần sa. Người đầu tiên tham gia là Yuval Shvo, họ cùng nhau phân lập lại và thiết lập cấu trúc của cannabidiol, còn được gọi là CBD. CBD lần đầu tiên được nhà hóa học Roger Adams phân lập vào những năm 1940 nhưng cấu trúc của nó chỉ được biết đến một phần, đây là bước đột phá đầu tiên của nhóm Mechoulam. Ngay sau đó, hai người khác – Yehiel Gaoni, người vừa hoàn thành bằng tiến sĩ hóa học hữu cơ ở Sorbonne. Và Haviv Edery, một người nhập cư từ Argentina vài năm trước đó, cũng đã tham gia nhóm. Mục tiêu của họ là giải mã điều bí ẩn về cần sa đầu tiên — bằng cách nhận dạng các thành phần hoạt động của cần sa. Đầu tiên, họ xác định cấu trúc của THC, tiếp tục với việc phát hiện ra một số cannabinoid “nhỏ” khác.

Vào cuối những năm 1980, phần lớn thế hệ tiếp theo của các nhà nghiên cứu cần sa đã thực hiện một số công việc quan trọng nhất của họ ở Israel, cùng với ông Mechoulam. Hai nhân vật chủ chốt là Bill Devane, một thành viên của nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ra thụ thể đầu tiên của cần sa, và Lumír Hanuš, một nhà nghiên cứu người Séc đã tham gia nghiên cứu cannabinoid ở nơi quê nhà. Cùng với Mechoulam, cả hai đã phát hiện ra Anandamide vào năm 1992, cannabinoid nội sinh đầu tiên (hay còn gọi là endocannabinoid). Công việc của họ, cùng nhau và tách biệt nhau, đã dẫn đến việc phát hiện ra hệ thống endocannabinoid, được coi là một bước đột phá khác về khoa học và y học. Cả Devane và Hanuš đều đã tham gia rất nhiều vào nghiên cứu cần sa kể từ đó.

Nghiên cứu cần sa của Israel cũng đã ảnh hưởng đến công việc quan trọng diễn ra ở nước ngoài. Ví dụ, siêu sao nghiên cứu cần sa, Tiến sĩ Ethan Russo, người chịu trách nhiệm về sự phổ biến của các khái niệm như Hiệu ứng cộng hưởng và Sự thiếu hụt endocannabinoid lâm sàng (CECD), bắt đầu nghiên cứu cần sa của mình vào cuối những năm 1990 và tiến sĩ Russo xem ông Mechoulam là một trong những người cố vấn của mình.

Điều kiện chín muồi cho các nghiên cứu lâm sàng

Một người đàn ông trong viện dưỡng lão Israel được cho sử dụng cần sa từ máy hóa hơi. (Ảnh Chameleon’s Eye / Shutterstock)

Bộ Y tế Israel bắt đầu cấp giấy phép sử dụng cần sa y tế cho từng bệnh nhân vào cuối những năm 1990. Các chỉ định phổ biến để điều trị bằng cần sa là bệnh HIV / AIDS và ung thư, nhưng trên thực tế chỉ một số ít bệnh nhân xin giấy phép và thậm chí một số ít được cấp.

Hầu hết các bệnh nhân đủ điều kiện đều rất ốm yếu và không có khả năng thông quan và do quá trình cấp phép quan liêu khó có thể xin giấy phép trồng cần sa để chữa bệnh. Nếu bệnh nhân có kiếm được cây hoặc hạt giống cần sa, thì hầu hết mọi người đều thiếu kiến thức và thiết bị để tự trồng cần sa.

Tất cả những điều ấy đã thay đổi khi một số người có giấy phép thành lập một tập thể trồng cần sa, Tikun Olam (tiếng Do Thái có nghĩa là “sửa chữa thế giới”). Nhóm tình nguyện viên này đã nhận được giấy phép trồng 100 cây cần sa cho những bệnh nhân khác, đồng thời cũng giới thiệu việc sử dụng cần sa y tế cho những người cao niên, đi từ nhà hưu dưỡng này sang nhà hưu dưỡng khác, quảng bá việc sử dụng cần sa cho mục đích chữa bệnh. Cuối cùng, số lượng người có giấy phép nhiều đến mức Tikun Olam không thể tiếp tục hoạt động như một tổ chức phi chính phủ và trở thành một công ty tư nhân vào năm 2010. 7 nhà sản xuất cần sa khác bắt đầu hoạt động tại quốc gia này cùng năm đó.

Việc sử dụng cần sa trong y tế ở Israel tiếp tục tăng lên hàng năm, với 2.000 bệnh nhân được điều trị vào năm 2009, 22.000 bệnh nhân vào năm 2015 và khoảng 50.000 bệnh nhân vào năm 2019. Sự tăng trưởng này đã tạo điều kiện cho nhiều hơn và các loại nghiên cứu cần sa khác nhau. Trước hoạt động của Tikun Olam, nghiên cứu ở Israel chủ yếu là tiền lâm sàng nhưng với khả năng tiếp cận với một lượng lớn bệnh nhân cần sa y tế, các nghiên cứu lâm sàng về bệnh nhân thực bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là đối với các bệnh như: động kinh, bệnh Alzheimer, ung thư, bệnh Crohn, và viêm loét đại tràng.

Đồng thời, một thế hệ nhà nghiên cứu cần sa mới đã ra đời. Hai ví dụ điển hình là Dedi Meiri từ Học viện Công nghệ Technion-Israel, và Yossi Tam từ Đại học Hebrew ở Jerusalem. Meiri điều hành Phòng thí nghiệm Sinh học Ung thư và Nghiên cứu Cannabinoid điều tra các đối tượng ví dụ như tiềm năng điều trị của cannabinoid và ông chủ yếu tập trung vào các loại ung thư, bệnh động kinh và bệnh tiểu đường. Yossi Tam là Trưởng Trung tâm Đa ngành Nghiên cứu Cannabinoid tại Đại học Hebrew, bao gồm hàng chục nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu các chủ đề như: viêm, đau, hệ thống miễn dịch, sự trao đổi chất và ung thư.

Mặc dù chương trình cần sa y tế của Israel bắt đầu từ những năm 1990, nó vẫn còn rất nhiều hạn chế. Bệnh nhân thường phàn nàn về việc tiếp cận, khó xin đơn thuốc và chi phí cao mà không được bảo hiểm y tế chi trả.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: How Israel Became a Cannabis Research Hub, Written by Matan Weil

Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19

Photo: iStock-Darren415©

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng cần sa y tế có thể có tiềm năng trong việc điều trị các triệu chứng của COVID-19.

COVID-19 không có dấu hiệu chậm lại và vắc-xin sẽ được công bố trong vài tháng, thậm chí một năm. Sự nôn nóng để dùng loại thuốc đã có mặt trên thị trường dẫn đến việc một số chính phủ phải mua vào kịch liệt nhằm giảm tác động của một loại vi rút ngấm ngầm.

Cùng với việc rất nhiều chuyên gia y tế đang tìm kiếm một phương pháp chữa trị – hoặc, thất bại đó, chiến lược phòng ngừa tốt nhất ngoài khẩu trang và giãn cách xã hội – là nên lùi lại một bước để xem vai trò của cần sa y tế trong việc giúp giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bởi COVID-19 như thế nào.

Coronavirus hoạt động như thế nào?

Vi rút sử dụng các protein có bề mặt gai nhọn của nó để bám vào các thụ thể được tìm thấy trên các tế bào khỏe mạnh, đặc biệt là các thụ thể được tìm thấy trong phổi. Các protein virus này đi qua các thụ thể ACE2; và một khi chúng đã vào được bên trong, coronavirus sẽ bắt giữ các tế bào khỏe mạnh và nắm quyền chỉ huy. Cuối cùng, nó giết chết một số tế bào khỏe mạnh.

Vi rút tác động đến hệ hô hấp bằng cách di chuyển xuống đường hô hấp của bạn. Bao gồm miệng, mũi, họng và phổi. Tuy nhiên, do đường hô hấp dưới có nhiều thụ thể ACE2 hơn phần còn lại của đường hô hấp, COVID-19 có nhiều khả năng di chuyển sâu hơn các loại vi rút khác như cảm lạnh thông thường. Đây là điều làm cho COVID-19 mạnh hơn so với cảm lạnh trung bình hoặc các loại cúm khác. Khi vi rút xâm nhập vào phổi, nó khiến người ta khó thở – đặc biệt hơn là nó dẫn đến viêm phổi.

Đối với hầu hết mọi người (khoảng 80%), các triệu chứng là ho và sốt. Đối với những người không may bị nặng hơn, tình trạng nhiễm trùng có thể trở nên rất nặng. Khoảng 5 đến 8 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu, một số người sẽ bị khó thở và có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) vài ngày sau đó.

Cần sa có tác dụng gì?

Các cannabinoid như cannabidiol (CBD) có lịch sử sử dụng an toàn và chứa một số đặc tính có thể hữu ích trong việc điều trị các triệu chứng y tế nhất định: CBD có đặc tính chống viêm và có thể hoạt động như một chất chống co mạch, có khả năng giảm đau và giảm lo lắng. Kết hợp với các cannabinoid và tecpen khác, cũng như can thiệp lâm sàng cần thiết, CBD có nhiều tiềm năng để điều trị các triệu chứng của vi rút như COVID-19. Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa cũng đã được chứng minh là làm giảm đông máu ở các mô hình thí nghiệm động vật; người ta biết rằng nhiều tác dụng tiêu cực trên toàn cơ thể của COVID-19 dường như có liên quan đến việc đông máu bị thay đổi, vì thế có thể cần sa có thể hữu ích trong việc kiểm soát những di chứng này.

Cần sa y tế có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị COVID-19 hay không?

Phòng ngừa

Cho đến nay, phạm vi và khoảng cách của dữ liệu nghiên cứu có thể xác minh được mối liên kết giữa việc cannabinoid và việc phòng ngừa COVID-19 là còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các cách tiếp cận mới để phòng ngừa COVID-19 bao gồm một nghiên cứu đã giám định khả năng kết hợp của CBD vào các dung dịch uống; chẳng hạn như nước súc miệng và thuốc súc họng nhằm mục đích “giảm hoặc điều chỉnh mức ACE2 trong các mô có nguy cơ cao”. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ ACE2 thay đổi trong quá trình tiến triển của COVID-19 và do đó khả năng điều chỉnh các mức này trở nên đặc biệt quan trọng vì ACE2 đã được chứng minh là cần thiết cho chức năng phổi trong các mô hình động vật nhiễm virus SARS.

Giảm mức độ nghiêm trọng và tác động

Trong các phân tích về COVID-19, người ta quan tâm nhiều đến Hội chứng phóng thích Cytokine (Cytokine Release Syndrome – CRS), trong đó quá nhiều protein cytokine được giải phóng trong cơ thể: những protein này có thể tấn công phổi và áp đảo hệ thống miễn dịch bằng cách căng phồng phổi quá mức. Các bằng chứng ban đầu đã chỉ ra rằng CBD và THC có thể có ích trong việc điều trị những bệnh nhân có phản ứng viêm trong cơ thể đã có khả năng gây bệnh.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào khả năng của các cannabinoid và các terpen nhằm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch mà không ngăn chặn nó. Những phát hiện ban đầu trong một nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi nhà sản xuất terpene Eybna và công ty nghiên cứu và phát triển cần sa CannaSoul Analytics. Cả hai đều đến từ Israel, họ dường như đã chỉ ra rằng sự kết hợp của các tecpen và các cannabinoid được sử dụng có hiệu quả gấp hai lần so với khi sử dụng thuốc chống viêm dexamethasone để giảm viêm từ COVID-19. Nghiên cứu vẫn chưa được thẩm định bình duyệt.

Một phương pháp mới khác hiện đang được nghiên cứu ở Israel là phát triển một phương pháp điều trị tế bào tiềm năng bằng cách sử dụng các túi ngoại bào exosomes và nạp CBD để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mục đích của công nghệ này là “nhắm mục tiêu vào hệ thống thần kinh trung ương và coronavirus COVID-19”. Các túi ngoại bào exosomes được nạp CBD có khả năng cung cấp tương tác hiệp đồng cao của các đặc tính chống viêm bằng cách nhắm cụ thể vào các cơ quan bị tổn thương chẳng hạn như các tế bào phổi đã bị nhiễm trùng.

Có thể làm gì để tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực này?

Nghiên cứu về tiềm năng y tế của cần sa nổi tiếng vì sự phức tạp của các quy trình ứng dụng và khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp cần sa. Ở Úc, việc chỉ sử dụng CBD mà không có hàm lượng THC trong các hoạt động nghiên cứu yêu cầu cơ sở học thuật đó phải xin giấy phép đặc biệt để cho phép họ thu thập và lưu trữ cannabinoid vì nó vẫn là một loại thuốc thuộc Bảng 9 ở đất nước này mặc dù chúng không có đặc tính tác động đến thần kinh.

Đại dịch COVID-19 có thể sẽ tiếp tục trong nhiều tháng nữa; và đây có thể không phải là loại coronavirus mới nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong đời. Do đó, phận sự nằm ở các chính phủ có trách nhiệm làm cho việc nghiên cứu tiềm năng của các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như cần sa, dễ dàng hơn cho các cơ quan nghiên cứu và phòng thí nghiệm tư nhân.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Health Europa | Medicinal cannabis may play a significant role during COVID-19

Continue reading “Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19”

Một bệnh viện tại Israel sẽ bắt đầu thử nghiệm điều trị COVID-19 bằng cần sa y tế

TEL AVIV – Một bệnh viện tại Israel sẽ bắt đầu thử nghiệm điều trị COVID-19 bằng cần sa y tế, được biết đến với đặc tính chống vi rút, như một phần của phương pháp điều trị mới.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu về cannabidiol, một thành phần không gây hiệu ứng tâm lý trong cần sa và thường được biết đến với cái tên CBD. Nó có thể làm chậm sự phát triển của vi rút và giúp ngăn ngừa khả năng chuyển biến phức tạp ở những bệnh nhân với tình trạng nhẹ.

Hàng chục bệnh nhân mắc COVID-19 trong tình trạng nhẹ tại Trung Tâm Y Tế Ichilov ở Tel Aviv dự kiến sẽ được điều trị.

Barak Cohen – bác sĩ gây mê dày dặn kinh nghiệm, người chịu trách nhiệm quản lý phản ứng của vi rút corona tại bệnh viện, nhấn mạnh rằng phương pháp điều trị bằng cách sử dụng “một thành phần được xem là an toàn và không gây nghiện có trong cần sa” sẽ giúp làm giảm các triệu chứng.

Cùng thời điểm đó, các nhà nghiên cứu tại Đại học Tel Aviv đã bắt đầu phát triển một loại thuốc dựa trên CBD mà đã được chứng minh là mang đến hiệu quả chống viêm cho những tế bào phổi bị nhiễm vi rút corona.

Viện Công Nghệ Technion ở Haifa cũng đang tiến hành nghiên cứu để phát triển 2 loại thuốc bổ sung dựa từ các chủng cần sa khác nhau để chống lại loại vi rút này. Loại thuốc đầu tiên sẽ cố gắng làm giảm phản ứng miễn dịch của bệnh nhân trong khi mục đích của loại thuốc thứ hai là làm chậm quá trình phát bệnh bằng cách làm giảm sự biểu hiện của thụ thể, một loại protein cho phép vi rút tiếp nhận và giải phóng các chất ra khỏi tế bào.

“Phòng thí nghiệm của chúng tôi đã được phê duyệt để hoạt động như một phòng thí nghiệm về vi rút corona, và chúng tôi đang tiến hành triển khai hai nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu hiện tại về cần sa”, Giáo sư Dudi Meiri – người hướng dẫn nhóm Technion cho biết.

“Trước hết, chúng tôi sẽ cố gắng xác định các tế bào miễn dịch có khả năng ngăn chặn phản ứng miễn dịch đối với vi rút corona, nguyên nhân gây viêm và bệnh, có trong loài thực vật này. Các phân tử có trong cần sa có khả năng làm giảm phản ứng của hệ miễn dịch mà không gây ức chế hoàn toàn, do đó sẽ tốt hơn so với những loại thuốc kháng viêm chứa steroid, vì chúng sẽ ức chế hoàn toàn hệ miễn dịch”.

Nghiên cứu thứ hai – Meiri sẽ được tiến hành trên thụ thể cho phép vi rút truyền vật liệu di truyền của nó vào tế bào của người và sinh sôi, phát triển.

“Cũng sẽ có một quá trình kiểm tra và đánh giá tác động của các phân tử có trong cần sa trên những phân tử protein”, ông giải thích thêm. Hiện tại, chúng tôi đang đánh giá xem loại phân tử nào trong cần sa có liên quan đến cùng một thụ thể, với mục đích làm giảm biểu hiện của nó để khiến cho vi rút khó xâm nhập vào các tế bào và phát triển”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Breitbart News | Israeli hospital to begin treating coronavirus patients with cannabis

Những trường hợp điều trị chứng tự kỷ bằng cần sa đầy tính thuyết phục

Những bà mẹ Israel này đang đấu tranh để giành được cách thức điều trị duy nhất đem lại hiệu quả cho những đứa con của họ.

Tự kỷ là một hội chứng phức tạp. Với hàng loạt triệu chứng ảnh hưởng đến từng bệnh nhân theo cách thức khác nhau và ở mức độ khác nhau, việc điều trị chưa bao giờ là đơn giản. Bệnh nhân và người bảo trợ của họ thường thử nhiều cách tiếp cận – và chúng cũng thường được kết hợp với nhau: từ những liệu pháp điều chỉnh hành vi và thuốc chống loạn thần đến những chế độ ăn uống đặc biệt, nhưng không hề có một phương cách chữa lành thực sự nào cả. Theo Hiệp hội Tự Kỷ Quốc gia Anh Quốc, “Người tự kỷ nhìn, nghe và cảm nhận thế giới khác biệt với mọi người. Nếu bạn mắc chứng tự kỷ, cũng có nghĩa là bạn sẽ mắc chứng tự kỷ trọn đời; chứng tự kỷ không phải là một trận ốm hay một căn bệnh và do đó không thể chữa khỏi hẳn được. Thông thường mọi người cảm giác rằng ở những người mắc chứng tự kỷ, hội chứng này sẽ là một đặc điểm gắn liền với bản tính của họ”.

Cần sa, ở vai trò một loại thuốc điều trị, cũng phức tạp không kém. Mặc dù chúng ta đã hiểu được khá nhiều về nó, song vẫn còn những điều khác mà các nhà nghiên cứu đang tìm cách để nhận thức rõ về hệ thống endocannabinoid, hay về cách thức mà các hợp chất tìm thấy trong cần sa (không chỉ là THC và CBD) giúp con người chữa lành nhiều loại bệnh tật khác nhau. Cần sa y tế  đã được sử dụng trong điều trị hàng loạt bệnh tật, bao gồm giảm lo âu, điều trị tăng nhãn áp, giảm mức độ và tần suất những cơn co giật ở những người bị động kinh.

Nhiều người cũng đang thấy cần sa (ở dạng này hay dạng khác) có hiệu quả trong việc giảm nhẹ các triệu chứng của nhiều loại bệnh tật tới nay còn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, trong đó có chứng tự kỷ. Nhiều người đã và đang tìm cách tiếp cận cần sa y tế – cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp – và sử dụng nó để điều trị cho những người phải đối mặt với những triệu chứng nghiêm trọng nhất của chứng tự kỷ. Nỗ lực để đặt 2 vấn đề cần sa và tự kỷ vào cùng một bối cảnh sẽ không bao giờ là dễ dàng hay đơn giản cả. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ của những trẻ em tự kỷ đã hết các lựa chọn khác đều mô tả cần sa y tế là một liệu pháp mang tính chất “thay đổi cuộc đời”.

Ba người mẹ đã tập hợp lại cùng nhau qua sự trợ giúp của một nhà nghiên cứu Israel để xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn cầu. Mục đích của họ là học hỏi thêm về cách thức các giống cần sa, liều lượng và cách sử dụng khác nhau có ảnh hưởng như thế nào đến hàng chục bệnh nhân đã sử dụng cần sa (hợp pháp) để điều trị tự kỷ. Họ hướng tới việc cải thiện sự hiểu biết về cách các loại thuốc cần sa này tác động đến nhiều dạng triệu chứng hiện diện ở người mắc chứng tự kỷ, và nhằm có được một quan điểm đúng đắn hơn về cách hướng dẫn mà họ có thể đem lại cho các bậc cha mẹ và nhà bảo trợ đang tìm cách áp dụng những liệu pháp điều trị tự kỷ bằng cần sa y tế.

Trong số những phụ nữ này có Abigail Dar – một công dân Israel chủ trương giúp cho những người mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ làm việc với tổ chức phi lợi nhuận Kvutzat Hashavim (Nhóm Đồng đẳng). Bà đã có những hoạt động nhằm giúp chứng tự kỷ được xếp loại đủ tiêu chuẩn được điều trị bằng cần sa y tế tại Israel. Bà còn là mẹ của Yuval, một người mắc chứng tự kỷ 23 tuổi. “Khi được 16 tuổi, Yuval bắt đầu bị những cơn co giật, và cùng với đó là những hành vi khiến tôi phải nghĩ tới việc sẽ tiếp tục cuộc sống và chăm sóc đứa con của mình hay sẽ bỏ cuộc, phải gửi nó vào bệnh viện hay những cơ sở từ thiện. Gia đình tôi đã trải qua 6 năm khủng khiếp – khi đó tôi đã phải trông cậy vào chồng và 2 đứa con trai khác của tôi như những ‘vệ sĩ’, bởi chẳng thể biết lúc nào Yuval sẽ nổi những cơn giận dữ phá phách”. Bà kể với tôi về nỗi khổ sở và mặc cảm tội lỗi mà Yuval cảm thấy sau khi cậu ấy gây ra những hành động như vậy –  rằng những lúc ấy Yuval không còn là bản thân của cậu ấy nữa.

Tháng 10 năm 2015, Dar cuối cùng cũng tiếp cận được với cần sa y tế để điều trị cho Yuval sau khi bà phải van nài người ta “rủ lòng thương”, bởi chứng tự kỷ vẫn chưa đạt đủ tiêu chuẩn để được điều trị bằng cần sa tại Israel. Kể từ đó, Dar cho biết cuộc sống thường nhật của bà đã có chuyển biến rõ rệt, chỉ còn một vài cơn bạo lực bột phát trong vòng 18 tháng từ khi Yuval bắt đầu được điều trị. “Thằng bé bình tĩnh hơn nhiều, hay cười, biết chú ý vào giao tiếp”, bà nói.

Dar cho biết rằng bà đã phải tự xác định những giống cần sa và những phương pháp tốt nhất để sử dụng mà không nhận được nhiều hướng dẫn. Nhưng bà cũng đã có một điểm khởi đầu: Tại Israel, người ta đã điều trị động kinh – vấn đề y tế thường xuất hiện ở những người bị chứng tự kỷ nặng – bằng những giống cần sa giàu CBD vốn được cho là an toàn hơn. Quan điểm là CBD không gây tác động thần kinh theo cùng cách thức với THC, do đó nó ít “nguy cơ” hơn đối với những bệnh nhân gặp khó khăn về giao tiếp.

Sau một quá trình mày mò điều trị đầy gian nan, Yuval đã giảm nhẹ được các triệu chứng thông qua việc áp dụng cân bằng về giống cần sa, liều lượng và thời gian sử dụng. Tuy đạt được những thành công như vậy, Dar nhiều lúc vẫn cần có những thay đổi về liều lượng cũng như giống cần sa bởi Yuval theo thời gian cũng bị “lờn thuốc”.

Đầu năm 2016, câu chuyện của Dar đã được đưa lên một chương trình tin tức tiếng Hebrew. Sau khi câu chuyện lên sóng, hàng chục bậc cha mẹ đã liên hệ với mong muốn được hướng dẫn. “Chúng tôi bắt đầu thu thập dữ liệu và đã tiếp cận được với hơn 100 người”, bà nói. Các gia đình khác cũng bắt đầu nhận thấy những lợi ích tương tự. “Mỗi ngày trôi qua đều có một người cha hoặc mẹ kể với tôi về những thay đổi ngoạn mục – như ‘cháu ngủ được trọn cả đêm, không nổi cáu phá phách vô cớ, đã thôi không còn tự đánh và cắn bản thân nữa, biết trả lời ‘có’ với những câu hỏi của tôi”, Dar chia sẻ. “Có lẽ đó chỉ là những thứ nhỏ nhặt hay không đáng kể đến đối với những người cha mẹ thông thường, nhưng lại là một nguồn khuây khỏa to lớn đối với chúng tôi và con cái của chúng tôi”.

Sharon Imberman, một trong những cộng tác viên của Dar trong dự án thu thập dữ liệu, cũng đang vận động cho cần sa y tế ở Israel. Bản thân bà đã và đang hướng dẫn cho hơn 300 gia đình đang sử dụng cần sa để điều trị cho những trẻ em bị co giật. Con trai của Imberman là Bar – cậu mắc chứng tự kỷ và cả chứng động kinh kháng thuốc. Imberman kể với tôi rằng Bar lúc trước đã phải ngủ cùng phòng với bố mẹ để đề phòng xảy ra những cơn co giật, nhưng sau khi được thử sử dụng dầu cần sa, giờ đây hàng đêm cậu đã có thể ngủ trọn giấc một mình. Imberman ước tính rằng bổ sung máy hóa hơi bên cạnh việc sử dụng dầu đã giúp giảm nhẹ những triệu chứng của Bar tới khoảng 80%.

Nhưng Imberman và Dar đều biết rằng họ cần có nhiều nghiên cứu hơn là những bằng chứng chưa được kiểm nghiệm nhằm củng cố những khẳng định của họ – từ đó giành được một chứng nhận đủ tiêu chuẩn điều trị – tức là được phép tiếp cận hợp pháp cần sa y tế. Rất may, Israel là một trong những quốc gia dẫn đầu trong nghiên cứu về cần sa y tế, bắt đầu với  công trình cô lập CBD vào năm 1963 và cô lập THC vào năm sau, vì vậy họ đã có vị trí độc nhất trong việc quyết định tìm một nhà nghiên cứu để hợp tác.

Trong cuộc tìm kiếm ấy, Israel đã tìm ra Adi Aran, người đã có một đề cương nghiên cứu và đã bắt đầu sử dụng dầu cần sa từ các giống hàm lượng CBD cao có nguồn gốc từ nhà canh tác người Israel như một phần của cuộc nghiên cứu tiền lâm sàng. Dar nói với tôi rằng thông qua nhóm trẻ em và người lớn (được tìm thấy nhờ có bác sĩ chuyên khoa tâm thần ban đầu đã đề xuất sử dụng cần sa y tế cho Yuval), “chúng tôi đã thu thập được thêm nhiều thông tin và kiến thức về những gì đã có và không có hiệu quả với những trẻ em mắc các vấn đề về hành vi. Rõ ràng với Sharon [Imberman ] và bản thân tôi rằng các giống hàm lượng CBD cao hoặc “đạt tới 98% CBD” như những gì Bác sĩ Aran chọn đã không định có hiệu quả đối với những người mắc các vấn đề về hành vi. Chúng tôi đã thu được thành công to lớn hơn nhờ vào những giống cần sa khác”.

Như đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Haaretz, các quan chức và các chuyên gia y tế vẫn đều còn do dự khi kê đơn các cannabinoid, “ngay cả sau khi những tính chất gây say của chúng đã được vô hiệu hóa.” Imberman, người góp nhiều công sức trong những hoạt động giúp đỡ các gia đình điều trị cả chứng động kinh và chứng tự kỷ cho con của họ bằng cần sa y tế, cũng nhấn mạnh đến tính cá nhân của mỗi trường hợp, rằng không tồn tại một giống hay một cách chữa trị đơn lẻ mà cần có sự kết hợp.

“Chúng tôi có kiến ​​thức và kinh nghiệm sâu rộng về động kinh, thêm vào đó là hoạt động điều trị, hướng dẫn, và thu thập dữ liệu với hơn 100 trẻ em và người lớn của Israel mắc chứng tự kỷ thể nặng. Điều trị những bệnh nhân này đã khiến chúng tôi thấy rõ rằng trong nhiều trường hợp, các giống hàm lượng CBD cao lại gây ra những kết quả ngược lại, thậm chí còn khiến cho các triệu chứng tồi tệ hơn”, Imberman nói.

Quan ngại về việc những nghiên cứu lâm sàng có thể gây hại hơn là lợi, họ đã quyết định thử tìm cách gây quỹ cần thiết cho một nghiên cứu lâm sàng để tạo ảnh hưởng đến mô hình nghiên cứu và các giống cần sa mà theo kinh nghiệm của họ – sẽ tốt hơn cho sức khỏe về lâu dài của những người tham gia trong cuộc nghiên cứu.

Thế rồi, họ đã tìm đến Mieko Hester-Perez, một người Mỹ ủng hộ cần sa y tế, người đã công khai lên tiếng về việc sử dụng loại thảo dược này để điều trị chứng tự kỷ cho Joey – con trai của cô. Dar đã xem một video trực tuyến năm 2009 của Hester-Perez được phỏng vấn trên chương trình Good Morning America. Cũng trong chương trình đó,  Hester-Perez đã nói rằng một nghiên cứu lâm sàng là cần thiết để đạt được tính hợp pháp của hoạt động điều trị, một điều đã gây nhiều tranh cãi vào thời điểm đó. Hester-Perez là một nhân vật lý tưởng nhằm hỗ trợ mục tiêu của họ và đưa nhu cầu về một nghiên cứu lâm sàng đến với mối quan tâm của quốc tế.

Cuối cùng, ba người phụ nữ này đã không thể kiếm đủ tiền để hỗ trợ cho một nghiên cứu mới, nhưng họ đã bỏ ra riêng một khoản 11.000 đô la để tạo điều kiện cho nghiên cứu trong tương lai. Nhờ nỗ lực của họ, ba người đã gặp được Dedi Meiri, một nhà nghiên cứu Israel tại Phòng thí nghiệm Sinh học Ung thư và Nghiên cứu Cannabinoid, cũng là người đang đi đầu trong việc nghiên cứu về cần sa y tế. Meiri đã thu thập được dữ liệu từ những người điều trị các bệnh khác bằng cần sa, và hiện tại đang tìm đến với hơn 70 người sử dụng cần sa để điều trị chứng tự kỷ ở Israel.

Họ đang hy vọng với sự giúp đỡ của việc gây quỹ để thu thập dữ liệu toàn cầu. Điều này sẽ cho phép họ có được những mẫu thuốc mà người ta đang sử dụng – các giống và các loại thuốc có những khác biệt lớn về cấu tạo, ngay cả trong cùng một nhóm – và theo dõi những kết quả ở những người có nhiều triệu chứng với cùng một căn bệnh (những người mắc cùng một loại bệnh có thể gặp những vấn đề, triệu chứng khác nhau rất nhiều). Từ đó, họ sẽ hướng dẫn tốt hơn cho các cá nhân muốn sử dụng cần sa để điều trị chứng tự kỷ, cũng như cung cấp thông tin cho các nhà nghiên cứu và chỉ ra những hiệu quả cho các chuyên gia y tế và các nhà hoạch định chính sách, và giúp thu hẹp khoảng cách giữa các ca điều trị thành công chưa kiểm chứng và những nghiên cứu lâm sàng chính thức.

Trong khi họ tiếp tục tuyển dụng thêm nhiều người và thu thập thêm nhiều thông tin, Hester-Perez tin rằng những dữ liệu sẽ giúp hỗ trợ các bác sĩ chẩn đoán chứng tự kỷ. “Đây là một trong những lựa chọn điều trị có tính chất phi chính thống và đột phá dành cho các gia đình”, cô nói. “Và nó đang trở thành cách điều trị được lựa chọn – cho dù nhận được hay không nhận được sự  hướng dẫn của các bác sĩ”.

Nguồn: tonic.vice.com

Bài viết được xem nhiều nhất