Chương 14: Hơn sáu mươi năm đàn áp

Năm 1937

Gai dầu đã bị cấm. Theo ước tính, chỉ có khoảng 60.000 người dân Hoa Kỳ hút “cần sa”, nhưng nhờ vào chiến dịch truyền bá thông tin sai lệch của Hearst và Anslinger, hầu như tất cả mọi người dân trên cả nước đều biết đến nó.

Năm 1945

Newsweek báo cáo rằng có hơn 100.000 người hiện đang hút cần sa.

Năm 1967

Hàng triệu người dân Hoa Kỳ thường xuyên và công khai hút lá và hoa của cây gai dầu.

Năm 1977

Hàng chục triệu người hút cần sa một cách thường xuyên, trong đó có nhiều người tự trồng.

Năm 2007

Một phần ba người Mỹ, khoảng hơn 100 triệu dân, có thử qua ít nhất một lần và khoảng 10-20% (25-50 triệu người Mỹ) vẫn chọn mua và hút cần sa một cách thường xuyên, bất chấp việc xét nghiệm nước tiểu và những bộ luật hà khắc hơn.

Trong xuyên suốt lịch sử, người Mỹ đã giữ truyền thống pháp luật rằng không ai có quyền từ bỏ các quyền hợp hiến của một người – và nếu ai đó bị tước đi những biện pháp bảo vệ này, thì người đó đang trở thành một nạn nhân.

Tuy nhiên, vào năm 1989, nếu bạn đăng ký tham gia vào một hoạt động ngoại khóa tại trường hay xin việc làm với mức lương tối thiểu, bạn có thể bị yêu cầu từ bỏ đi quyền riêng tư, bảo vệ khỏi sự tự buộc tội, những yêu cầu theo hiến pháp về cơ sở hợp lý để khám xét và tịch thu, được coi là vô tội cho cho đến khi bị kết tội bởi những người đồng nghiệp của mình, và quyền cơ bản nhất của tất cả mọi người: trách nhiệm của từng cá nhân đối với cuộc sống và ý thức của chính mình.

Đến năm 1995, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố rằng những hành vi xâm phạm quyền riêng tư cá nhân này là đúng theo hiến pháp!.

Vào tháng 11 năm 1996, như đã đề cập trước đó, California đã thông qua đề xuất của người dân trên toàn tiểu bang, giành thắng lợi với 56% số phiếu bầu và đã hợp pháp hóa cần sa y tế tại tiểu bang. Cũng vào thời điểm này, Arizona đã thông qua đề xuất trên toàn tiểu bang (với 65% số phiếu bầu) về cần sa y tế. Tuy nhiên, không giống như luật pháp tại bang California, cơ quan lập pháp và thống đốc của bang Arizona (hiện đã bị luận tội) có thể và đã bác bỏ luật này. Đây là lần đầu tiên cơ quan lập pháp và thống đốc của bang Arizona bác bỏ đề xuất của toàn bang trong suốt 90 năm!

Lực lượng Vũ trang & Nền công nghiệp

Lực lượng Vũ trang cũng như nhiều nhà máy dân sự sẽ cho bạn thôi việc nếu bạn hút cần sa; thậm chí là khi bạn có hút nó 30 ngày trước khi xét nghiệm và ngoài giờ làm việc. Các xét nghiệm này được thực hiện một cách ngẫu nhiên và thường không bao gồm rượu bia, thuốc an thần hay những loại thuốc giảm đau khác. Tuy nhiên, theo OSHA và kết quả bảo hiểm thực tế, cùng với AFL-ClO, rượu chính là thứ có liên quan đến 90-95% các vụ tai nạn xảy ra tại nhà máy, xưởng sản xuất.

Trên thực tế, nhiều cuộc thử nghiệm của Quân đội Hoa Kỳ về tác động của cần sa đối với những binh lính (trong những năm 1950 – 1960) tại Edgewood Arsenal, Maryland và các nơi khác đã cho thấy không hề có sự mất đi động lực hay hiệu suất làm việc sau hai năm hút cần sa (do quân đội tài trợ) với tần suất và liều lượng nặng.

Nghiên cứu này đã được quân đội lặp lại thêm 6 lần nữa và hàng chục lần khác bởi các trường đại học, và đều cho kết quả tương tự (British Indian Hemp Report, Panama/Siler study; Jamaican study, et al.)

Các mỏ đào vàng và kim cương ở Nam Phi đã cho phép và thậm chí là khuyến khích người da đen sử dụng cần sa/ dagga để khiến họ làm việc một cách chăm chỉ hơn.

(U.S. Government Reports, 1956-58-61-63-68-69-70-76.)

Riêng tư cũng là một quyền cơ bản

Nhiều nhóm như NORML, HEMP, ACLU, BACH và Đảng Tự do (chẳng hạn) thấy rằng miễn là quân nhân hay công nhân không hút cần sa trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc trong khoảng thời gian từ 4-6 tiếng trước khi làm nhiệm vụ, đó là việc riêng của họ. Điều này thống nhất với những kết luận của Ủy ban Siler (1933) và Ủy ban Shafer (1972) của Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như báo cáo của LaGuardia (1944), Nghiên cứu Chính phủ Canada (1972), Ủy ban Bang Alaska (1989), Ban cố vấn Nghiên cứu California (1989), tất cả đều cho rằng không nên áp dụng bất kỳ hình phạt nào đối với việc sử dụng cần sa.

Sự không chính xác của xét nghiệm nước tiểu

Xét nghiệm nước tiểu của quân nhân và công nhân nhà máy về việc sử dụng cần sa chỉ chính xác một phần và không cho biết mức độ phê của họ. Chúng chỉ cho bạn biết bạn có hút hay tiếp xúc với khói cần sa hay đã từng sử dụng dầu hạt gai dầu hay bất kỳ thực phẩm nào từ gai dầu trong 30 ngày qua. Cho dù bạn đã hút hay ăn nó trong một giờ trước hay 30 ngày trước – kết quả xét nghiệm đều như nhau: dương tính.

Bác sĩ John P. Morgan đã nói trên Tạp chí High Times vào tháng 2 năm 1989 (và đến 2006 ông vẫn giữ quan điểm như thế), “Những xét nghiệm này còn lâu mới đáng tin cậy”. Tỷ lệ dương tính giả, âm tính giả cao, v.v. là xảy ra một cách phổ biến. và hơn hết là những công ty xét nghiệm này không dựa theo tiêu chuẩn nào ngoài tiêu chuẩn của riêng họ”.

Với 20-50 nanogam (phần tỷ gam) trên mỗi mililit THC Carboxy Acid (chất chuyển hóa của THC), các xét nghiệm này có thể đưa ra kết quả dương tính hoặc âm tính – nhưng kết quả đo được từ phần này của thang đo được coi là vô nghĩa. Đối với những con mắt của người chưa qua đào tạo, bất kỳ dấu hiệu dương tính nào cũng sẽ đưa ra kết quả cảnh báo. Hầu hết những người thực hiện xét nghiệm đều chưa được đào tạo và chứng nhận. Tuy nhiên, quyết định thuê người, sa thải, giam giữ, xét nghiệm lại hay bắt đầu điều trị chứng lạm dụng cần sa được đưa ra ngay lúc đó.

“Tôi tin rằng xu hướng đọc kết quả xét nghiệm EMIT [xét nghiệm nước tiểu cho các chất chuyển hóa THC] dưới giới hạn phát hiện là một trong những lý do quan trọng khiến xét nghiệm này thường không được chấp nhận trong các bài báo cáo đã được xuất bản”, Tiến sĩ Morgan cho biết.

Năm 1985, lần đầu tiên tại Milton, Wisconsin, học sinh trung học được yêu cầu phải thực hiện xét nghiệm nước tiểu hàng tuần để kiểm tra xem chúng có hút cần hay không. Những tổ chức địa phương “Gia đình chống cần sa” đã yêu cầu xét nghiệm này, nhưng không xét nghiệm cho rượu bia, thuốc giảm đau hay các loại thuốc độc hại khác.

Hàng trăm cộng đồng và trường trung học trong cả nước đang chờ đợi kết quả của những thách thức hiến pháp tại Milton vào năm 1988 trước khi thực hiện các chương trình xét nghiệm tương tự tại những trường học trong các quận của chính họ. Do quyết định này có lợi cho Milton, việc thực hiện xét nghiệm đối với những học sinh trung học tham gia hoạt động ngoại khóa đã được áp dụng rộng rãi và tiếp tục trên khắp Hoa Kỳ vào năm 2007.

Chẳng hạn, ở Oregon, việc xét nghiệm đối với các vận động viên trung học đã lan rộng theo yêu cầu của tòa án cho bất kỳ các hoạt động ngoại khóa nào. Các thành viên trong ban nhạc và những thiếu nữ “majorette” – thậm chí là các thành viên trong nhóm tranh luận cần sa – hiện tại cũng có thể bị kiểm tra theo ý muốn tại tất cả các bang ngoại trừ California, nơi mà học sinh trung học, kể từ năm 1996, được bác sĩ khuyến nghị và thừa nhận việc sử dụng cần sa y tế.

(NORML reports, High Times, ABC, NBC, CBS News, and L.A. Times, 1981-1998, Oregonian, October 23, 1989.)

Bóng chày & Babe

Cựu ủy viên Bóng chày Peter V. Ueberroth lần đầu ra lệnh cho tất cả nhân viên vào năm 1985, ngoại trừ các tuyển thủ liên hiệp, đều phải nộp kết quả xét nghiệm nước tiểu này. Từ người chủ cho đến những người bán đậu phộng quanh các sự kiện thể thao cho tới những đứa trẻ trông coi vợt và các dụng cụ bóng chày khác, là điều bắt buộc để được tuyển dụng. Đến năm 1990, nó đã được đưa vào trong tất cả các hợp đồng, bao gồm cả những tuyển thủ bóng chày.

Giờ đây, kể từ tháng 11 năm 1996, một tuyển thủ bóng chày chuyên nghiệp (hay bất kỳ tuyển thủ thể thao nào khác) tại California có thể tận dụng cần sa như một loại thuốc/ dược phẩm và vẫn có thể tiếp tục thi đấu chuyên nghiệp.

Cho dù bạn có hút cần sa cách đây 1 giờ hay 30 ngày trước, thì kết quả xét nghiệm nước tiểu đều như nhau: dương tính.

Ngoài những câu hỏi về quyền tự do dân sự được nêu lên, có vẻ như người ta đã quên rằng Babe Ruth thường xuyên mời các phóng viên đi cùng với anh trong khi anh ấy uống 12 chai bia trước thềm trận đấu, trong khoảng thời gian cấm rượu bia.

Nhiều tổ chức “tán thành luật cấm rượu bia” và thậm chí cả ủy viên liên đoàn khẩn cầu anh ấy hãy nghĩ tới những đứa trẻ thần tượng anh và dừng việc đó lại, nhưng Babe đã từ chối.

Nếu Peter Ueberroth hay những người cộng sự ông tham gia quản lý bóng chày trong thời kỳ cấm, thì “Sultan của Swat” sẽ bị sa thải trong sự hổ thẹn và hàng triệu trẻ em sẽ không được chơi một cách đáng tự hào trong “Babe Ruth Little Leagues”.

Hàng chục triệu người dân Hoa Kỳ ở độ tuổi trung niên chọn sử dụng cần sa như một loại thuốc tự điều trị hay để thư giãn trong thời gian nghỉ giải lao, và do đó, họ có nguy cơ bị phạt hình sự. Hiệu quả công việc nên là tiêu chí để đánh giá đối với tất cả nhân viên, chứ không phải là những lựa chọn lối sống của từng cá nhân.

Babe Ruths trong lĩnh vực thể thao, Henry Fords trong lĩnh vực công nghiệp, Pink Floyds, Picassos và Louis Armstrongs trong lĩnh vực nghệ thuật, và 1/10 người dân Hoa Kỳ đã trở thành tội phạm – và hàng nghìn người thất nghiệp – vì hút cần sa, thậm chí chỉ đơn thuần là sự giải trí trong không gian riêng tư của chính họ.

Sự nghiệp điện ảnh của Robert Mitchum gần như bị hủy hoại bởi vụ bắt giữ những người sử dụng cần sa (xem trang 102). Thẩm phán Liên bang Douglas Ginsburg đang trên đà được bổ nhiệm vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vào năm 1987 được bị tiết lộ là đã từng hút cỏ trong khi còn là một giáo sư tại trường đại học và tên của ông đã bị rút khỏi đề cử. Tuy nhiên, Thẩm phán Tòa án Tối cao dưới thời George Bush, năm 1991, Clarence Thomas thừa nhận rằng ông đã từng hút cần sa tại trường đại học và đây không phải là vấn đề trong sự xác nhận gây tranh cãi của ông.

Chia cắt cộng đồng… & chia rẽ gia đình

Một bảng quảng cáo ở Ventura, California hiển thị: “Help a friend, send him to jail” – tạm dịch: “Giúp một người bạn bằng cách đưa họ vào ngục tù”. Đây là một ví dụ về những chiến thuật truyền bá thông tin đến người khác trong chiến dịch “không khoan nhượng”, được sử dụng nhằm thực thi đạo luật chống lại những tội phạm hút cần sa mà “không có nạn nhân bị hại”.

Dưới đây là một ví dụ khác trên TV: “Nếu bạn biết ai đó phạm tội, bạn có thể kiếm được tới 1000 đô la”. Người tố cáo sẽ được ẩn danh và không bị yêu cầu ra tòa đối chứng”.* Một người đàn ông trong tù nhận được tấm bưu thiếp nói rằng “Người cung cấp thông tin cho chúng tôi đã nhận được $600 vì đã đưa bạn vào đây”. Crimestoppers”.

*(Crimestoppers, Ventura, California)

Kiểm soát & Tịch thu

Ở vùng nông thôn California – nơi mà việc canh tác cần sa được ủng hộ trong toàn cộng đồng, lực lượng vũ trang CAMP được trang bị kỹ càng, đã tiến vào một khu rừng rậm và phát hiện ra những cây cần sa tầm 8 tháng tuổi tươi tốt, cao 15 foot (4,6 m). Chúng bị đốn hạ, chất thành đống và bị tẩm xăng cùng với lốp cao su. Không được lưu hóa, chúng cháy một cách chậm rãi.

Ở một nơi khác, một phi công lái trực thăng bay vòng qua một khu phố, hướng chiếc camera cảm biến nhiệt vào một ngôi nhà. Anh ấy nói một cách đơn giản rằng “Chúng tôi đang tìm kiếm ánh dương trong nhà”.

“Chúng tôi chỉ nhắm đến những mục tiêu cụ thể”, những ngôi nhà mua đèn trồng trọt hay một số dựa vào một số căn cứ hữu hình khác để nghi ngờ phạm tội “sản xuất chất cấm”.

“Nhìn này, có ánh đèn từ những ngôi nhà kia”. Màn hình cảm ứng nhiệt của anh ta cho thấy nhiệt đang bị rò rỉ từ dưới mái hiên của ngôi nhà.

Tiếp đến, họ nhận được lệnh khám xét, chiếm giữ ngôi nhà theo thủ tục tố tụng dân sự và truy tố người dân theo luật hình sự.

(48 Hrs., CBS television, “Marijuana Growing in California,” October 12, 1989.)

Chính sách chống Mỹ & Tống tiền chính trị

Richard Nixon đã ra lệnh cho FBI giám sát một cách trái phép John Lennon 24 tiếng một ngày trong 6 tháng ròng rã vào năm 1971 chỉ vì Lennon đã tổ chức một buổi hòa nhạc tại Michigan để giải thoát cho một sinh viên (John Sinclair) khỏi 5 năm tù giam vì tội sở hữu hai điếu cần sa.

(L.A. Times, August, 1983.)

Các công ty sản xuất thuốc, dầu, giấy, rượu bia muốn cần sa mãi mãi không được hợp pháp hóa, bất kể có xâm phạm quyền của con người hay chúng ta phải ngồi tù bao nhiêu năm để đảm bảo lợi nhuận cho chính họ.

Những chính trị gia theo chủ nghĩa tự do đã bị điều tra, và chúng tôi tin rằng, đã bị uy hiếp để giữ kín miệng về vấn đề nhạy cảm, hay có nguy cơ bị phanh phui một số hành vi thiếu thận trọng trong quá khứ của chính họ hay các thành viên khác trong gia đình – có thể liên quan đến bê bối tình dục hay ma túy.

Cảnh sát, Bí mật & Uy hiếp

Một vài năm trước, Cảnh sát trưởng của Los Angeles khi đó là Daryl Gates (1978–1992) đã ra lệnh giám sát Nghị viên thành phố Zev Yarslovsky, Luật sư thành phố John Van DeKamp và Thị trưởng Tom Bradley, cùng những người khác. Ông ấy đã theo dõi đời sống tình dục riêng tư của họ trong hơn một năm.

“Somebody spoke and I went into a dream” – tác giả của bài hát này – McCartney, người lên tiếng ủng hộ việc hợp pháp hóa cần sa, đã nhiều lần bị bắt giữ và giam cầm 10 ngày trong chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản. Chính phủ đã hủy bỏ chuyến lưu diễn của ông và cấm ông trình diễn ở quốc gia này, khiến ông mất đi hàng triệu đô la. Dựa vào danh tiếng của mình, ông đã tiếp tục lên tiếng bảo vệ những người hút cần sa.

(L.A. Times, August, 1983.)

  1. Edgar Hoover với tư cách là Giám đốc của FBI, đã làm điều này trong 5 năm với Martin Luther King, Jr. và trong tình trạng “ốm yếu” nhất, đã cố tình đẩy nữ diễn viên Jean Seburg tìm đến sự tự sát bằng những bức thư liên bang khủng khiếp và thông tin cung cấp cho các tờ báo lá cải: những lần mang thai và những cuộc hẹn hò riêng tư với người da đen. Trên thực tế, bằng cách sử dụng FBI, Hoover đã quấy rối các mục tiêu đã được lựa chọn trong 20 năm chỉ vì quyền công dân của họ. Cựu Giám đốc FBI và cũng là người giám sát trực tiếp của DEA, William Webster đã trả lời các câu hỏi vào năm 1985 về việc phung phí 50% (500 triệu đô la) số tiền của Cục phòng chống Ma túy Liên bang để đối phó với cần sa theo cách này: “Oh, cần sa là một chất cực kỳ nguy hiểm và bằng chứng sẽ được gửi đến [đề cập đến các nghiên cứu về não và chất chuyển hóa hoàn toàn không có uy tín của Health, Nahas].

Sau đó Webster đã yêu cầu ngân sách nhiều hơn và nhiều quyền hạn hơn để ngăn chặn cần sa. (“Nightwatch,” CBS, January 1, 1985.) Và tất cả những người kế nhiệm của DEA và người đứng đầu của Văn phòng Quốc gia về Chống ma túy (Drug Czar) đều yêu cầu gia tăng ngân sách cho đến tận năm 2007.

Năm 2006, ngân sách của DEA là gần 2,5 tỷ đô la và vẫn đang tăng lên.

Sự sỉ nhục công cộng

Những nghệ sĩ giải trí bị bắt gặp sử dụng cần sa phải chối bay chối biến kiểu “Galileo” để tránh bị đi tù hay giữ lại các hợp đồng truyền hình, chuyển nhượng, hay các hợp đồng hộp đêm, v.v. Một số đã phải lên truyền hình và phản bác cần sa để được ra tù (chẳng hạn như Paul và Mary, David Crosby, và nữ diễn viên Linda Carter). Tòa án và những nhà lập pháp của chúng ta đã bán rẻ Tuyên ngôn “đảm bảo” Nhân quyền của chúng ta để duy trì một thế giới không có cần sa.

“Đừng nghi ngờ hàng xóm của bạn, hãy đưa họ vào tròng”. Bất kỳ tin đồn nào đều sẽ được ghi nhận. Điều đó khiến chúng tôi nổi loạn như những đứa trẻ – Bóng ma ám ảnh của Đức Quốc xã và Quân đội yêu cầu tất cả mọi người theo dõi và tố giác lẫn nhau; Cảnh sát ngầm của Stalin bắt người dân đi trong đêm để tiêm thuốc gây mê và điều tra thông tin; một chính phủ truyền bá những lời dối trá và tạo ra một nhà nước cảnh sát – giờ đây đã trở thành hiện thực ngày thường của người dân Hoa Kỳ.

Và những ai dám chống đối lại làn sóng đàn áp sẽ phải đối mặt với viễn cảnh tài chính điêu tàn.

Tịch thu: Luật & Trật tự phong kiến

Khi chính phủ liên bang tịch thu hàng loạt xe ô tô, tàu thuyền, tiền bạc, bất động sản và các tài sản cá nhân khác, các thủ tục tố tụng sẽ được thực hiện dựa trên các luật có nguồn gốc từ sự mê tín thời Trung Cổ.

Thông luật Anh quốc thời Trung Cổ quy định về việc tịch thu bất kỳ thứ gì có thể gây ra cái chết cho một người. Được biết đến như “vật bị tước đoạt”, chẳng hạn như một loại vũ khí hay kéo xe bò, bị nhân cách hóa và bị tuyên bố là vật ô uế hay xấu xa, và bị tước đoạt cho nhà Vua.

Những thủ tục tịch thu tài sản hiện nay (đối với đồ vật hơn là con người) là những vụ kiện tụng dân sự đối với chính tài sản của họ. Dựa trên sự tương tự như “vật bị tước đoạt”, một sự “hư cấu nhân cách hóa” hợp pháp, tuyên bố tài sản là bị cáo. Nó bị coi là có tội và bị lên án, như thể nó mang một nhân cách – và việc phạm tội hay vô tội của chủ sở hữu là không có liên quan.

Bằng cách gắn mác dân sự cho những thủ tục tố tụng tịch thu, chính phủ đã bỏ qua gần như tất cả các quyền bảo vệ mà Hiến pháp đề ra dành cho người dân. Không có sự đảm bảo về quyền nào có luật sư biện hộ trong Tu chính án thứ 6. Sự vô tội chỉ được chứng minh cho đến khi phán quyết có tội bị đảo ngược. Mỗi một vi phạm quyền hiến pháp được sử dụng sau đó để làm cơ sở cho việc xóa bỏ đi một quyền khác.

Việc vi phạm tiêu chuẩn của quy trình tố tụng “vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội” trong Tu chính án thứ 5 được sử dụng để hủy bỏ lệnh cấm bất trùng khả tố. Ngay cả việc miễn tố cho các cáo buộc hình sự mà việc tịch thu dựa vào cũng không ngăn cản được việc xét xử lại các tình tiết tương tự, bởi vì, mặc dù chính phủ không thể chứng minh là ai đó phạm tội, nhưng tại phiên tòa thứ hai, bị cáo buộc phải cung cấp bằng chứng vô tội của mình.

Tòa án Tối cao cho rằng việc tịch thu tài sản từ một người hoàn toàn vô tội và không sử dụng cẩu thả tài sản của mình là đúng với hiến pháp. Những tòa án cấp dưới chấp nhận lập luận của các công tố viên rằng nếu có thể chấp nhận việc tịch thu tài sản, thì các biện pháp bảo vệ hợp hiến có thể không được áp dụng cho bất kỳ ai phạm tội dù chỉ là một tội nhẹ về ma túy.

Không giống với các vụ kiện tụng dân sự giữa các cá nhân, chính phủ có quyền miễn nhiễm với các vụ tố tụng ngược. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực vô hạn của mình để liên tục hối thúc bồi thẩm viên rằng bị cáo không đưa ra được chứng cứ có lợi cho mình.

Luật lệ tịch thu do Vương Quyền Anh áp đặt đã khiến cho những nhà sáng lập quốc gia của chúng tôi ngăn cấm lệnh tước quyền công dân và và tịch thu tài sản trong điều đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ. Nội dung chính của Hiến pháp cũng cấm việc tịch thu tài sản đối với tội phản quốc. Quốc hội đầu tiên đã thông qua quy chế, và vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay (luật) nêu rõ rằng “Không có sự tuyên án hay phán quyết nào có thể tham nhũng trên xương máu hay tài sản bị tịch thu”. Tuy nhiên, những người Hoa Kỳ sơ khai đã thực hiện các thủ tục chiếm giữ theo luật Hải quân và Hàng hải để bắt giữ tàu thuyền của kẻ thù trên biển và thực thi nghĩa vụ nộp thuế hải quan.

Mãi cho đến khi cuộc Nội chiến bùng nổ, các thủ tục hải quan này mới được thay đổi một cách hoàn toàn. Đạo luật Tịch thu ngày 17 tháng 7 năm 1862 tuyên bố tất cả tài sản thuộc về các sĩ quan (thuộc phe ly khai với Hoa Kỳ gây ra cuộc nội chiến) hay những người viện trợ cho phe nổi loạn có thể bị thu hồi lại. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ cho rằng nếu đây là hành động thực thi Đạo luật War Powers của Chính phủ và chỉ được áp dụng đối với kẻ thù, thì nó được cho phép theo hiến pháp để đảm bảo việc chấm dứt chiến tranh một cách nhanh chóng.

Hiện nay, niềm khao khát của “Cuộc chiến chống ma túy” đã khiến Quốc hội một lần nữa sử dụng các thủ tục tố tụng tịch thu tài sản để đưa ra hình phạt mà không phạm tới các biện pháp bảo vệ theo Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền. Vickie Linker – người có chồng bị phạt 2 năm tù giam vì tội sử dụng cần sa, nói rằng: “Chúng ta phải cứu lấy Hiến pháp của chính mình. Chúng tôi nắm giữ sự thật”.

Sự đánh bẫy, Sự không khoan nhượng & Thiếu hiểu biết

Khi dường như không đủ lượng người phạm tội, DEA và các trụ sở cảnh sát thường sử dụng các biện pháp dụ dỗ để khiến những người không bị tình nghi hay phạm tội cũng trở thành tội phạm. Các đặc vụ của Chính phủ bị bắt gặp hết lần này đến lần khác có hành động khiêu khích và tham gia buôn lậu và buôn bán ma túy.*

*High Witness News department, High Times magazine; “Inside the DEA,” Dale Geiringer, Reason magazine, December 1986; Christic Institute “La Penca” lawsuit; DeLorean cocaine trial testimony and verdict of innocence; Playboy magazine, etc.

Nỗi sợ hãi ngày càng gia tăng của công chúng đã khiến cho ngân sách của “Cuộc chiến chống ma túy” tăng lên (một cách nói để chỉ cuộc chiến chống lại những người lựa chọn sử dụng một số chất cấm) và sức ép chính trị cho phép sử dụng những phương thức trái với hiến pháp để thực thi luật pháp một cách hà khắc hơn.

Trong một phát biểu vào tháng 10 năm 1989, tại thành phố Louisville, KY, kẻ cuồng loạn chống Ma túy, một kẻ nghiện rượu và thuốc lá là William Bennett* đã nói với cảnh sát trưởng của tiểu bang  rằng hút cần sa khiến người ta trở nên ngu muội.

*Đây cũng chính là người đã giúp xây dựng khoản tài trợ trị giá 2,9 triệu đô la cho Vệ binh Quốc gia Texas để các đặc vụ ngụy trang thành xương rồng để thực hiện tuần tra biên giới Mexico. Chính những đặc vụ trong đơn vị Vệ binh Quốc gia này sau đó đã bắn chết một người chăn cừu Mexico gốc Mỹ trẻ tuổi khi cho rằng anh ấy là một người nhập cư bất hợp pháp.

Ông ấy đã không đưa ra bất kỳ chứng cứ nào, và mặc dù ma túy đá không phải là một vấn đề to tát tại Kentucky, nhưng tuyên bố rằng cần có nhiều ngân sách hơn cho cuộc chiến chống ma túy vì mối nguy hiểm mới từ cần sa – là một sự ngu dốt!

Bennett lấy tinh thần bằng một ly rượu gin tonic vào một buổi sáng muộn vào tháng 12 năm 1989, khi ông cố truyền bá thông điệp tương tự về chống cần sa cho các đại diện của ngành công nghiệp truyền thông và điện ảnh tại Beverly Hills, CA.

(High Times, February, 1990. See “Booze Brunch” in Appendix.)

PDFA: Những lời nói dối bị che đậy sau bộ mặt hào nhoáng

Gần đây là sự xuất hiện của tổ chức PDFA (Partnership for a Drug Free America, hay tổ chức Đồng hành cho một nước Mỹ không Ma túy) trên các phương tiện truyền thông. PDFA, với sự tài trợ chủ yếu từ các công ty quảng cáo và truyền thông, cung cấp (miễn phí trên tất cả các phương tiện truyền thông và báo chí) những dịch vụ quảng cáo công cộng bắt mắt chủ yếu để chống lại cần sa.

Ngoài việc tung ra những câu chuyện vô nghĩa, họ còn làm những quảng cáo chẳng hạn như có hình hiển thị một chiếc chảo (“Đây là ma túy”) mà trên đó có một quả trứng đang rán (“Đây là não của bạn. Hiểu chứ?”). PDFA đã nói dối một cách trắng trợn trên các quảng cáo của họ.

Trong một quảng cáo khác, những mảnh tàu tỏa vỡ vụn được hiển thị. Giờ đây, tất cả mọi người đều đồng ý rằng không một ai nên cố gắng điều khiển tàu hỏa khi đang sử dụng cần sa. Rồi một giọng nói vang lên rằng bất kỳ ai nói với bạn rằng “cần sa là vô hại” đều đang nói dối, bởi vì vợ của anh ấy đã chết trong một vụ tai nạn tàu hỏa do cần sa gây ra. Điều này mâu thuẫn với lời khai trực tiếp của một kỹ sư chịu trách nhiệm về thảm họa này rằng: “tai nạn này không phải do cần sa gây nên”. Và họ cố tình phớt lờ việc anh ấy thừa nhận có uống rượu, ăn uống, xem tivi, nói chung là không chú tâm vào công việc của mình để rồi làm kẹt thiết bị an toàn của tàu trước khi tai nạn xảy ra. Tuy nhiên, trong nhiều năm, PDFA đã mô tả vụ tai nạn tàu hỏa này là do cần sa, mặc dù người kỹ sư này đã say rượu một cách hợp pháp và đã bị tước mất giấy phép lái xe ô tô sáu lần, bao gồm cả 1 lần vĩnh viễn vì tội lái xe trong tình trạng say xỉn vào ba năm trước đó.

Trong một quảng cáo khác, hình ảnh buồn bã của một cặp vợ chồng nghĩ rằng họ không thể con vì người chồng thường xuyên hút cần sa. Đây là một sự mâu thuẫn trực tiếp đến cả những bằng chứng lâm sàng được nghiên cứu về cần sa trong gần một thế kỷ cùng với kinh nghiệm cá nhân của hàng triệu người dân Hoa Kỳ đã từng hút cần sa và sinh ra những đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh.

Và trong một quảng cáo khác nữa, nhóm này đã quá ngạo mạn trong việc đưa ra những lời nói dối nên cuối cùng đã gặp rắc rối. Quảng cáo hiển thị hai điện não đồ và được cho là điện não đồ của một đứa bé 14 tuổi có “sử dụng cần sa”.

Như bị xúc phạm, Nhà nghiên cứu – Tiến sĩ Donald Blum từ Trung tâm Nghiên cứu Thần kinh học tại UCLA đã giận dữ nói với kênh truyền hình KABC-TV (Los Angeles) vào ngày 2 tháng 11 năm 1989 rằng thực tế đó là điện não đồ của một người đang ngủ sâu – hoặc đang bị hôn mê.

Ông ấy nói rằng ông ấy và những nhà nghiên cứu khác trước đây đã từng phàn nàn với PDFA và nói thêm rằng điện não đồ của người sử dụng cần sa rất khác biệt và có tính đặc trưng riêng, nhờ vào nhiều năm nghiên cứu tác động của cần sa lên não bộ.

Thậm chí sau những lời bác bỏ công khai này, kênh KABC-TV và PDFA mất nhiều tuần để giải quyết vấn đề và chưa hề có lời xin lỗi hay động thái rút lại những hành vi dối trá này. Mặc dù đã bị tòa án yêu cầu chấm dứt, nhưng PDFA vẫn hiển thị quảng cáo này trên hàng trăm kênh truyền hình trên khắp Hoa Kỳ trong một thập kỷ qua.*

*Các nhóm bao gồm American Hemp Council, the Family Council on Drug Awareness and Help End Marijuana Prohibition (HEMP) đã quyết định gia tăng sức ép của họ để vạch trần những lời nói dối của PDFA và loại bỏ những lời xuyên tạc của họ trên sóng truyền hình hoặc tốt hơn hết là thay thế chúng bằng những thông tin chính xác về việc sử dụng gai dầu trong y tế, xã hội và thương mại.

Có lẽ một quảng cáo thích hợp hơn để PDFA truyền bá và các kênh truyền thông sẽ chạy hiển thị là một cái chảo (“Đây là PDFA”) và một quả trứng rán (“Còn đây là sự thật”).

DARE: Cảnh sát tuyên truyền

Chương trình DARE (Drug Abuse Resistance Education, hay Giáo dục về lạm dụng Ma túy), một chương trình tầm cỡ quốc gia được khởi xướng vào năm 1983 bởi Cảnh sát trưởng của Los Angeles – Daryl Gates, đã trở thành một công cụ để tẩy não công chúng về cây gai dầu.

Thông thường, phát ngôn viên của sở cảnh sát sẽ thực hiện một khóa học kéo dài 17 tuần tại một trường tiểu học ở địa phương để thúc đẩy hành vi cá nhân mang tính trách nhiệm của những người trẻ tuổi trong khi cung cấp cho họ những thông tin xuyên tạc và những lời nói dối trắng trợn về cần sa.

Hầu hết các khóa học không liên quan đến vấn đề ma túy, mà là đưa ra sự lựa chọn về cách hành động khi có cơ hội và gây áp lực đối với các hành vi uống rượu bia, ăn cắp, nói dối, vi phạm pháp luật, v.v. Tuy nhiên, bản chất tốt đẹp của chương trình để hướng tới những hành động tốt đẹp đã bị phá hoại bởi sự dối trá và lời nói bóng gió về tác động của cần sa và người sử dụng chúng.*

*Trong một cuộc phỏng vấn, người hướng dẫn chính của chương trình DARE tại bang L.A., Sgt. Domagalski, đã cung cấp thông tin về chương trình và đưa ra những tuyên bố vô căn cứ – và không đúng sự thật – khi nói rằng cần sa dẫn đến heroin, “Chàng trai ở bên kia đường hay nhà bên đã và đang hút cần sa trong nhiều năm và dường như không có tác động xấu nào đối với anh ấy cả. Nhưng thật sự thì có thứ gì đó không đúng, mặc dù nó có thể không được rõ ràng”. Và nữa: “Những người ở thập niên 60 từng hút cần sa và nghĩ rằng không có gì sai trái cả. Bây giờ thì cần sa bị phun thuốc – và họ cũng không quan tâm đến việc chúng bị phun thuốc gì nữa. Nhưng những bậc phụ huynh lại không biết điều này. Họ có tất cả thông tin của chúng vào những năm 60 và họ không quan tâm đến thông tin mới mẻ này.”

(Downtown News, July 10, 1989. Xem chương 15, “Debunking” for the facts on his “new information.”)

Vào năm 2007, DARE vẫn còn có ý định tuyên truyền những lời nói dối này cho con em chúng ta và đe dọa bất kỳ cộng động nào dám yêu cầu DARE ngừng hay chấm dứt hoạt động ở những trường học thuộc quận của họ. Tuy nhiên, vào năm 1977, thành phố Oakland, California đã rút khỏi chương trình DARE và cho đến nay không phải chịu hậu quả gì.

Là thế này, theo các giáo viên tham gia buổi học,* viên cảnh sát sẽ nhấn mạnh “Tôi không thể nói với bạn rằng hút cần sa sẽ gây tổn thương đến não bộ, bởi vì bạn biết đấy, những người hút cần trông có vẻ khá bình thường. Nhưng tổn thương não bộ chính là những gì mà nó gây ra. Chỉ là bạn chưa thể thấy điều đó mà thôi”.

*Một số giáo viên mà chúng tôi trò chuyện cảm thấy không thoải mái khi chính họ biết kết quả thực tế là thế nào, hoặc đã từng sử dụng cần sa và biết ảnh hưởng của nó, nhưng không thể công khai nói lên trường hợp của họ vì sợ sẽ bị xét nghiệm nước tiểu hoặc bị sa thải.

Không có bằng chứng hỗ trợ nào được đưa ra sau đó, và các tài liệu được gửi về nhà cho những đứa trẻ (và có khả năng được các bậc phụ huynh có hiểu biết về cần sa xem qua) có xu hướng cân bằng hơn, mặc dù nó cũng đề cập tới “những nghiên cứu” bí ẩn cho thấy sự nguy hiểm của cần sa.

Nhưng xuyên suốt khóa học, viên cảnh sát đều đề cập đến những tổn thương phổi, tổn thương não bộ, vô sinh và những tuyên bố vô căn cứ khác về ảnh hưởng và tác hại chết người của cần sa.

Hay họ báo cáo các nghiên cứu về nguy cơ tim-phổi của việc sử dụng chất cocaine, sau đó đề cập đến việc hút cần sa – không có gì liên quan ngoại trừ ngữ cảnh. Hay viên cảnh sát “có thiện chí” kể về những giai thoại của những người mà anh ta biết “đã bắt đầu” sử dụng cần sa và cuối cùng đã hủy hoại cuộc đời họ bằng ma túy dạng nặng, phạm tội và suy đồi; sau đó trộn lẫn cần sa với những loại ma túy nguy hiểm và mô tả cách thức các thanh niên thiếu niên hoặc cảnh sát viên bị giết chết bởi những tên tội phạm tuyệt vọng, nghiện ma túy này.

Sau đó viên cảnh sát khuyến khích các học sinh “giúp đỡ” bạn bè và những thành viên trong gia đình đang sử dụng cần sa bằng cách trở thành người cung cấp thông tin cho cảnh sát. Những lời nói dối gián tiếp bóng gió và mang đầy ngụ ý này được đưa được ra một cách có tính toán nhằm để lại ấn tượng mạnh mẽ và hằn sâu trong tiềm thức mà không dựa vào bất kỳ nghiên cứu nào hay các nguồn thông tin khách quan khác – chỉ là một hình ảnh không rõ ràng và kéo dài hằn trong tâm trí.

Điều khiến cho chương trình DARE trở nên đặc biệt nguy hiểm là nó cung cấp một số thông tin chính xác và có giá trị thực tiễn cho giới trẻ, nhưng lại làm giảm đi sự hiệu quả của chính chương trình này và văn khố quốc gia bằng cách sử dụng những chiến thuật thiếu trách nhiệm và bẩn thỉu này.

Nếu những người đứng đầu của DARE muốn những học sinh này có hành vi có trách nhiệm, thì họ cũng phải hành động một cách có trách nhiệm. Nếu họ có những thông tin về cần sa bị che giấu đối với công chúng, hãy để họ xem chúng. Nhưng, tính đến hiện nay, chưa có tổ chức DARE nào dám đứng ra tranh luận với bất kỳ nhóm vận động hợp pháp hóa cần sa* cũng như đưa tài liệu của họ vào trong chương trình này.

*Kể từ năm 1989, Tổ chức Help End Marijuana Prohibition (HEMP) và Business Alliance for Commerce in Hemp (BACH) đã đưa ra những thách thức dài hạn để tranh luận một cách công khai với bất kỳ đại diện nào của tổ chức DARE tại khu vực Los Angeles. Những nhóm này cũng đã đề nghị cung cấp tư liệu miễn phí và chính xác về cần sa cho DARE sử dụng vào tháng 7 năm 1998 nhưng không nhận được phản hồi.

Truyền thông vô cảm

Mặc dù các phương tiện truyền thông đã đưa ra lý do và thực tế vào cuộc tranh luận về cần sa một cách mạnh mẽ vào những năm 1960 và 1970, nhưng phương tiện truyền thông quốc gia hầu như không phân biệt được lệnh cấm cần sa với “cuộc chiến chống ma túy” điên loạn.

Các nhà hoạt động vì cây gai dầu đã bị phớt lờ. Các sự kiện của họ bị kiểm duyệt và loại khỏi danh sách – thậm chí ngay cả các quảng cáo về sự kiện (có trả tiền) hay các sản phẩm hợp pháp không phải dạng hút từ gai dầu cũng đã bị các kênh tin tức từ chối. Điều gì đã xảy ra với việc kiểm chứng thực tế?

Thay vì đóng vai trò là cơ quan giám sát của chính phủ và người giữ lòng tin của công chúng, các nhóm doanh nghiệp này tự xem mình là công cụ tạo có lợi để tạo ra “sự đồng thuận” về chính sách quốc gia.

Theo các nhóm như Fairness and Accuracy In Reporting (FAIR) và các nhà nghiên cứu Ben Bakdikian và Michael Parenti, các nhóm doanh nghiệp này xác định bảo vệ “lợi ích quốc gia” – thường được hiểu là những lợi ích về tài chính và chương trình nghị sự về chính trị của riêng họ. Nên nhớ rằng nhiều nhà xuất bản lớn nhất quốc gia có cổ phần trực tiếp trong các công ty sản xuất giấy, dược phẩm và hóa dầu, v.v. là một trong những công ty quảng cáo chủ chốt trong giới truyền thông.

Trong một bài báo được đăng trên Tạp chí L.A. Times vào ngày 7 tháng 5 năm 1989 với tiêu đề “Nothing Works” (và được lặp lại trên hàng trăm tạp chí, bao gồm cả Time và Newsweek), Stanley Meiseler than vãn về vấn đề mà các trường học phải đối mặt trong các chương trình giáo dục về ma túy và vô tình lộ ra những giả định và thành kiến của các phương tiện truyền thông này:

“Các nhà phê bình tin rằng một số chương trình giáo dục đã bị tê liệt do phóng đại thái quá sự nguy hiểm của ma túy. Các hiệu trưởng và giáo viên, bị các cơ quan thành phố theo dõi một cách chặt chẽ, cảm thấy bị áp lực khi không dạy học sinh rằng cần sa mặc dù có hại,* nhưng ít gây nghiện hơn thuốc lá…

Việc không thừa nhận những thông tin đó có thể khiến cho các chương trình của trường học mất đi uy tín. Nhưng nhiều chương trình mang tính trung thực hơn có thể còn có hại hơn (được nhấn mạnh thêm).

Tác hại mà Meiseler dự đoán là sự gia tăng về việc tiêu thụ cần sa khi mọi người biết được những lợi ích về sức khỏe và việc thiếu đi bằng chứng chứng minh những rủi ro về thể chất và tâm lý mà nó mang lại. Nhiều người nói rằng họ thích cần sa (dường như không cần quảng cáo) hơn rượu bia và thuốc lá, những thứ mà đã được chi rất nhiều tiền cho việc quảng cáo.

*Không có nghiên cứu cụ thể nào cho thấy tác hại của cần sa được trích dẫn trong bài báo. Trên thực tế, cần sa gần như không được đề cập tới ngoại trừ tài liệu tham khảo này và có nhiều doanh nghiệp báo cáo một số thành công trong việc “phá vỡ sự thuộc vào cần sa và rượu bia dạng nhẹ”.

Sự bất công vẫn tiếp diễn

“Hình phạt đối với việc sở hữu ma túy không được gây tổn hại nhiều hơn so với việc sử dụng ma túy”.

—Tổng Thống Jimmy Carter, Ngày 2 tháng 8 năm 1977.

Tổng thống Jimmy Carter đã phát biểu trước Quốc hội về một loại tác hại khác do lệnh cấm cần sa và ma túy gây ra, vào ngày 2 tháng 8 năm 1977 rằng “Hình phạt đối với việc sở hữu ma túy không được gây tổn hại nhiều hơn so với việc sử dụng ma túy”.

“Do đó, tôi ủng hộ việc sửa đổi luật pháp liên bang để loại bỏ tất cả hình phạt hình sự đối với việc sở hữu một ounce (~28,3 g) cần sa”.

Tuy nhiên, những nỗ lực của ông để áp dụng một chút lý luận này vào Đạo luật về cần sa của Hoa Kỳ cách đây 30 năm đã bị chệch hướng bởi một Quốc hội rất cứng rắn đối với tội phạm, bất kể hành động đó có là hành vi phạm tội hay gây ra bất kỳ mối đe dọa thực sự nào đối với xã hội hay không, và bất kể có bao nhiêu người bị tổn hại trong quá trình này.

Và thái độ không khoan nhượng và đàn áp này đã leo thang vào những năm sau nhiệm kỳ của Carter.

Đến năm 1990, khoảng 30 tiểu bang đã thành lập nên các trại “Tống giam đặc biệt” (Special Alternative Incarceration – SAI) hay còn gọi là các “trại huấn luyện”, nơi những tội phạm sử dụng ma túy lần đầu tiên bị giam giữ trong một nơi giống như trại huấn luyện, bị hành hạ bằng lời nói và bào mòn tâm lý để phá vỡ thái độ bất đồng chính kiến của họ đối với việc sử dụng ma túy. Giờ đây, vào năm 1998, có 42 tiểu bang có các trại giam giữ đặc biệt để thực hiện những chương trình tương tự.

Các tù nhân được xử lý với sự chính xác của robot và những người không tuân theo quy định sẽ bị giam giữ tại nhà tù của tiểu bang. Hầu hết những người phạm tội trẻ tuổi này đều vì cần sa. Thậm chí nhiều tiểu bang đang cân nhắc triển khai các chương trình tương tự.*

* Tạp Chí In These Times, “Gulag for drug users,” ngày 20 tháng 12, năm 1989, trang 4.

Cái cớ nào để đã được sử dụng để hợp thức hóa cho chính sách chống Mỹ này? Một số ít báo cáo và nghiên cứu chính thức của Chính phủ được DEA, các chính trị gia và truyền thông tích cực quảng bá để chỉ ra rằng cần sa thực sự “gây hại đến một cá nhân”.

Tiếp đến, chúng ta sẽ xem qua một số nghiên cứu tai tiếng này…

 

Chương 15 – CÂU CHUYỆN CHÍNH THỨC: PHƠI BÀY “KHOA HỌC CỐNG RÃNH”

Sau 15 ngày tiếp nhận chứng thực và hơn một năm thảo luận pháp lý, thẩm phán luật hành chính Francis L. Young đã chính thức thúc giục DEA cho phép bác sĩ kê đơn thuốc cần sa. Trong một phán quyết vào tháng 9 năm 1988, ông đã tuyên bố: “Bằng chứng trong hồ sơ này rõ ràng chỉ ra rằng cần sa đã được công nhận có hiệu quả giảm nhẹ sự thống khổ của một số lượng lớn những người mắc bệnh rất nặng, và hiệu quả đó được phát huy một cách an toàn dưới sự giám sát y tế… Sẽ thật vô lý, độc đoán và tùy hứng nếu DEA tiếp tục ngăn cản họ tiếp cận với những lợi ích của hợp chất này khi đã có những bằng chứng rõ ràng trong hồ sơ này. Xét nghiêm túc từ góc độ y tế, cần sa an toàn hơn nhiều so với nhiều loại thực phẩm chúng ta thường sử dụng… Cần sa ở dạng tự nhiên là một trong những hoạt chất trị liệu an toàn nhất mà con người từng biết đến”.

Thế nhưng, cựu Giám đốc DEA John Lawn, người kế vị ông ta là Robert Bonner và Giám đốc DEA đương nhiệm Constantine – đều không phải bác sĩ! – đã từ chối tuân thủ và tiếp tục tùy ý tước đoạt quyền tiếp cận cần sa y tế của người dân.

Lãng phí phời gian, Lãng phí sinh mạng

Hơn 100 năm đã trôi qua kể từ khi nghiên cứu về những người hút hashish tại Ấn Độ trong thời Raj thuộc Anh năm 1894 đã cho biết rằng hoạt động sử dụng cần sa là vô hại và thậm chí có tác dụng tốt. Rất nhiều nghiên cứu về sau cũng đồng tình, nổi bật nhất trong số đó là các nghiên cứu của Ủy ban Siler, Ủy ban LaGuardia, Ủy ban Shafer do Nixon chỉ định, Ủy ban Le Dain của Cannada và Hội đồng Cố vấn Nghiên cứu California.

Trong quãng thời gian đó, các tổng thống Hoa Kỳ cũng đã ngợi ca gai dầu, USDA đã thu thập được những khối lượng lớn dữ liệu cho thấy giá trị của gai dầu từ góc độ một tài nguyên tự nhiên và vào năm 1942, chính quyền của tổng thống Roosevelt còn thực hiện bộ phim Hemp for Victory (Gai dầu vì chiến thắng) để vinh danh những người nông dân yêu nước đang canh tác gai dầu. Trong cùng năm, nước Đức cũng xuất bản The Humorous Hemp Primer [Nguyên bản tiếng Đức: Die Lustige Hanffibel. Tạm dịch: Dẫn nhập vui nhộn về gai dầu] – một sách hướng dẫn theo thể văn vần có hình minh họa để tán tụng những phẩm chất của cây gai dầu.

Thế nhưng ngay cả việc sử dụng gai dầu vì mục đích nhân đạo là làm thuốc trị bệnh hiện nay cũng bị từ chối. Khi được hỏi vào cuối năm 1989 về việc DEA đã không thi hành phán quyết của ông như được trích dẫn ở đoạn trên, Thẩm phán Young trả lời rằng Giám đốc John Lawn khi đó đã được cho chuẩn bị thời gian để tuân thủ.

Hơn một năm sau quyết định đó, Lawn đã chính thức từ chối xếp loại lại cần sa, tiếp tục xếp nó vào các loại chất ma túy “nguy hiểm” thuộc Danh mục I, nghĩa là thậm chí còn không được sử dụng làm thuốc trị bệnh.

Kịch liệt phản đối chính sách gây nên sự đau khổ không đáng có này đối với những người dân Mỹ không biết trông cậy vào đâu, Tổ chức Quốc gia về Cải cách Luật Cần sa (NORML) và Hội đồng Gia đình về Nhận thức Ma túy đã nhanh chóng đòi hỏi Lawn từ chức. Những người kế nhiệm của ông ta, Bonner và hiện nay là Constantine, đều giữ nguyên chính sách đó.

Thói đạo đức giả nào cho phép các công chức cười nhạo những dữ kiện thực tế và phủ nhận sự thật? Họ làm thế nào để lý giải cho những sai trái ghê gớm của bản thân?

Làm thế nào ư? Họ dựng nên những chuyên gia của riêng họ!

Lối nói nước đôi của chính quyền

Từ năm 1976, chính quyền liên bang Hoa Kỳ (như NIDA, NIH, DEA* và Cơ quan Action), các nhóm được cảnh sát bảo trợ (như D.A.R.E*) và các nhóm lợi ích đặc biệt (như PDFA*) đã tuyên bố trước công chúng, báo chí và các nhóm phụ huynh rằng họ có “bằng chứng tuyệt đối” về những tác dụng tiêu cực kinh hoàng của việc hút cần sa.

* Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy (NIDA), Viện Y tế Quốc gia (NIH), Lực lượng Chống Ma túy (DEA), Giáo dục Chống Lạm dụng Ma túy (D.A.R.E), Đối tác vì một Hoa Kỳ không Ma túy (PDFA). Tất cả những nhà nghiên cứu về sau đều đánh giá các phát hiện về cần sa của Heath là vô giá trị, bởi vì ngộ độc cacbon monoxit và các yếu tố khác đã hoàn toàn bị bỏ qua.

Khi các nghiên cứu được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ trước năm 1976 chỉ ra rằng cần sa vô hại hay cần sa có tác dụng tốt, phương pháp luận của mỗi nghiên cứu đều được trình bày chi tiết trong các báo cáo; ví dụ: hãy đọc The Therapeutic Potential of Marijuana (1976) [Tiềm năng Trị liệu của Cần sa] và bạn sẽ thấy chính xác phương pháp luận của một nghiên cứu y học là gì.

Tuy nhiên, khi các quan chức chính phủ của chúng ta chủ tâm tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cần sa theo hướng tiêu cực, hết lần này đến lần khác Tạp chí Playboy, NORML, Tạp chí High Times, v.v. đã phải khởi kiện theo Đạo luật Tự do Thông tin để tìm ra phương pháp phòng thí nghiệm mà các “cuộc thí nghiệm” này thực sự đã áp dụng.

Điều họ tìm được thật kinh hoàng.

Nghiên cứu Tulane/Tiến sĩ Heath, năm 1974

Sự cường điệu: Tổn thương não & Những con khỉ chết

Năm 1974, Thống đốc bang California khi đó là Ronald Reagan đã được hỏi về vấn đề phi hình sự hóa cần sa.

Sau khi đưa ra nghiên cứu Heath/Đại học Tulane, chính khách được gọi là “Nhà truyền đạt vĩ đại” này đã tuyên bố: “Các nguồn khoa học đáng tin cậy nhất nói rằng tổn thương não vĩnh viễn là một trong những kết quả tất yếu của việc sử dụng ma túy”. (L.A. Times)

Báo cáo của Tiến sĩ Heath đã kết luận rằng những con khỉ vàng, hút lượng cần sa chỉ tương đương 30 điếu mỗi ngày, đã bắt đầu suy mòn và chết sau 90 ngày.

Và kể từ đó, những tế bào não chết được tìm thấy trong những con khỉ bị ép hút cần sa đã được rêu rao hết mức nhằm gieo rắc sợ hãi trong các tờ rơi liên bang và các tài liệu tuyên truyền chống cần sa do chính phủ tài trợ.

Thượng nghị sĩ Eastland của bang Mississippi đã dùng đến nghiên cứu này trong mấy năm giữa thập kỷ 70 để khiến các nhà lập pháp thấy ghê sợ và ngừng ủng hộ những dự luật phi hình sự hóa của NORML tại Quốc hội, hầu hết trong số đó nhận được sự bảo trợ của Thượng nghị sĩ quá cố Senator Jacob Javitts của bang New York.

Các báo cáo của nghiên cứu này cũng đã được những người làm việc trong hệ thống cai nghiện ma túy phát tán, góp phần vào sự lý giải dựa trên những nghiên cứu được cho là mang tính khoa học của họ về mong muốn giúp các thanh thiếu niên thoát khỏi cần sa. Nội dung này được sử dụng để gây khiếp sợ cho các nhóm phụ huynh, các tổ chức giáo hội, v.v. – những người sẽ tiếp tục phát tán sâu rộng hơn nữa những gì họ đã được nghe.

Heath giết những con khỉ đang ngắc ngoải, mở não chúng, đếm các tế bào não chết, và kế đến là bắt những con khỉ không hút cần sa trong nhóm đối chứng, giết nốt chúng, và đếm các tế bào não của chúng. Những con khỉ hút cần sa có số lượng tế bào não chết rất lớn so với những con khỉ “tỉnh táo”.

Tuyên bố của Ronald Reagan có lẽ dựa trên thực tế rằng việc hút cần sa là khác biệt duy nhất trong hai nhóm khỉ thí nghiệm. Có thể Reagan đã tin rằng nghiên cứu liên bang này là thật và chính xác. Có thể ông ta đã có những động cơ khác.

Bất kể lý do của họ là gì, đó là điều đã được chính quyền đã làm rùm beng lên với báo chí và Hội Phụ huynh-Giáo viên – những người hoàn toàn tin tưởng chính quyền.

Năm 1980, sau sáu năm yêu cầu và kiện chính quyền, cuối cùng Tạp chí Playboy và NORML cũng nhận được bản hạch toán chính xác về những quy trình nghiên cứu được tiến hành trong báo cáo tai tiếng này:

Khi NORML/Playboy thuê các nhà nghiên cứu để kiểm tra các kết quả nghiên cứu bằng phương pháp luận thực sự, họ đã bật cười.

Thực tế: Những con vật trong nghiên cứu bị gây ngạt!

Như được đăng trên Tạp chí Playboy, phương pháp luận trong nghiên cứu quái đản của Heath bao gồm việc dùng dây đai để thắt cố định những con khỉ vàng vào một chiếc ghế tựa và bơm cho chúng một lượng tương đương 63 điếu cần sa Colombia trong “5 phút, qua mặt nạ phòng độc”, không mất đi chút khói nào. Playboy phát hiện rằng Heath đã cho những con khỉ mỗi ngày hút hết 63 điếu cần sa sau 5 phút trong khoảng thời gian vẻn vẹn 3 tháng thay vì cho chúng hút 30 điếu mỗi ngày trong thời gian một năm như ban đầu ông ta báo cáo. Thì ra Heath đã làm vậy để tránh phải trả tiền công mỗi ngày cho một phụ tá trong cả một năm.

Những con khỉ đã bị ngạt thở! Thiếu ôxy từ 3 đến 5 phút gây tổn thương não – các tế bào não chết (Hướng dẫn về an toàn dưới nước và cứu hộ của Hội Chữ Thập Đỏ). Với nồng độ khói được sử dụng, những con khỉ phần nào giống như một người ở trong ga ra khóa kín và cho một động cơ xe hơi hoạt động trong 5, 10, 15 phút mỗi ngày vậy!

Nghiên cứu này của Heath thật ra là một nghiên cứu về sự ngạt thở và ngộ độc cacbon monoxit ở động vật.

Ngoài những vấn đề khác, Heath đã hoàn toàn (do cố ý, hay do năng lực kém?) bỏ qua những tranh luận về khí cacbon monoxit những con khỉ đã hít phải.

Cacbon monoxit, một loại khí độc hủy diệt các tế bào não, được sinh ra từ bất kỳ vật thể nào đang cháy. Với nồng độ khói như vậy, những con khỉ quả thật giống như một người hàng ngày đều bị khóa trong ga ra với một động cơ xe hơi đang hoạt động trong 5, 10, 15 phút mỗi lượt!

Tất cả những nhà nghiên cứu về sau đều thống nhất rằng các phát hiện trong thí nghiệm của Heath về cần sa là vô giá trị, bởi vì sự ngộ độc cacbon monoxit và các yếu tố khác đã hoàn toàn bị bỏ qua và trước đó cũng chưa từng được xem xét trong báo cáo. Nghiên cứu này và các nghiên cứu khác, như loạt nghiên cứu năm 1970 của Tiến sĩ Gabriel Nahas, đều tìm cách liên hệ những chất chuyển hóa THC thường thấy trong não, cơ quan sinh dục và các vùng cơ thể chứa mỡ khác của con người với những tế bào não chết của những con khỉ bị chết ngạt.

Giờ đây, năm 1999, 17 đã trôi qua mà không một từ nào trong các nghiên cứu của Tiến sĩ Heath hay Tiến sĩ Nahas từng được xác thực! Nhưng các nghiên cứu của họ vẫn được lôi ra bởi PDFA, DEA, các cơ quan phòng chống ma túy cấp thành phố và tiểu bang cộng thêm các chính khách. Hầu như trong mọi cơ quan công quyền, chúng vẫn được coi như bằng chứng khoa học về sự nguy hiểm của cần sa.

Đây là sự tuyên truyền và thông tin sai lệch của chính phủ Hoa Kỳ ở mức độ tồi tệ nhất! Người dân đã trả tiền cho các nghiên cứu này và có quyền yêu cầu giảng dạy thông tin chính xác và lịch sử chân thực trong những ngôi trường hoạt động nhờ kinh phí từ những người nộp thuế.

Năm 1996, ở Pháp, Gabriel Nahas đã kiện Mishka, người dịch cuốn sách này sang tiếng Pháp với nhan đề L’empereur est nu, để đòi tiền bồi thường. Mishka đã viết rằng các nghiên cứu của Nahas bị cả thế giới xem là rác rưởi. Tòa án của Pháp, khi nghe hết những lời khai của Nahas, và sau khi Nahas đã bỏ ra số tiền tương đương hàng chục nghìn đô la Mỹ để trả các khoản phí pháp lý, đã thưởng cho ông ta sự sỉ nhục cao nhất của họ: một franc là khoản bồi thường cho ông ta, tương đương khoảng 15 cent tiền Mỹ, các khoản phí pháp lý thì tự chịu!

Đơn thuốc Nahas kê cho tình trạng phình trướng của ngân sách cảnh sát

Thật khó tin khi một nghiên cứu nổi tiếng với phát hiện tác dụng làm giảm khối u của cần sa (xem Chương 7) đã được chính phủ liên bang chỉ thị tiến hành, căn cứ trên tiền đề ban đầu rằng cần sa hẳn phải gây tổn hại cho hệ miễn dịch. Phỏng đoán này dựa vào các nghiên cứu kiểu “Reefer Madness” đã được thực hiện bởi vị tiến sĩ tai tiếng Gabriel Nahas của Đại học Columbia vào năm 1972.

Cũng chính Tiến sĩ Nahas này đã quả quyết rằng các nghiên cứu của ông ta cho thấy cần sa gây nên những tổn thương nhiễm sắc thể và testosterone (nội tiết tố nam), cũng như vô số tác động kinh khủng khiến cho người ta phải nghĩ tới sự sụp đổ của hệ miễn dịch. Nahas một thành viên của OSS/CIA và sau này là Liên Hợp Quốc, nơi ông ta đã cộng tác chặt chẽ với Lyndon LaRouche và Kurt Waldheim.

Năm 1998, Nahas vẫn còn là “con cưng” của DEA và NIDA nhưng không một nghiên cứu chống cần sa nào của ông ta từng lặp lại được kết quả trong vô số nỗ lực nghiên cứu khác. Đại học Columbia đã tuyên bố dứt khoát từ chối mọi liên hệ với các nghiên cứu về cần sa của Nahas trong một cuộc họp báo được triệu tập đặc biệt vào năm 1975!

Các nghiên cứu cũ rích, không đáng tin cậy của Nahas hiện nay vẫn được DEA trưng ra và chủ tâm cung cấp cho các nhóm hội phụ huynh, giáo viên và nhà thờ thiếu hiểu biết thấu đáo như thể đó là sự phát hiện xác đáng về  những tai hại của cần sa.

Sự gieo rắc những câu chuyện kinh dị và nguy hiểm này của Nahas* được trả công bằng tiền thuế các bạn đã nộp, thậm chí trong nhiều năm sau khi NIH vào năm 1976 đã dứt khoát ngăn cấm Nahas nhận thêm một xu nào từ những khoản tiền tiền chính phủ Hoa Kỳ cấp cho các nghiên cứu về cần sa do những nghiên cứu đáng hổ thẹn của ông ta từ đầu những năm 1970.

* Nahas, vào tháng 12 năm 1983, dưới sự chế giễu của các đồng nghiệp và quyết định chấm dứt tài trợ từ NIDA, đã tuyên bố từ bỏ toàn bộ những suy đoán, kết luận và nghiên cứu trước đó của ông ta về sự tích tụ các chất chuyển hóa THC, cũng như về tổn thương mô và nhiễm sắc thể trên đĩa Petri.

Tuy vậy, DEA, NIDA, VISTA, “Cuộc chiến chống ma túy” và tác giả đã qua đời Peggy Mann (trong các bài đăng trên Tạp chí Reader’s Digest và cuốn sách Marijuana Alert của bà được đệ nhất phu nhân Nancy Reagan đề tựa) đã mang những nghiên cứu không đáng tin cậy này đến các nhóm/hội phụ huynh như National Federal of Parents for Drug Free Youth [Liên đoàn quốc gia của phụ huynh vì giới trẻ không ma túy], v.v., thường cùng với Nahas trong vai trò một diễn giả khách mời được trả thù lao hậu hĩ, mà không hề hỏi lấy một lời xem các nghiên cứu của ông ta thật ra được đồng nghiệp nhìn nhận như thế nào.

Điều này, theo giả định của chúng tôi, được thực hiện để gây hoang mang cho các phụ huynh, giáo viên, nhà lập pháp và thẩm phán, bằng cách dùng đến các thống kê phi lâm sàng và thuật ngữ khoa học giả mạo, sau cùng là nhắm đến việc bán ra được nhiều xét nghiệm nước tiểu hơn nữa. Hệ quả từ đó là thêm nhiều lợi nhuận được tạo ra cho các cơ sở cai nghiện ma túy và biên chế nhân sự của họ. Như vậy cũng có nghĩa là ngân sách cấp cho cảnh sát, tòa án, nhà tù và các khoản chi tương tự sẽ được chính phủ duy trì liên tục bằng tiền rút từ ngân sách liên bang. Nói cách khác, chính phủ có thể duy trì liên tục việc chiếm dụng tiền thuế của dân để chi tiêu cho những gì phục vụ lợi ích của một chế độ cảnh sát trị.

“Cuộc chiến chống ma túy” là một đống tiền kếch xù, vì vậy những thỉnh cầu vô liêm sỉ đòi tăng số lượng cảnh sát và nhà tù tiếp tục diễn ra. Và chúng ta vẫn có hàng nghìn thẩm phán, nhà lập pháp, cảnh sát, độc giả Reader’s Digest và các bậc phụ huynh. Nhiều năm qua, họ đã sử dụng và trích dẫn các nghiên cứu của Nahas, xem chúng như là những lý do hàng đầu để tiếp tục những điều luật bất công này và để bỏ tù hàng triệu người Mỹ trong cả thập kỷ vừa qua.

Sau sự từ bỏ lập lờ năm 1983 của Nahas, DEA tiếp tục sử dụng các nghiên cứu của ông ta một cách chủ tâm và sai trái để gây chia rẽ trong những thẩm phán, chính khách, báo chí và các nhóm hội phụ huynh – những người không hề biết rằng sự dối trá của Nahas đã bị vạch trần. Các nhóm hội phụ huynh tin tưởng chính phủ sẽ cho họ biết sự thật mà họ đáng được nhận lại từ tiền thuế đã nộp. Phần lớn các nhà bình luận truyền hình và báo chí vẫn sử dụng các nghiên cứu không thể lặp lại kết quả từ những năm 1970 của Nahas như thể chúng là chân lý, và rất nhiều giai thoại hoang đường đáng sợ được bọn trẻ truyền tai nhau nơi sân trường đều xuất phát từ công trình dối trá của “nhà khoa học” này.

Mặc dù không bao giờ được lặp lại và đã bị bác bỏ, những kết quả nghiên cứu đó vẫn được rao giảng. Trong khi đó, những nhà nghiên cứu trung thực có nguy cơ bị bỏ tù nếu họ tìm cách thử nghiệm những ý tưởng của mình về công dụng y tế của cần sa.

Trên thực tế, bằng cách sử dụng những nghiên cứu không thể lặp lại và đã bị bác bỏ của Nahas về tác động đối với hệ miễn dịch của chất THC tổng hợp trên đĩa Petri, các hiệp hội cuồng loạn như National Family Partnership hoặc các tổ chức hình thành từ chiến dịch “Just Say No” thậm chí đã khiến giới báo chí lên tiếng rằng cần sa có thể gây ra AIDS – một điều không có chút căn cứ nào, nhưng báo chí vẫn tung tin một cách hùng hồn, làm tăng thêm mức độ trầm trọng của hiện tượng Reefer Madness!

Năm 1998, Gabriel Nahas lúc này đang sinh sống tại Paris và thường đem những lời dối trá cũ rích của ông ta đi rao giảng như thể chúng là phúc âm cho người dân các nước châu Âu còn kém hiểu biết về cần sa hơn cả công chúng Hoa Kỳ. Khi được mời tranh luận với chúng tôi (H.E.M.P.) về cần sa trước sự chứng kiến của báo chí thế giới vào ngày 18 tháng 6 năm 1993 tại Paris, ban đầu ông ta đã chấp nhận rất nhiệt tình. Thế rồi khi nhận ra rằng chúng tôi sẽ đề cập đến nọi khía cạnh của cây gai dầu (như giấy, sợi, nhiên liệu, thuốc trị bệnh), Nahas đã từ chối tranh luận, mặc dù chúng tôi đã đáp ứng mọi yêu cầu của ông ta.

Các chất chuyển hóa THC vẫn đọng lại

Sự cường điệu: Chúng tồn tại trong cơ thể 30 ngày

Chính quyền cũng đã quả quyết rằng chỉ hút một điếu cần sa thôi cũng rất nguy hiểm bởi “các chất chuyển hóa THC” tồn tại trong các tế bào mỡ của cơ thể tới 30 ngày; ngụ ý rằng chẳng thể nào hình dung nổi các chất chuyển hóa THC này có thể sẽ gây ra tác động gì đối với nhân loại về lâu dài, rồi thêm mấy lời nước đôi ngụy khoa học khác nữa (với những từ ngữ “có thể”, “có thể nghĩa là”, “có khả năng”, “có lẽ”, v.v.)*

* “‘Có thể’, ‘có khi’, ‘có lẽ’, ‘có khả năng’ không phải là những kết luận khoa học”. – Tiến sĩ, Bác sĩ Fred Oerther đã nói vào tháng 9 năm 1986.

Thực tế: Các chuyên gia của chính quyền nói rằng các chất chuyển hóa THC là dư lượng vô hại, không gây độc

Chúng tôi đã phỏng vấn ba bác sĩ có danh tiếng trên toàn quốc hiện đang làm việc (hoặc đã từ làm việc) cho nghiên cứu về cần sa của chính phủ Hoa Kỳ:

– Tiến sĩ, Bác sĩ Thomas Ungerlieder của UCLA, đã được Richard Nixon bổ nhiệm vào Ủy ban Lâm thời của Tổng thống về Cần sa năm 1969, được tái bổ nhiệm bởi các tổng thống Ford, Carter, và Reagan; hiện nay là chủ nhiệm của Chương trình Y tế về Cần sa của California.

– Tiến sĩ, Bác sĩ Donald Tashkin của UCLA, là nhà nghiên cứu hàng đầu của thế giới và chính phủ Hoa Kỳ trong 29 năm qua về tác động của cần sa đối với các chức năng phổi.

– Tiến sĩ, Bác sĩ Tod Mikuriya, từng giữ vị trí quản lý và phân phối nguồn tài trợ trong các chương trình nghiên cứu cần sa của chính phủ Hoa Kỳ cuối những  năm 1960.

Những bác sĩ này cho biết rằng các thành phần có hoạt tính của THC đã được hấp thu hết trong lần thứ nhất hoặc thứ hai đi qua gan. Các chất chuyển hóa THC còn lại tự gắn vào các mảng mỡ tích tụ để được cơ thể loại bỏ sau. Đây là một quá trình an toàn và hoàn toàn tự nhiên.

Nhiều hợp chất từ các loại thức ăn, thảo dược và thuốc chữa bệnh cũng vẫn luôn trải qua cùng một quá trình như vậy. Đa số không gây nguy hiểm, và các chất chuyển hóa THC có ít khả năng gây độc* hơn so với gần như bất kỳ loại chất chuyển hóa nào khác đã biết trong cơ thể chúng ta!

* Chính phủ Hoa Kỳ từ năm 1946 đã biết rằng liều lượng cần sa dùng qua đường miệng cần thiết để giết một con chuột cao gấp 40.000 lần liều lượng cần thiết để tạo ra các triệu chứng say cần sa điển hình. (Mikuriya, Tod, Marijuana Medical Papers, 1976; Loewe, Journal of Pharmacological and Experimental Therapeutics, October, 1946.)

Các chất chuyển hóa THC trong cơ thể có thể được so sánh với tro tàn của một điếu cần sa: thành phần trơ còn lại khi các hoạt chất cannabinoid đã được cơ thể hấp thụ. Các chất chuyển hóa trơ này là kết quả hiển thị trong những xét nghiệm nước tiểu được thực hiện để sa thải quân nhân, công nhân hoặc vận động viên vì sử dụng cần sa hoặc có sự hiện diện của cần sa trong nước tiểu trong vòng 30 ngày trước xét nghiệm.

Các nghiên cứu về tổn thương phổi

Sự cường điệu: Độc hại hơn thuốc lá

Theo Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, các bệnh tật liên quan đến thuốc lá giết chết hơn 430.000 người Mỹ mỗi năm. Có 50 triệu người Mỹ hút thuốc lá, và mỗi ngày có thêm 3.000 thanh thiếu niên bắt đầu hút. Các nghiên cứu về tàn thuốc chứa chất gây ung thư của Phòng thí nghiệm quốc gia Berkeley cuối những năm 1970 đã kết luận rằng “cần sa có khả năng gây ung thư cao gấp rưỡi thuốc lá”.

Thực tế: Không có một ca ung thư nào được ghi nhận

Các chất gây kích ứng phổi có trong mọi loại khói. Khói cần sa gây kích ứng nhẹ đối với phế quản. Các triệu chứng biến mất khi ngừng hút cần sa.

Tuy nhiên, khác với khói thuốc lá, khói cần sa không gây bất kỳ biến đổi nào trong các tiểu phế quản – khu vực mà khói thuốc lá gây tổn thương lâu dài và vĩnh viễn. Ngoài ra, người hút thuốc lá thường hút từ 20 đến 60 điếu mỗi ngày, trong khi người hút nhiều cần sa thường cũng chỉ hút từ 5 đến 7 điếu mỗi ngày, thậm chí còn ít hơn nếu có được búp hoa cần sa loại nặng chất lượng cao.

Mặc dù có hàng triệu người Mỹ hút cần sa thường xuyên, cần sa chưa từ gây một ca ung thư nào được ghi nhận tính đến tháng 12 năm 1997, theo Tiến sĩ Donald Tashkin của UCLA – chuyên gia hàng đầu về phổi của Hoa Kỳ. Ông xem nguy cơ lớn nhất đối với phổi là nếu một người tối thiểu phải hút 16 điếu cần sa loại lớn (spliff) mỗi ngày, gây nên sự giảm ôxy huyết do quá nhiều khói và không đủ ôxy.

Tashkin thấy rằng không có gì đáng lo lắng về nguy cơ gây khí phế thũng “theo bất kỳ hình thức nào” từ việc sử dụng cần sa – hoàn toàn trái ngược với thuốc lá.

Cần sa là một loài cây phức tạp, tiến hóa ở mức cao. Có khoảng 400 hợp chất trong khói cần sa. Trong số đó, 60 hợp chất hiện nay được biết llaf có giá trị trị liệu.

Người sử dụng cũng có thể ăn cần sa thay vì hút, tránh được hoàn toàn những kích ứng do khói. Tuy nhiên, các thành phần hoạt tính được cơ thể người hấp thu khi hút cao gấp bốn lần so với khi ăn, xét cùng một lượng cần sa. Và việc giá cần sa chợ đen bị thổi lên do sự cấm đoán cùng với các hình phạt khắc nghiệt đối với hoạt động canh tác khiến cho hầu hết mọi người không có khả năng chi trả cho một cách sử dụng xa xỉ dù lành mạnh hơn nhưng kém hiệu quả hơn.

Các nghiên cứu của phòng thí nghiệm không phản ánh đúng thực tế

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng nhiều chất gây ung thư có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng một ống điếu được lọc bằng nước. Chính phủ của chúng ta đã bỏ qua thông tin này và tầm quan trọng của nó khi phát biểu trước báo chí. Cùng lúc, các chính khách cũng cấm mua bán các loại ống điếu, gán nhãn cho chúng là những “dụng cụ sử dụng ma túy”.

Các tin đồn đã bắt đầu như thế nào?

Năm 1976, Tiến sĩ Tashkin của UCLA đã gửi một báo cáo thành văn tới Tiến sĩ Gabriel Nahas tại Hội nghị “Những Nguy cơ Y tế từ Cần sa” đang diễn ra tại Rheims, Pháp. Báo cáo đó lại thành ra câu chuyện giật gân nhất được lan truyền từ hộ nghị thế giới đầy tính tiêu cực đối với cần sa này.

Điều này đã gây ngạc nhiên cho Tiến sĩ Tashkin, người ban đầu đã không có dự tính gửi báo cáo đó đến Hội nghị Rheims.

Điều Tashkin đã báo cáo với Hội nghị Rheims là: Trong số 29 khu vực của phổi người đã được nghiên cứu, ông chỉ tìm thấy duy nhất một khu vực mà cần sa gây kích ứng cao hơn (15 lần) so với thuốc lá, và đó là phế quản. Tuy nhiên, con số này không đáng kể, vì Tashkin cũng lưu ý rằng thuốc là thuốc lá gần như không có tác động gì đến khu vực phổi này. Như vậy, 15 lần của “gần như không có gì” vẫn chỉ là gần như không có gì. Dù sao, cần sa cũng có tác động tích cực hoặc trung tính đối với phần lớn các khu vực khác của phổi. (Xem chương 7 – “Những công dụng trị liệu của cần sa”)

(Tashkin, Dr. Donald, UCLA studies, 1969-83; UCLA Pulmonary Studies, 1969-95.)

Sau đó, vào năm 1977, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ trở lại cho những nghiên cứu về tác độngcủa cần sa đối với phổi đang diễn ra mà họ đã cắt tài trợ từ hai năm trước đó, khi Tashkin báo cáo về những kết quả trị liệu đáng khích lệ trong các nghiên cứu này. Nhưng đến lúc này, chính phủ chỉ tài trợ cho hoạt động nghiên cứu về phế quản.

Chúng tôi đã phỏng vấn Tiến sĩ Tashkin hàng chục lần. Năm 1986, tôi đã hỏi ông về một bài báo ông đang soạn cho Tạp chí Y học New England, trong đó đề cập đến việc khói cần sa gây ra số lượng tổn thương tiền ung thư ngang bằng hoặc cao hơn so với thuốc lá, tính trên liều lượng sử dụngt ương đương giữa hai chất.

Phần lớn mọi người không nhận thấy, và truyền thông cũng không được cho biết cụ thể, rằng mọi bất thường về mô (trầy xước, phát ban, thậm chí chỉ là mẩn đỏ) đều được gọi là tổn thương tiền ung thư. Khác với các tổn thương do thuốc lá gây ra, các tổn thương liên quan đến THC không chứa chất phóng xạ.

Chúng tôi đã hỏi Tiến sĩ Tashkin rằng có bao nhiêu người trong các nghiên cứu này hay bất kỳ nghiên cứu nào khác về những người chỉ hút cần sa lâu năm (người Rastafari, người Copt, v.v.) sau đó đã bị ung thư phổi.

Ngồi trong phòng thí nghiệm UCLA của mình, Tiến sĩ Tashkin nhìn tôi và nói: “Lạ là ở chỗ đó. Cho đến nay không ai trong những người chúng tôi đã nghiên cứu bị ung thư phổi”.

“Báo chí có biết đến điều này không?”

“Chà, trong bài báo có viết”. Tiến sĩ Tashkin đáp. “Nhưng không người nào trong giới báo chí hỏi đến điều này. Họ vốn chỉ trông đợi những kết quả tồi tệ nhất”.

Chúng tôi đã hỏi lại Tashkin vào tháng 12 năm 1997, về cần sa và ung thư phổi. Câu trả lời của ông vẫn là không có lấy một trường hợp ung thư phổi nào ở những người chỉ hút cần sa từng được báo cáo. Một điều đáng ghi nhớ là: Tiến sĩ Tashkin và các tiến sĩ khác từ 20 năm trước đã tiên đoán chắc chắn rằng hàng trăm nghìn người hút cần sa sẽ bị ung thư phổi tính đến thời điểm này (năm 1997).

Năm 2007, Tiến sĩ Tashkin đã báo cáo rằng THC thực chất đang giết chết các tế bào lão hóa và giữ cho chúng không trở thành tế bào ung thư. Ngày 17 tháng Tư năm 2007, các nhà nghiên cứu Đại học Harvard đã tìm thấy rằng, trong phòng thí nghiệm, THC làm giảm sự tăng trưởng khối u đi một nửa trong khi đồng thời ức chế khả năng lan rộng của khối u.

Thuốc lá chứa chất phóng xạ: Chuyện chưa kể

Số người chết do hút thuốc lá mỗi năm còn cao hơn số ca tử vong do AIDS, heroin, crack, cocaine, rượu, tai nạn giao thông, hỏa hoạn và án mạng cộng lại. Thuốc lá gây nghiện ngang heroin – xét đến cả những triệu chứng cai, và có tỷ lệ tái nghiện (75%) tương đương heroin và cocaine.

Ở Hoa Kỳ hiện nay, thuốc lá bỏ xa các “đối thủ” khác để trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra những ca tử vong vốn có thể phòng tránh. So với người không hút thuốc lá, người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi gấp 10 lần, nguy cơ bị bệnh tim gấp 2 lần, và nguy cơ tử vong trong trường hợp bị bệnh tim gấp 3 lần. Vậy nhưng thuốc là lại hoàn toàn hợp pháp, và thậm chí được nhận trợ cấp chính phủ nhiều hơn mọi sản phẩm nông nghiệp Hoa Kỳ, trong khi nó luôn là kẻ giết người nguy hiểm nhất! Thật là một trò hề đạo đức giả!

Tại Hoa Kỳ, cứ bảy ca tử vong thì có một ca do thuốc lá gây ra. Phụ nữ cần biết rằng ung thư phổi phổ biến hơn ung thư vú trong số những phụ nữ hút thuốc lá, và hút thuốc lá trong thời gian sử dụng thuốc tránh thai khiến nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư tăng cao bất thường.

7 triệu đô la là số tiền quảng cáo cho ngành công nghiệp thuốc lá mỗi ngày, và ước tính mỗi ngày ngành này cần thêm khoảng 3000 người bắt đầu hút thuốc lá để thay thế cho số người đã bỏ hoặc đã chết vì thuốc lá mỗi ngày.

Ngành nông nghiệp và thương mại chủ đạo của Kentucky trong suốt 100 năm (cho đến năm 1890) chính là loài cây cần sa/gai dầu hữu ích, nhiều tác dụng và có lợi cho sức khỏe. Thế rồi nó bị thay thế bằng cây thuốc lá không thể dùng làm thức ăn, không cho sợi, gây suy thoái đất – là loài cây được trồng trên nền đất được bón các loại phân chứa chất phóng xạ.

Các nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng mức độ ảnh hưởng từ việc hút 1,5 bao thuốc lá mỗi ngày trong một năm đối với phổi là tương đương ảnh hưởng từ 300 lần chụp phim X-quang lồng ngực (bằng loại máy từ trước những năm 1980 và không sử dụng đồ bảo hộ bằng chì để cản xạ) đối với da. Nhưng trong khi tính phóng xạ của tia X tiêu tan ngay lập tức, chất phóng xạ của thuốc lá ở trong phổi vẫn duy trì hoạt tính suốt chu kỳ bán rã kéo dài 21,5 năm của nó.

Cựu Tổng Y sĩ C. Everett Koop đã phát biểu trên truyền hình quốc gia rằng rất có thể chất phóng xạ trong lá cây thuốc lá là nguyên nhân gây ra phần lớn các loại ung thư liên quan đến thuốc lá. Không hề tồn tại chất phóng xạ trong tro tàn của cần sa.

(National Center for Atmospheric Research, 1964; American Lung Assn.; Dr. Joseph R. DiFranza, U. of Mass. Medical Center; Reader’s Digest, March 1986; Surg. Gen. C. Everett Koop, 1990.)

Một dữ kiện thực tế khác: Bệnh nhân khí phế thũng được hưởng lợi

Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Tashkin đã chức mừng tôi về điều tôi đã gợi ý với ông, đó là cần sa được sử dụng để điều trị khí phế thũng đem đến những kết quả tốt trong số những người chúng tôi biết.

Ban đầu ông cười nhạo tôi, bởi ông đã cho rằng cần sa khiến tình trạng khí phế thũng trầm trọng hơn. Sau khi xem xét các bằng chứng đã thu được, ông thấy rằng, ngoại trừ trong những trường hợp hãn hữu nhất, cần sa thực ra đem lại lợi ích lớn cho các bệnh nhân khí phế thũng, do tác dụng làm thông thoáng và giãn phế quản của nó.

Vậy là tác dụng giảm nhẹ triệu chứng mà các bệnh nhân khí phế thũng hút cần sa báo cáo với chúng tôi đã được xác nhận.

Không chỉ riêng khói của cần sa có tác dụng tốt cho phổi. Từ xưa, khói của Yerba Santa [cây thánh thảo], Colt’s foot [cây khoản đông], Horehound [bạc hà trắng] và các loại thảo mộc khác cũng được hút để đem lại sự dễ chịu cho phổi.

Thuốc lá và những nguy hiểm gắn liền với nó đã gây nên định kiến xấu về chữ “hút” tới mức hầu hết mọi người tin rằng việc hút cần sa cũng nguy hiểm ngang hoặc hơn thuốc lá. Trong hoàn cảnh nghiên cứu bị cấm đoán, những dữ kiện khách quan về an toàn và sức khỏe cộng đồng này không sẵn có để tham khảo.

Tháng 12 năm 1997, chúng tôi đã hỏi Tiến sĩ Tashkin một lần nữa, và ông đã phát biểu dứt khoát rằng “cần sa không gây ra hay làm trầm trọng hơn tìnht rạng khí phế thũng, theo bất kỳ cách thức nào”. Hơn nữa, không có một trường hợp ung thư phổi nào từng được quy kết cho việc hút cần sa.

. . . Và còn nữa

Đa số các tài liệu chống cần sa mà chúng tôi đã xem xét đều không dẫn được lấy một nguồn để chúng tôi kiểm chứng. Số còn lại chỉ dẫn nguồn từ DEA hoặc NIDA. Các nghiên cứu ít ỏi chúng tôi đã tìm được lại thường là những ghi chép về bằng chứng giai thoại, những tập hợp số liệu ngụy tạo, hoặc thiếu các nhóm đối chứng và các kết quả không bao giờ được lặp lại.

Toàn bộ các nghiên cứu liên quan đến sự tăng kích thước vú, béo phì, nghiện ngập và những thứ tương tự vẫn không có căn cứ, và không nhận được bao nhiêu tín nhiệm từ cộng đồng khoa học. Các nghiên cứu khác, chẳng hạn về sự suy giảm số lượng tinh trùng tạm thời, là không có ý nghĩa thống kê đối với công chúng, thế nhưng lại giới truyền thông được thổi phồng về mức độ nghiêm trọng. Vẫn còn các nghiên cứu khác nữa, chẳng hạn về vài ba trường hợp có khối u cổ họng ở khu vực Sacramento và tỷ lệ tai nạn thương tích cao được báo cáo trong một trung tâm chấn thương của Baltimore, là những tập hợp dữ liệu riêng lẻ phản ánh trái ngược toàn bộ những thống kê khác và chưa bao giờ được lặp lại.

Những kết quả giả mạo của Heath, Nahas, của các nghiên cứu trên khỉ và chuột mang thai tại Đại học Temple và Đại học California Davis (trong đó họ tiêm các chất tổng hợp tương tự và là đồng phân bậc 3 của THC) giờ đây đã mất tín nhiệm trong hệ thống tài liệu khoa học và y học.

Mặc dù các nghiên cứu này không được sử dụng trong thảo luận khoa học, hàng núi tài liệu của DEA và do các công ty dược phẩm tài trợ nói về những tác động dài hạn mà các chất chuyển hóa này có thể sẽ gây ra cho não và cơ quan sinh sản vẫn được phân phát tới các nhóm phụ huynh như thể chúng là các nghiên cứu mới toanh. Sự cung cấp thông tin sai lệch này vẫn đang tồn tại nhan nhản trong các báo cáo của chính phủ Hoa Kỳ, DEA, DARE và PDFA.

(Read the 1982 N.I.H.; the National Academy of Science’s evaluation on past studies; and the Costa Rica report, 1980.)

Gai dầu đã được sử dụng trong gần như mọi xã hội từ thời thượng cổ như một yếu tố thúc đẩy lao động, cũng như để khơi dậy và làm mới lại những năng lượng sáng tạo.

Một số nghiên cứu mà chính quyền liên bang không nhắc tới

Nghiên cứu về người Copt (1981)

Không gây tác hại đối với bộ não hay trí thông minh của con người

Gai dầu đã được sử dụng trong gần như mọi xã hội từ thời thượng cổ để tăng thêm động lực làm việc, cũng như để khơi dậy và làm mới lại những năng lượng sáng tạo.

(Jamaican Studies; Coptic Studies; Costa Rican Studies; Vedas; Dr. Vera Rubin, Research Institute for the Study of Man; et al)

Năm 1981, một nghiên cứu đã cho biết về 10 người trong số những người Mỹ hút nhiều cần sa nhất (đến từ cộng đồng tôn giáo Copt và sinh sống tại Florida) quả thật tin rằng việc hút 16 điếu spliff* cần sa loại nặng mỗi ngày trong 10 năm qua đã phần nào cải thiện tâm trí của họ.

Tiến sĩ Ungerlieder và Tiến sĩ Shaeffer của UCLA đã thực hiện nghiên cứu và không phát hiện khác biệt nào về não giữa những người Copt này và những người không hút cần sa; cũng như không xác nhận có sự gia tăng nào về chỉ số IQ như họ đã khẳng định.

* Thông thường, một điếu spliff tương đương 5 điếu joint của Mỹ.

Tuổi thọ cao hơn, nếp nhăn ít hơn

Phần lớn các nghiên cứu (từ trước tới nay, với các nhóm đối tượng nghiên cứu được ghép cặp tương ứng) đều chỉ ra rằng: Khi mọi tiêu chí còn lại là ngang bằng, một người Mỹ hút cần sa sẽ sống lâu hơn một người Mỹ không hề sử dụng chất; có ít nếp nhăn hơn, nhìn chung ít bị căng thẳng tâm lý hơn nên ít mắc bệnh tật khiến hệ miễn dịch bị ảnh hưởng hơn, và có cách cư xử hòa nhã với người xung quanh hơn.

(Các nghiên cứu Costa Rica và Jamaica)

Nghiên cứu Jamaica (1968-74, 1975)

Những lợi ích nhất định cho người hút cần sa

Có lẽ nghiên cứu toàn diện nhất về hoạt động hút cần sa trong bối cảnh tự nhiên của nó chính là “Ganja ở Jamaica: Một nghiên cứu nhân chủng học y tế về việc sử dụng cần sa kinh niên” của Vera Rubin và Lambros Comitas (1975; Mouton & Co., The Hague, Paris/Anchor Books, NY).

Từ phần giới thiệu của Nghiên cứu Jamaica: “Nghiên cứu Jamaica, được tài trợ bởi Trung tâm Nghiên cứu về Lạm dụng Thuốc và Chất giảm đau gây ngủ – Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia (NIMH), là dự án đầu tiên về nhân chủng học y tế được thực hiện và là nghiên cứu chuyên sâu, đa ngành đầu tiên về hoạt động sử dụng và người sử dụng cần sa từng được xuất bản.

[…]

Mặc dù bất hợp pháp, hoạt động sử dụng ganja vẫn diễn ra khắp nơi, và thời lượng cũng như tần suất sử dụng rất cao; nó được hút trong khoảng thời gian dài hơn, với số lượng lớn hơn và hàm lượng THC cao hơn cần sa ở Hoa Kỳ mà không gây ra những hậu quả tai hại về tâm lý hay xã hội. Điểm khác biệt chủ yếu là cả việc sử dụng và những hành vi được dự kiến kèm theo đó đều được điều chỉnh cho phù hợp văn hóa và được kiểm soát bởi một truyền thống lâu đời”.

Những thái độ xã hội tích cực

Nghiên cứu đã phác họa khái quát sự củng cố tích cực về hành vi xã hội trong nhóm người hút ganja ở Jamaica và sự khen ngợi rộng khắp dành cho hoạt động sử dụng ganja từ những người hút ganja để tăng thêm động lực làm việc.

Theo mô tả từ những người được nghiên cứu, các hiệu ứng có được khi hút ganja khiến họ lanh lợi, hoạt bát, vui vẻ, có trách nhiệm và có ý thức hơn. Họ cho biết ganja có tác dụng tốt cho sự tập trung và thiền, và tạo ra một cảm giác ngập tràn hạnh phúc và tự tin vào giá trị bản thân.

Không có mối liên hệ với hành vi tội phạm

Vera Rubin và các cộng sự đã thấy rằng không có liên hệ nào giữa cần sa và tội phạm (ngoại trừ những vụ bắt giữ người sử dụng cần sa), không có sự suy giảm kỹ năng vận động, và những người hút cần sa cũng như những người không hút đều đạt số điểm về mức độ hướng ngoại như nhau, trong đó không có sự khác biệt về quá trình làm việc hay khả năng thích nghi với công việc. Không có phát hiện nào về động lực làm việc bị mất đi do sử dụng cần sa nhiều và thường xuyên.

Từ đánh giá tâm lý, người hút cần sa dường như cởi mở hơn trong việc bộc lộ cảm xúc của họ, đôi chút vô tư lự hơn, và đôi chút dễ sao nhãng hơn. Không có bằng chứng nào về tổn thương não thực thể hay tâm thần phân liệt.

Không có sự thoái hóa về sinh lý

Marilyn Bowman, qua một chuỗi những trắc nghiệm tâm lý dành cho những người sử dụng cần sa kinh niên tại Jamaica năm 1972, đã thấy rằng “không có sự suy giảm về chức năng sinh lý, cảm giác và tri giác-vận động trong các trắc nghiệm về hình thành khái niệm, tư duy trừu tượng và phong cách nhận thức, cũng như trong các trắc nghiệm về trí nhớ”. Thời gian những người Jamaica này đã hút cần sa là từ 6 đến 31 năm (thời gian trung bình là 16,6 năm) và độ tuổi trung bình khi họ lần đầu tiên hút cần sa là 12,5 tuổi.

Trong nghiên cứu năm 1975 được thực hiện với hai nhóm: người sử dụng cần sa và người không sử dụng, không phát hiện khác biệt nào về nồng độ testosterone huyết tương, không có khác biệt về tổng lượng dinh dưỡng, có kết quả cao hơn đôi chút trong các tiểu trắc nghiệm về trí thông minh (không có ý nghĩa thống kê), và “một phép đo cơ bản về miễn dịch qua trung gian tế bào […] không hề kém phần mạnh mẽ ở những người sử dụng”.

Sau cùng, “Ở thí nghiệm ghép cặp này của chúng tôi, mỗi người thuộc nhóm sử dụng cần sa còn hút thêm thuốc lá số lượng ngang bàng số thuốc lá được hút bởi người cùng cặp thuộc nhóm không sử dụng cần sa. Vậy nhưng những người thuộc nhóm sử dụng cần sa, nếu có gì đáng kể, thì đó là đường thở của họ vẫn khỏe mạnh hơn một chút so với những người cùng cặp với họ thuộc nhóm không sử dụng cần sa”.

“Do vậy, chúng tôi đành phải đưa ra kết luận không dứt khoát rằng cần sa hoặc là không gây tác động có hại đối với đường thở, hoặc là nó quả thực đem lại một chút tác dụng bảo vệ để chống lại những tác hại của khói thuốc lá. Nếu đúng là vậy, thì cũng chỉ có những nghiên cứu sâu hơn mới làm rõ được giả thuyết nào trong hai giả thuyết này là chính xác”.

Không tồn tại “hiệu ứng cửa ngõ”/ “hiệu ứng bàn đạp”

Về các cáo buộc rằng cần sa là loại “ma túy cửa ngõ” hay “ma túy bàn đạp”: “Việc sử dụng các chất ma túy loại nặng cho đến nay vẫn gần như chưa được biết đến trong những người dân lao động ở đất nước Jamaica. Không một người nào trong nghiên cứu (của Rubin) từng thử dùng bất kỳ thứ gì trong số các chất kích thích, chất giảm đau gây ngủ, chất gây ảo giác, thuốc an thần nhóm barbiturat hay thuốc ngủ dạng viên”.

Những năm cuối thế kỷ 19 ở Hoa Kỳ, cần sa đã được sử dụng để điều trị chứng nghiện chất. Những người nghiện thuốc phiện, cloral hydrat và rượu đã được điều trị thành công nhờ những chiết xuất tác dụng mạnh từ cần sa. Một số bệnh nhân đã phục hồi sau không đầy một chục liều chiết xuất cần sa.[1] Cũng vậy, ngày nay người ta đã thấy rằng hút cần sa đem lại tác dụng rất lớn trong điều trị chứng nghiện rượu.[2]

[1]. “Cannabis Indica as an Anodyne and Hypnotic,” J.B. Mattison, M.D., The St. Louis Medical and Surgical Journal, Vol. LVI, No. 5, Nov. 1891, pg 265-271, reprinted in Marijuana: The Medical Papers, Tod Mikuriya, M.D.

[2]. “Cannabis Substitution: An Adjunctive Therapeutic Tool in the Treatment of Alcoholism,” Tod H. Mikuriya, M.D., Medical Times, Vol. 98, No. 4, April, 1970, reprinted in Marijuana Medical Papers, Tod Mikuriya, M.D.)

Nghiên cứu Costa Rica (1980)

Phần lớn các kết quả từ nghiên cứu Jamaica đã được xác nhận bởi một nghiên cứu khác về vùng Caribbe. Đó là “Cần sa ở Costa Rica: Một Nghiên cứu về Hoạt động Sử dụng Cần sa Kinh niên” được William Carter biên tập vào năm 1980 dành cho Viện Nghiên cứu các Vấn đề về Con người. (ISHI, 3401 Science Center, Philadelphia.)

Một lần nữa, các nhà nghiên cứu đã không phát hiện một tổn thương rõ ràng nào trong cộng đồng những người dân bản địa hút cần sa. Các vấn đề xã hội liên quan đến rượu không được tìm thấy ở Costa Rica, nhưng lại tồn tại rất rõ nét trên những hòn đảo láng giềng vắng bóng cần sa.

Nghiên cứu này chỉ ra một điều rằng nếu cần sa được xã hội chấp thuận và được đưa ra thị trường, nó sẽ thay thế cho phần lớn lượng rượu rum, hay ít ra cũng giảm bớt tình trạng nghiện rượu.

Mô hình Amsterdam

Từ khi áp dụng chính sách khoan dung và không truy tố những người hút cần sa/hashish (có bán trong các quán cà phê và quán bar), và triển khai các chương trình phục hồi và chuyển hướng dành cho những người sử dụng các loại ma túy loại nặng, Hà Lan đã chứng kiến lượng sử dụng cần sa trong giới trẻ đã giảm rõ rệt cũng như số người nghiện heroin đã giảm được tới 33%. Chiến lược tách hoạt động kinh doanh cần sa khỏi những kẻ buôn bán trái phép các chất ma túy loại nặng bằng cách cho phép sự tồn tại công khai của cần sa đã đạt được thành công đáng kể. (L.A. Times, August 1989). Năm 1998, bất chấp những áp lực liên tục từ chính phủ Hoa Kỳ và DEA, chính phủ Hà Lan đã hoàn toàn từ chối tái hình sự hóa cần sa!

Thêm những dối gạt của kẻ cấm đoán

Năm 1990, Tạp chí Scientific American đã đưa tin: “Những thống kê đáng báo động, được những người ủng hộ xét nghiệm trích dẫn, nhằm minh họa những phí tổn to lớn vì sự lạm dụng ma túy [. . .] không phải lúc nào cũng phản ánh đúng về chính cuộc nghiên cứu mà họ đang dùng làm căn cứ đâu. Trên thực tế, một số dữ liệu lại có thể được sử dụng để ‘chứng minh’ rằng hoạt động sử dụng ma túy có những tác động không đáng kể, hay thậm chí còn có những tác động có lợi nữa”. (tháng 3 năm 1990, trang 18)

Một trong những ví dụ được đưa ra là thống kê thường được trích dẫn mà cựu Tổng thống George Bush đã dùng đến vào năm 1989: “Sự lạm dụng ma túy tồn tại trong các công nhân gây tổn thất cho các doanh nghiệp khoảng từ 60 tỷ đến 100 tỷ đô la mỗi năm vì mất năng suất lao động, vắng mặt không lý do, các tai nạn liên quan đến ma túy, các khoản thanh toán y tế và sự trộm cắp”. Vậy nhưng theo một bản đánh giá của NIDA năm 1989, tất cả những lời quả quyết đó đều có nguồn gốc từ cùng một nghiên cứu mà thôi, và nghiên cứu này lại phát sinh từ một cuộc khảo sát trên 3700 hộ gia đình vào năm 1982.

Viện Tam giác Nghiên cứu (RTI) phát hiện rằng những hộ gia đình có ít nhất một thành viên thừa nhận đã từng sử dụng cần sa thường xuyên cho thấy thu nhập trung bình của họ thấp hơn 28% so với thu nhập của những hộ gia đình tương tự nhưng không có người nào trong hộ sử dụng cần sa. Các nhà khảo sát của RTI đã quy kết nguyên nhân chênh lệch về thu nhập này là “tổn thất do sự sử dụng cần sa”.

Kế đến RTI suy diễn về các chi phí tội phạm, các vấn đề sức khỏe và tai nạn để tính ra một “phí tổn xã hội phải gánh vì sự lạm dụng ma túy” là 47 tỷ đô la. Nhà Trắng đã “điều chỉnh” dựa theo lạm phát và số dân tăng thêm để cung cấp căn cứ cho phát biểu của Bush.

Thế nhưng khảo sát của RTI còn có những câu hỏi về việc sử dụng ma túy trong hiện tại nữa. Những câu trả lời không cho thấy chênh lệch đáng kể nào về thu nhập giữa những hộ gia đình hiện đang có người sử dụng chất cấm, bao gồm cả heroin và cocaine, với những hộ gia đình khác.

Vậy là chính những thống kê đó lại “chứng minh” rằng tình trạng sử dụng ma túy loại nặng trong hiện tại không dẫn đến bất kỳ “tổn thất” nào, trái ngược với một cuộc say sưa cần sa nào đó trong quá khứ xa xôi!

Tham nhũng trong chính quyền: Carlton Turner

Trong toàn bộ quá trình khảo cứu của tác giả về sự chiếm dụng công quỹ và lạm dụng lòng tin của công chúng, có lẽ không gì so sánh được với những hành động tội lỗi đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng của người dân Mỹ – mà thủ phạm chính là những quan chức và chính khách trong câu chuyện được kể dưới đây:

Một người đàn ông & Những trò lừa đảo về thuốc của ông ta

Chính sách của chính phủ Hoa Kỳ, bắt đầu từ thời các tổng thống Nixon và Ford và tiếp tục diễn ra trong giai đoạn nắm quyền của Carlton Turner* (Trùm Dược phẩm từ năm 1981 đến 1986 dưới thời Reagan), đã cho phép cung cấp cần sa y tế liên bang cho các chương trình y tế về cần sa của các tiểu bang. Nhưng chỉ có lá của cây cần sa được cung cấp, mặc dù lá chỉ có độ mạnh bằng 1/3 so với búp hoa, và không chứa đủ toàn phần “thuốc thô”, nói cách khác là thiếu hụt các cannabinoid như THC và CBN.

* Trước khi trở thành Cố vấn Đặc biệt của Nhà Trắng (Trùm Dược phẩm quốc gia) Carlton Turner đã chỉ đạo toàn bộ hoạt động trồng cần sa để làm thuốc của chính phủ Hoa Kỳ từ năm 1971 đến 1980 nhờ vị trí của ông ta tại Đại học Mississippi. Chương trình Nghiên cứu Cần sa của Đại học Mississippi nhận được đặc quyền của tiểu bang để phát hiện, đề xuất hoặc chọn ra những thành phần trong cần sa dạng thô có tác dụng như một loại thuốc trị bệnh, sau đó sẽ tổng hợp ra những chất chứa dược tính có lợi, đạt được đầy đủ tác dụng từ cần sa, để cung cấp cho các công ty dược phẩm.

Ví dụ, tác dụng giảm nhẹ của lá cần sa đối với triệu chứng của bệnh tăng nhãn áp có thời lượng ngắn hơn nhiều so với búp hoa, do đó không đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân. Ngoài ra, đôi khi phần lá cũng gây đau đầu cho những người hút cần sa. Cho đến năm 1986, chỉ có lá cần sa được chính quyền liên bang sử dụng. Trong một cuộc phỏng vấn, Turner đã nói rằng người Mỹ sẽ không được nhận thêm thứ gì ngoài lá cần sa, mặc dù búp hoa có tác dụng hơn. Đến tận bây giờ (năm 1999), 7 người sử dụng cần sa hợp pháp ở Hoa Kỳ chỉ được nhận lá, cành cọng và búp hoa cắt vụn và cuộn thành điếu. Mặc dù búp hoa có tác dụng hơn đối với hóa trị, tăng nhãn áp, v.v., nhưng phần cành cọng có thể độc hại như gỗ khi dùng để hút.

Năm 1986, Turner đã nói rằng cần sa tự nhiên sẽ “không bao giờ” được kê đơn như một loại thuốc trị bệnh; và tình trạng này vẫn duy trì đến tháng 4 năm 1998. (Ngoại trừ ở California, nơi người dân đã thành công trong việc bỏ phiếu tán thành vào tháng 11 năm 1996, bất chấp chính quyền liên bang về vấn đề cần sa y tế!)

Những lý do đưa ra

– Búp cần sa quá cứng để cuốn được thành điếu bằng máy móc. (Cứ quên 25 triệu người Mỹ hàng ngày vẫn cuốn búp khá tốt đi.)

– Nếu chiết xuất các hợp chất từ “thuốc thô” trong búp hoa cần sa, sẽ không có bằng sáng chế dược phẩm được cấp, do đó sẽ không có lợi nhuận. Như vậy không khác gì việc chương trình của Turnner sẽ đi ngược với lợi ích của chủ thuê lúc trước của ông ta, những người đã cấp đặc quyền và kinh phí cho Đại học Mississippi.

(Các phỏng vấn do Ed Rosenthal thực hiện cho Tạp chí High Times; Dean Latimer, và các cộng sự; NORML.)

Mặc dù những búp hoa cần sa có tác dụng hơn đối với hóa trị, tăng nhãn áp, v.v., Turner đã nói rằng chúng sẽ “không bao giờ” được kê đơn. Xem ra, tác dụng “munchies” (kích thích cảm giác ngon miệng/thèm ăn) trứ danh của cần sa cũng sẽ chẳng có ích lợi gì cho các bệnh nhân ung thư trải qua hóa trị đang sử dụng lá cần sa của liên bang đâu.

Và mặc dù không nghiên cứu nào được phép thực hiện để so sánh lá với búp hoa cần sa, chúng tôi biết có những bác sĩ đã gợi ý không chính thức cho các bệnh nhân ung thư đang suy kiệt của họ sử dụng búp hoa cần sa và sau đó các bệnh nhân ấy đã tăng cân (NORML).

Đầu độc người hút cần sa

Vào tháng 8 và tháng 9 năm 1983, Turner đã xuất hiện trên truyền hình quốc gia để biện minh cho hoạt động phun thuốc diệt cỏ paraquat (từ máy bay) của DEA xuống những cánh đồng cần sa trái phép ở Georgia, Kentucky, và Tennessee. Ông ta đã nói rằng điều đó sẽ dạy một bài học cho bất kỳ thanh thiếu niên nào chết vì sử dụng cần sa nhiễm độc paraquat.Turner đã buộc phải từ chức sau những kết luận của ông ta trước công chúng rằng cần sa gây ra sự đồng tính, phá hủy hệ thống miễn dịch và do đó dẫn tới AIDS.

Hoạt động nghiên cứu tiềm năng trị liệu của cần sa phải chịu nhiều kiểm soát và bị gây khó dễ nhiều nhất, nhưng bất kỳ nghiên cứu nào theo hướng tìm kiếm những tác dụng có hại và tiêu cực của cần sa đều được khuyến khích. Do thường phản tác dụng hoặc không thể đưa ra kết luận, nên ngay cả các nghiên cứu dạng này cũng rất hiếm.

Turner đã trích dẫn tác phẩm Lịch sử suy thoái và sụp đổ của Đế chế La Mã để chứng tỏ các ca sĩ nhạc jazz/rock đang gặm mòn nước Mỹ mà “ông ta” yêu bằng thứ ma túy cần sa gây ảo giác này! Thứ mà ông ta nhất định phải vùi dập.

Bộ xét nghiệm Paraquat giả

Trong nỗi sợ hãi của người Mỹ về cần sa Mexico bị phun paraquat năm 1978, Carlton Tunner, lúc này một dân thường làm việc cho nông trại cần sa của tiểu bang Mississippi, đã gọi điện đến Tạp chí High Times để quảng cáo một loại dụng cụ xét nghiệm paraquat. Có điều ông ta không biết, thời gian đó High Times không nhận quảng cáo cho các loại dụng cụ xét nghiệm paraquat bởi vì mọi bằng chứng cho thấy rằng chúng không có tác dụng.

Dean Latimer, khi đó là một trợ lý biên tập của High Times, đã giả bộ xuôi theo Turner trong những đối thoại qua điện thoại  gần như mỗi ngày trong suốt một tháng, lắng nghe Turner nói về chuyện ông ta dự kiến kiếm được bao nhiêu tiền từ số dụng cụ sẽ được bán ra.

High Times muốn xem mẫu của bộ xét nghiệm. Khi Turner đưa nguyên mẫu bộ xét nghiệm paraquat của ông ta tới, nó hoàn toàn là một kiểu “máy móc Rube Goldberg”, một thứ hàng giả giá cao “hệt như hàng chục bộ xét nghiệm các công ty khác đã muốn trả tiền để được quảng cáo hồi đó,” Latimer đã viết trong một bài báo đã đăng trong năm 1984.

Turner rõ ràng chưa bao giờ nghĩ rằng High Times có đủ đạo đức nghề nghiệp để yêu cầu kiểm tra chất lượng sản phẩm. Ông ta cho rằng họ sẽ nhận tiền rồi cho chạy quảng cáo và làm giàu cho ông ta.

Turner không bận tâm đến chuyện có thanh thiếu niên nào đó bị lừa tiền hay mất mạng vì tin vào bộ xét nghiệm paraquat  rởm của ông ta.

Sau mưu mô lừa đảo ấy, người đàn ông này đã trở thành Trùm Dược phẩm của Tổng thống Reagan vào năm 1981, theo sự tiến cử của George Bush và Nancy Reagan.

Trò đê tiện coi thường mạng người

Turner thậm chí đã nói rằng ông ta không quan tâm nếu có hàng trăm thanh thiếu niên mất mạng vì hút phải thứ cần sa đã bị chính quyền liên bang chủ tâm phun thuốc diệt cỏ paraquat.
Thế rồi, trong Hội nghị PRIDE tháng 4 năm 1985 tại thành phố Atlanta của bang Georgia, với sự có mặt của Nancy Reagan và 16 đệ nhất phu nhân các nước (trong đó có Imelda Marcos), Turner đã kêu gọi áp dụng án tử hình cho tội phạm buôn bán ma túy.

Xét cho cùng, Turner chỉ là tên lính đánh thuê của Reagan, Bush và các công ty dược phẩm, những kẻ nhìn nhận sứ mệnh của ông ta không phải là chống lại heroin, PCP hay cocaine, mà là để xóa sổ cần sa và nhạc jazz/rock.

Carlton Turner đã buộc phải từ chức sau khi Tạp chí Newsweek đăng bài xã luận phê phán ông ta gay gắt vào tháng 10 năm 1986. Turner đã phải nhận những lời đả kích chưa từng được dành cho một nhân vật của công chúng nào khác trong những năm qua từ Washington Post và các báo khác, vì các kết luận của ông ta trước công chúng rằng hút cần sa gây ra sự đồng tính, phá hủy hệ thống miễn dịch và do đó dẫn tới AIDS. Sau đó, sự từ chức của ông ta là một kết quả được dự báo trước.

Turner từ chức vào ngày 6 tháng 12 năm 1986. Tin này lẽ ra được xuất hiện trên trang đầu của các báo nhưng đã bị đưa xuống trong các trang cuối do vụ bê bối Iran-Contra nổ ra trong cùng tuần lễ đó.

Công ty xét nghiệm nước tiểu

Sau khi từ chức, Turner tham gia cùng Robert DuPont và cự Giám đốc DEA Peter Bensinger để chiếm lĩnh thị trường xét nghiệm nước tiểu. Họ đã ký hợp đồng làm cố vấn cho 250 trong số những công ty lớn nhất Hoa Kỳ để phát triển các chương trình xét nghiệm nước tiểu, phát hiện ma túy và điều trị lạm dụng ma túy.

Ít lâu sau khi Turner rời nhiệm sở, Nancy Reagan đã đề xuất rằng không công ty nào được cấp phép hợp tác với chính quyền liên bang nếu họ không áp dụng một chính sách sàng lọc nhân viên qua xét nghiệm nước tiểu để thể hiện lòng trung thành.

Giống như G. Gordon Liddy đã bước vào ngành bảo mật an ninh doanh nghiệp sau sự nhục nhã của ông ta, Carlton Turner đã trở thành một người giàu có trong ngành công nghiệp có mức tăng trưởng rất cao hiện nay: xét nghiệm nước tiểu.

Loại công việc này vi phạm các quyền cơ bản về sự riêng tư, quyền không tự tố giác (Tu chính án thứ 5 của Hiến pháp), quyền từ chối sự khám xét và tịch thu không chính đáng, và sự suy đoán vô tội (cho đến khi bị chứng minh là có tội).

Giờ đây, sự cam chịu sỉ nhục khi phải phơi bày phần cơ thể và chức năng riêng tư nhất của bản thân trước mặt người khác là bài sát hạch để được tuyển vào một doanh nghiệp tư nhân hay để kiếm tiền trang trải cuộc sống.

Mưu đồ kiếm tiền mới của Turner đòi hỏi người dân Mỹ phải từ bỏ quyền cơ bản của người Mỹ về sự riêng tư và tự trọng.

Bush lại tung đòn

Tổng thống Ronald Reagan, dưới sự thúc giục của Phó Tổng thống khi đó là George Bush, đã bổ nhiệm Carlton Turner vào chức vụ Cố vấn về Chính sách Dược phẩm của Nhà Trắng vào năm 1981.

Tại các hội nghị (1981-1986) của các công ty dược phẩm và những người vận động hành lang của họ là Hiệp hội các Hãng sản xuất Hóa chất Hoa Kỳ, Turner đã hứa duy trì lệnh cấm nghiên cứu đối với 400 hợp chất có trong cần sa.

Bush đã lo liệu để tiếp tục chỉ đạo điều này, bằng cách không cho phép các hoạt động nghiên cứu tư nhân hay nhà nước được nhận kinh phí từ NIDA hay NIH, hoặc không phê duyệt các đơn xin cấp phép nộp tới FDA, trừ phi chúng được thực hiện theo hướng tìm kiếm các kết quả tiêu cực. Tính đến thời điểm này (tháng 7 năm 1998), chính sách của Tổng thống Clinton vẫn duy trì như vậy.

So sánh với rượu

Có nhiều thói quen sử dụng chất rất tồi tệ. Tồi tệ nhất trong số đó là rượu, cả về số lượng người sử dụng cũng như các hành vi phản xã hội liên quan đến việc sử dụng rượu quá mức. Chứng nghiện rượu là nguyên nhân hàng đầu của những ca tử vong ở thanh thiếu niên: 8.000 thanh thiếu niên Mỹ chết mỗi năm và 40.000 bị tàn tật do kết hợp uống rượu với lái xe. (MADD (Những người mẹ chống việc lái xe khi say rượu); SADD (Những sinh viên chống việc lái xe khi say rượu); NIDA, v.v.)

Trên thực tế, thống kê của cảnh sát/chính phủ Hoa Kỳ đã xác nhận những con số kỳ lạ sau đây:

Số ca tử vong do sử dụng rượu mỗi năm là 100.000, trong khi không có ca tử vong nào do sử dụng cần sa trong suốt 10.000 năm.

Từ 40-50% trong tổng số vụ giết người và tử vong trên đường cao tốc có liên quan đến rượu. Trên thực tế, số ca tử vong trên đường cao tốc có thể lên tới 90%, theo Chicago Tribune và L.A. Times.

Rượu cũng có dấu hiệu liên quan trong đa số (69-80%) các vụ loạn luân/hiếp dâm trẻ em; các vụ việc bạo hành vợ cũng đa phần (60-80%) do người chồng say rượu.

Heroin có dấu hiệu liên quan trong 35% số vụ trộm cắp, cướp, cướp có vũ trang, cướp ngân hàng, trộm cắp xe cộ, v.v.

Trong khi đó, có hơn 786.545 vụ bắt giữ chỉ vì hành vi tàng trữ cần sa tại Hoa Kỳ trong năm 2005 (tăng lên từ 400.000 vụ trong năm 1992), theo thống kê của Chương trình Báo cáo Tội phạm Thống nhất của Cục Điều tra Liên bang (FBI), Bộ Tư pháp Hoa Kỳ.

Chương 13: ĐỊNH KIẾN – CẦN SA VÀ LUẬT JIM CROW

Kể từ khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ, sự phân biệt chủng tộc và cuồng tín tại Hoa Kỳ nhìn chung đã buộc phải bớt phần trắng trợn trong cách thể hiện.

Các điều luật cấm cần sa một lần nữa minh họa sự bất khoan dung mang tính thể chế đối với các nhóm chủng tộc thiểu số, và cho thấy định kiến ​​được che giấu như thế nào đằng sau những điều luật và thuật hùng biện – những thứ dường như mang một mục đích hoàn toàn khác.

Hoạt động hút cần sa ở châu Mỹ

Có lẽ thời điểm sớm nhất mà hoạt động hút khói từ búp hoa cần sa cái được biết tới* ở Tây Bán cầu đã diễn ra vào những năm 1870 ở quần đảo Tây Ấn (Jamaica, Bahamas, Barbados, v.v.); và nó đã xuất hiện cùng với sự nhập cư của hàng nghìn người Hindu (đến từ Ấn Độ khi đó đang chịu sự kiểm soát của Anh) – những người được nhập cảnh vì có giá lao động rẻ mạt. Đến năm 1886, các thủy thủ da đen và Mexico giao thương trên những hòn đảo này đã tiếp thu và lan tỏa hoạt động sử dụng cần sa trên khắp Tây Ấn và Mexico.

*Cũng có những giả thuyết khác về mốc thời gian sớm nhất của hoạt động hút cần sa, chẳng hạn trong các cộng đồng nô lệ Mỹ và Brazil, những thổ dân Shawnee, v.v.  – một số giả thuyết rất hấp dẫn, nhưng không thể kiểm chứng.

Ở Tây Ấn, cần sa thường được hút để làm dịu bớt sự vất vả trên những ruộng mía, để xua tan sự nóng nực, và để thư giãn vào những buổi tối mà không phải lo ngại cảm giác váng vất khó chịu vào sáng hôm sau như khi uống rượu say.

Nhạc jazz và swing của “những người da đen, Mexico và nghệ sĩ giải trí” đã được công nhận là một thành quả sinh ra từ hoạt động sử dụng cần sa.

Với khu vực mà cần sử dụng vào cuối thế kỷ 19 là Mexico và quần đảo Tây Ấn vùng Caribe, không có gì đáng ngạc nhiên khi trường hợp sử dụng cần sa đầu tiên được ghi nhận ở Hoa Kỳ là trong cộng đồng người Mexico tại Brownsville, Texas vào năm 1903. Và luật cấm cần sa đầu tiên tại Hoa Kỳ – vốn chỉ có liên hệ với người Mexico – đã được thông qua tại Brownsville trong cùng năm đó.

Hoạt động sử dụng “ganja” kế tiếp được ghi nhận vào năm 1909 tại cảng New Orleans – trong khu Storyville của người da đen mà các thủy thủ thường xuyên lui tới.

Khu Storyville của New Orleans tràn ngập những quán cabaret, nhà thổ, âm nhạc, và đủ những thứ thường thấy khác trong các khu “đèn đỏ” trên khắp thế giới. Thủy thủ từ các hòn đảo tận hưởng kỳ nghỉ phép trên bờ và tìm mua cần sa tại đây.

Hóa trang mặt đen (blackface)…

Ủy viên an toàn công cộng của New Orleans đã viết rằng “Cần sa là loại ma túy đáng sợ và hiểm ác nhất từng xảy ra với New Orleans”, và năm 1910 đã cảnh báo rằng số lượng người sử dụng cần sa thường xuyên tính riêng ở Storyville có thể lên tới 200.

Đối với các Ủy viên an toàn công cộng, Ủy viên công tố tiểu bang và báo chí New Orleans từ năm 1910 đến những năm 1930, ảnh hưởng xấu xa ngấm ngầm của cần sa đã bộc lộ rõ ràng khi nó khiến cho “bọn đen” tưởng rằng chúng cũng tốt đẹp ngang với “người da trắng”.

Trên thực tế, cần sa trong khoảng thời gian này bị quy kết là nguyên nhân cho những trường hợp từ chối hóa trang mặt đen* đầu tiên của người da đen, và những tiếng cười không thể kiềm chế của người da đen dưới tác động của cần sa khi họ bị yêu cầu nhường đường cho người da trắng hoặc ra ngồi đằng sau xe điện, v.v.

*Đúng vậy đấy; mắt bạn đã không đánh lừa bạn đâu. Do một quan niệm quái đản trong các điều luật Jim Crow (phân chia chủng tộc), người Mỹ da đen bị cấm xuất hiện trên bất kỳ sân khấu nào ở vùng Hạ Nam (và hầu hết các nơi khác ở miền Bắc và Tây). Suốt những năm 1920, người da đen buộc phải hóa trang mặt đen (giống như cách hóa trang của Al Jolson khi hát bài “Swanee”) – một loại thuốc nhuộm được các nghệ sĩ da trắng thoa lên mặt để trông giống hoặc nhại lại vẻ ngoài của người da đen. Thật ra, theo luật Jim Crow, người da đen hoàn toàn không được phép bước lên sân khấu. Tuy nhiên, vì có tài năng nên họ vẫn được phép lẻn vào qua cửa hậu, hóa trang mặt đen và rồi giả bộ một người da trắng đang đóng vai một người da đen…

…và đến nhạc jazz

Ở New Orleans, người da trắng cũng lo ngại về những nhạc công da đen hút cần sa đang lan tỏa (bán) một loại nhạc “voodoo” mới đầy uy lực (được ưa chuộng), khiến cho ngay cả những phụ nữ da trắng đoan chính cũng phải dậm chân theo nhịp; và sau cùng là nhắm đến việc quẳng bỏ cái ách mà người da trắng đã khoác lên họ. Ngày nay chúng ta gọi loại nhạc mới ấy là…nhạc jazz!

Người da đen hiển nhiên đã dùng chính những nỗi sợ đối với “voodoo” của những kẻ da trắng phân biệt chủng tộc tại New Orleans để cố gắng ngăn cách người da trắng khỏi đời sống của họ. Nói chung, mọi người đều công nhận nơi sinh ra nhạc jazz là Storyville, New Orleans – quê hương của những nhà cách tân trong thời kỳ đầu: Buddy Bohler, Buck Johnson và các nghệ sĩ khác (1909-1917). Storyville cũng là nơi sinh của nghệ sĩ Louis Armstrong* (năm 1900).

*Năm 1930 – một năm sau khi Louis Armstrong thu âm bản nhạc “Muggles” (được hiểu là: “cần sa”) – ông đã bị bắt chỉ vì một điếu cần sa ở Los Angeles và bị giam trong 10 ngày, cho đến khi ông chấp nhận rời khỏi California và không trở lại nơi đó trong vòng hai năm.

Cảnh sát, chính trị gia và báo chí Hoa Kỳ hầu như không hề biết: Trong suốt những năm tháng này (đến suốt những năm 1920, còn sau đó thì họa hoằn họ mới biết), loại cần sa mà “bọn đen” và “bọn Mễ” hút ở dạng điếu cuốn hoặc bằng tẩu chỉ là một phiên bản nhẹ hơn của nhiều loại thuốc cần sa cô đặc quen thuộc chính họ đã dùng từ thời thơ ấu, hay cũng chính là loại thuốc được hút hợp pháp trong các tiệm hashish xa hoa của người da trắng.

Những kẻ da trắng phân biệt chủng tộc đã viết ra những bài báo và thông qua những điều luật cấm cấn sa ở cấp độ thành phố và tiểu bang mà không hề biết đến kiến thức này suốt gần hai thập kỷ, chủ yếu bởi vì “sự xấc xược hung tợn”* của người da đen/Mexico dưới tác động của cần sa.

*Sự xấc xược hung tợn: Từ năm 1884 đến 1900, 3.500 vụ hành quyết người Mỹ da đen không qua xét xử (lynching) đã được ghi nhận; Từ năm 1900 đến 1917, hơn 1.100 vụ đã được ghi lại trong hồ sơ. Con số thực tế chắc chắn phải cao hơn. Theo ước tính, một phần ba trong số những vụ lynching này là để trừng phạt “sự xấc xược”. Đó có thể là vì bất kỳ một hành động gì – từ nhìn (hay bị cáo buộc đã nhìn) thẳng một phụ nữ da trắng đến hai lần, cho đến dẫm chân lên bóng của một người da trắng, hay nhìn thẳng vào mắt một người da trắng quá ba giây, hay vì không chịu đi thẳng ra sau xe điện, và đủ loại “tội” khác.

Đối với người da trắng, rõ ràng là cần sa đã gây nên “sự hung tợn” ở người da đen và Mexico – nếu không họ chắc chắn sẽ không “xấc xược” như vậy…

Hàng trăm nghìn người da đen và Mexico đã bị kết án từ 10 ngày đến 10 năm – chủ yếu ở hình thức “tù dây” của địa phương và tiểu bang – chỉ vì phạm phải những tội ngớ ngẩn như chúng tôi vừa liệt kê.

Đây là bản chất của những điều luật Jim Crow mãi cho đến những năm 1950 và 60; sau cùng chúng cũng đã bắt đầu được sửa đổi trên đất Hoa Kỳ nhờ có Martin Luther King, NAACP (Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu) và sự phản đối kịch liệt của công chúng.

Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng về tác động tức thời mà những nghệ sĩ da đen đã tạo ra trong một xã hội do người da trắng nắm quyền khi họ từ chối hóa trang mặt đen. Tuy nhiên, bảy năm sau – năm 1917 – Storyville đã bị đóng cửa hoàn toàn. Chủ nghĩa Apartheid đã có được thời điểm thắng thế của nó.

Các công dân da trắng ngay thẳng và nghiêm nghị giờ đây không còn phải lo lắng về chuyện các phụ nữ da trắng tìm đến Storyville để nghe thứ nhạc jazz “voodoo” hay có thể bị hãm hiếp bởi mấy “gã da đen mê nhạc” thường phát cuồng vì cần sa – những kẻ đã thể hiện sự bất kính (xấc xược) hung tợn đối với người da trắng và Luật Jim Crow bằng cách dẫm lên bóng của họ (người da trắng) và những hành động tương tự khi bọn chúng phê cần sa.

Sau đó, các nhạc sĩ da đen đã mang theo cần sa và âm nhạc của họ trên hành trình ngược dòng sông Mississippi để tới Memphis, Kansas City, St. Louis, Chicago, v.v. Ở đó, các ông bố Thành thị (da trắng) – vẫn với những lý do mang đầy tính phân biệt chủng tộc – chẳng bao lâu đã thông qua những điều luật cấm cần sa của địa phương nhằm chấm dứt thứ âm nhạc “xấu xa” ấy cũng như ngăn chặn việc phụ nữ da trắng trở thành con mồi cho đám da đen thông qua nhạc jazz và cần sa.

Sự căm ghét của Anslinger với người da đen và nhạc jazz.

Sau khi nghỉ hưu, Anslinger đã chuyển tất cả tài liệu của ông trong vòng 30 năm hoạt động với tư cách người chống ma túy đứng đầu thế giới đến trường Đại học Pennsylvania tại State Collage, PA.

Trong đống tài liệu của Anslinger cũng như tài liệu trong thư viện DEA ở Washington, DC, bao gồm các bài báo cũ của FBN (Cục Phòng chống Ma túy Liên Bang), chúng tôi đã biết rằng: Từ năm 1943 đến 1948, Anslinger đã ra lệnh cho các đặc vụ của mình trên khắp đất nước theo dõi tất cả các nhạc sĩ jazz và swing để thu thập hồ sơ tội phạm về cần sa của họ; nhưng lại không bắt họ cho đến khi ông ta có thể tiến hành một cuộc bắt giữ hàng loạt trong vòng một đêm!

Mục đích và mơ ước của ông ta là phải bắt được tất cả mọi người chỉ trong một cuộc càn quét toàn quốc! Điều này sẽ giúp được ông ta có mặt trên trang bìa của tất cả các tờ báo trên toàn nước Mỹ và khiến Anslinger trở nên nổi tiếng vượt xa cả đối thủ cạnh tranh hàng đầu của ông, Giám đốc FBI nổi tiếng J.Edgar Hoover. Giới trẻ nước Mỹ rồi sẽ được chứng kiến bộ mặt thật của tất các các nhạc công jazz và swing – những con quỷ dữ hút cỏ!

Anslinger cũng đã ra lệnh cho đặc vụ của mình theo dõi và ghi lại hồ sơ của các ban nhạc, ca sĩ và nghệ sĩ hài ở Mỹ như: Thelonious Monk, Louis Armstrong, Les Brown, Count Basie, Cab Calloway, Jimmy Dorsey, Duke Ellington, Dizzy Gillespie, Lionel Hampton và Andre Kostelanetz. Đồng thời, dàn giao hưởng NBC, Milton Berle Show, chương trình Coca-Cola, chương trình Jackie Gleason và kể cả chương tình của Kate Smith cũng bị theo dõi. Đây đều là những người nổi tiếng và được nhìn nhận hiện nay như những con người tuyệt vời mang lại sự cải cách trong thế giới âm nhạc.

Họ đã theo dõi trong vòng năm năm, và các tài liệu ngày một nhiều lên. Từ năm 1943 đến năm 1948, các đặc vụ liên bang đã chờ đợi cơ hội hành động.

Một hồ sơ điển hình của một nghệ sĩ nhạc jazz nhỏ lẻ được miêu tả là: “Bị cáo là một người da màu ở Camden, Texas, sinh ngày -, cao 5 foot 8, nặng 165 pound, da đen, tóc đen, mắt đen. Anh ta có một vết sẹo ở trán phía bên trái, hình xăm dao găm và dòng chữ -, ở cánh tay bên phải. Anh ta là một nhạc công thổi kèn trumpet trong một ban nhạc thịnh hành. Anh ta có cái miệng rất rộng và môi dày, khiến cho anh ta được đặt biệt danh là -. Anh ta là người hút cần sa.”

Các hồ sơ khác cũng đều vớ vẩn, phân biệt chủng tộc và anti nhạc jazz một cách tương tự.

Lý do duy nhất ngăn chặn vụ truy quét khổng lồ này lên các nghệ sĩ nhạc jazz trong lịch sử? Sếp của Anslinger ở Bộ Ngận khố Hoa Kỳ, Thư ký Phụ Tá Foley, được thông tin về vụ truy quét này của Anslinger và phản hồi lại ngay: “Ngài Foley không đồng ý!”

Đồng nghiệp và bạn thân nhất của Anslinger trong suốt quãng thời gian dài làm việc là Tiến sĩ James Munch, một nhà hóa học làm việc cho FBN và được chính phủ và báo chí Mỹ tin tưởng như một chuyên gia về hiệu ứng của cần sa trong những năm 1930 đến 1940. Ông đã được phòng vấn vào năm 1978 về sự thù hận của Anslinger đổi với nhạc jazz trong những năm 1940, 1940 và 1950. Cuộc đối thoại được ghi lại trong cuốn sách của Larry Sloman, xuất bản bởi Bobbs Merrill, “Cần sa điên dại” năm 1979”

Sloman: “Tại sao ông ấy (Anslinger) lại muốn bắt giữ các nghệ sĩ nhạc jazz và swing nhiều đến thế?”

Tiến sĩ Munch: “Bởi vì hiệu ứng mà họ (Anslinger và FBN) lo ngại nhất về cần sa chính là sự kéo dài cảm nhận về thời gian, khi mà nhờ đó các nhạc công có thể cho thêm các giai điệu kiều diễm vào trong nhạc của mình nhiều hơn so với khi họ chỉ đơn giản là chơi theo tờ nhạc đã ghi sẵn…”

Sloman: “Như thế thì có gì là sai?”

Tiến sĩ Munch: “Nói cách khác, nếu bạn là nhạc công, bạn phải chơi nhạc theo cách mà nó được ghi trên giấy. Nhưng nếu bạn hút cần sa, bạn sẽ chơi được gấp đôi lượng âm nhạc ở giữa nốt nhạc đầu và nốt thứ hai. Đó là điều tạo nên các nhạc công jazz. Đó là lý do họ có thể “jazz nó lên”, hoặc “làm sống động nó lên”, bạn biết đấy.”

Sloman: Ồ, tôi hiểu rồi,”

Người Mỹ gốc Mexico

Năm 1915, California và Utah thông qua các đạo luật tiểu bang đặt cần sa ngoài vòng pháp luật – vẫn với những lý do kiểu Jim Crow, nhưng được chỉ đạo thông qua báo chí của Tập đoàn Hearst để nhắm đến những người Mỹ gốc Mexico.

Colorado nối bước vào năm 1917. Các quan chức lập pháp của tiểu bang này đã viện dẫn những hành động đi quá giới hạn của quân đội nổi dậy do Pancho Villa chỉ huy – mà cần sa được cho là loại ma túy ưa thích của họ. (Nếu đúng như vậy, điều đó cũng đồng nghĩa với việc cần sa đã giúp lật đổ một trong những chế độ đàn áp tàn độc nhất mà đất nước Mexico từng phải gánh chịu).

Cơ quan lập pháp Colorado cảm thấy rằng để ngăn chặn một cuộc tắm máu sắc tộc và sự lật đổ những thể chế, quan điểm và luật lệ dốt nát và cuồng tín của họ (người da trắng) thì chỉ có một cách duy nhất: Phải chấm dứt cần sa.

Người Mexico dưới tác động của cần sa cũng đòi hỏi được đối xử nhân đạo, họ nhìn thẳng vào phụ nữ da trắng, và họ yêu cầu con cái họ được đến trường trong lúc cha mẹ chúng đang thu hoạch củ cải đường và đưa ra những đòi hỏi “xấc xược” khác. Với cái cớ là cần sa (Loại cỏ sát nhân), người da trắng lúc này đã có thể sử dụng đến quân đội và hợp lý hóa những hành động bạo lực nhằm đàn áp của họ.

Vấn nạn phân biệt chủng tộc gắn liền với cần sa này vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay. Năm 1937, Harry Anslinger đã báo với Quốc hội rằng có từ 50.000 đến 100.000* người hút cần sa tại Hoa Kỳ – chủ yếu là “những người da đen, Mexico và nghệ sĩ giải trí”, và các loại nhạc jazz và swing của họ chính là kết quả sinh ra từ hoạt động sử dụng cần sa ấy. Ông ta đã nhấn mạnh rằng chính thứ âm nhạc “ma quỷ” này và sự sử dụng cần sa đã khiến những phụ nữ da trắng “tìm kiếm những mối quan hệ tình dục với người da đen!”

*Anslinger hẳn sẽ phát rồ nếu ông ta biết được rằng một ngày kia ở Hoa Kỳ sẽ có tới 26 triệu người sử dụng cần sa hàng ngày và 30-40 triệu người sử dụng không thường xuyên; và nhạc jazz và rock ‘n’ roll hiện nay được hàng chục triệu người ưa chuộng dù có thể họ chưa bao giờ hút thử cần sa.

Nam Phi ngày nay

Năm 1911, Nam Phi* bắt đầu đặt cần sa ngoài vòng pháp luật – với cùng những lý do như ở New Orleans: Để ngăn chặn những người da đen xấc xược! Cùng với Ai Cập, đất nước Nam Phi do người da trắng cai trị đã tiến hành một cuộc đấu tranh quốc tế (Hội Quốc Liên) nhằm mục đích cấm cần sa trên toàn thế giới.

*Tuy vậy, Nam Phi trong giai đoạn này vẫn cho phép thợ mỏ da đen hút dagga (cần sa) trong các mỏ. Vì sao ư? Bởi vì họ làm việc năng suất hơn!

Trên thực tế, chính trong năm này, Nam Phi đã có ảnh hưởng đến các quan chức lập pháp của miền nam Hoa Kỳ trong quyết định cấm cần sa (thứ được nhiều người Nam Phi da đen tôn kính gọi là “dagga” – loại thảo dược thiêng liêng của họ). Có nhiều trụ sở kinh doanh tại Hoa Kỳ của người Nam Phi được đặt ở New Orleans trong thời gian đó.

Đây là toàn bộ cơ sở về chủng tộc và tôn giáo (Giáo hội Công giáo thời Trung cổ) mà từ đó những điều luật chống cần sa của chúng ta đã phát sinh. Các bạn có thấy tự hào không?

Tính đến nay, 16 triệu năm thời gian của người Mỹ đã trôi qua trong các trại tạm giam, nhà tù, lệnh tạm tha có điều kiện và án treo chỉ vì cách lập luận phi lý mang đầy tính phân biệt chủng tộc này – và có lẽ còn những lý do về kinh tế nữa. (Xem Chương 4, “Những ngày cuối cùng của lệnh cấm.”)

Chẳng thú vị hay sao khi vào năm 1985, Hoa Kỳ đã giam cầm một số lượng người nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngoại trừ Nam Phi? Năm 1989, Hoa Kỳ đã vượt qua Nam Phi, và đến năm 1997 thì tỷ lệ giam cầm của Hoa Kỳ đã gấp gần bốn lần Nam Phi. Giờ đây, năm 2007, có hơn 2,2 triệu người đang bị giam cầm tại Hoa Kỳ.

Tổng thống Bush (Cha) – trong bài diễn thuyết tuyệt vời về chính sách phòng chống ma túy của ông ta vào ngày 5 tháng 9 năm 1989 – hứa tăng gấp đôi số người bị giam trong các nhà tù liên bang một lần nữa, sau khi con số đó đã được tăng gấp đôi dưới thời Reagan. Ông ta đã thành công. Năm 1993, Tổng thống Bill Clinton đã lên kế hoạch đến năm 1996, số tù nhân sẽ tăng gấp đôi thêm lần nữa. Ông ta đã hoàn thành kế hoạch.

Các bạn có nhớ cuộc phản đối vào năm 1979 – khi cựu Đại sứ LHQ Andrew Young đã cho thế giới biết rằng Hoa Kỳ có số tù nhân chính trị nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác?

(Amnesty International, ACLU.) Also, see Appendix: “Fighting the Police State.”

Những tàn dư còn tồn tại lâu dài

Mặc dù hoạt động hóa trang mặt đen đã biến mất giống như các điều luật từ cuối những năm 1920; nhưng cho đến tận những năm 1960, các nghệ sĩ giải trí da đen (như Harry Belafonte and Sammy Davis, Jr.) vẫn phải đi vào các rạp hát và quán bar, v.v. từ cửa hậu – đúng theo luật định!

Họ không thể thuê được một phòng khách sạn ở Las Vegas hay Miami Beach – cho dù họ đang lĩnh vai biểu diễn chính.

Màn biểu diễn của Ben Vereen trong Lễ nhậm chức Tổng thống năm 1981 dành cho Ronald Reagan đã trình bày về Luật Jim Crow và hoạt động hóa trang mặt đen diễn ra trên đất nước này trong giai đoạn chuyển đổi từ thế kỷ 19 sang thế kỷ 20 – toàn bộ được đặt trong một câu chuyện tuyệt vời kể về nghệ sĩ hài kịch da đen thiên tài Bert Williams (hoạt động trong khoảng năm 1890 đến năm 1920).

Vereen đã được mời tới để biểu diễn trong Lễ nhậm chức của Reagan và đã chỉ chấp nhận với điều kiện ông được kể lại toàn bộ câu chuyện về “Hóa trang mặt đen”. Tuy nhiên, toàn bộ nửa đầu buổi biểu diễn của Vereen kể về Bert Williams và vấn đề hóa trang mặt đen đã bị các nhân viên của Reagan kiểm duyệt trên kênh truyền hình ABC – trái với thỏa thuận đặc biệt mà Vereen đã có với họ.

Thư của Louis Amstrong tới Mezz

Nhiều nhạc sĩ nhạc Jazz, cả da trắng lẫn da đen, đều là những người hút cần sa và có sự sáng tạo chịu ảnh hưởng từ nó. Vào những năm 1930, nghệ sĩ da trắng Milton “Mezz” Mezzrow chính là “man with the jive”, người đã cung cấp cần sa cho rất nhiều nghệ sĩ khác. Điều này đã được miêu tả trong một trang của cuốn tự truyện của ông, Really the Blues (Random House, 1946). Trong một trang khác, Mezz bàn luận về sự khác biệt thiết yếu giữa những người nghiện rượu và những người dùng cần sa; những sự khác biệt mà chúng ta giờ đây tin rằng chính là chìa khóa dẫn đến cái đạo đức giả của việc giữ cho rượu bia hợp pháp, trong khi cần sa bất hợp pháp.

Trong Really the Blues, Mezzrow đã viết một cách cởi mở về cuộc sống của ông, âm nhạc của ông, việc sử dụng chất như thuốc phiện và cần sa, và tình bạn của ông với nhiều tên tuổi lớn khác trong giới nhạc jazz. Một trong số đó là Louis Amstrong.

Trong một bức thư cá nhân gửi tới Mezzrow, Amstrong đã khéo léo xin thêm một ít “Lo Zee Rose” và “Orchestration”, cả hai từ này đều là những từ được ẩn dụ tinh tế để chỉ cần sa.

Người Mỹ đã tự hào khi nói rằng nhạc jazz là một trong những loại hình nghệ thuật mới có khởi nguồn từ vùng bờ biển của họ. (Trên thực tế, nó có nguồn gốc từ Châu Phi). Có lẽ, đây cũng là lúc để thừa nhận rằng một phần nào đó của nhạc jazz cũng đã bắt nguồn từ Mexico.

Chương 10 – THẦN THOẠI, MA THUẬT & Y HỌC

Cái nhìn về mặt xã hội học của việc sử dụng cần sa trong xuyên suốt lịch sử thế giới

Ngược lại với nhận thức chung, “marijuana” không phải là một hiện tượng bắt nguồn từ những năm 1960. 

Cây gai dầu là một phần của di sản thế giới và là nền tảng của các nền văn hóa tồn tại lâu đời nhất và ổn định nhất của chúng ta. 

Những nghiên cứu gần đây về tâm lý-dược lý đã phát hiện ra rằng THC có những vị trí thụ thể độc nhất của chính nó trong não bộ, cho thấy con người và gai dầu có mối quan hệ văn hóa trước đó – thật vậy, văn hóa loài người rất có thể là kết quả của sự cộng sinh giữa chúng ta và gai dầu. (Xem Phụ lục)

Cái tên nói lên điều gì? (Phần 2)

Dưới đây là phần thông tin được trích từ một phần của Niên Giám Nông Nghiệp của USDA năm 1913 về cây gai dầu được viết bởi Lyster Dewey, trang 283-293:

Cái tên “hemp”, từ tiếng Anh cổ “hanf”, được sử dụng trong tiếng Anh trung cổ vào năm 1000 sau công nguyên (SCN), và chủ yếu vẫn là từ dùng để gọi loài cây Cannabis sativa. Nó cũng được dùng để chỉ loại sợi dài thu được từ loài thực vật này: loại sợi dệt sớm nhất, được biết đến nhiều nhất và được sử dụng rộng rãi nhất vào thời gian gần đây.

Nó từ lâu đã được xem là tiêu chuẩn giữa những loại sợi dài. Do đó, tên của nó được sử dụng như một thuật ngữ chung cho tất cả các loại sợi dài, trong khi cây gai dầu Ấn Độ hay true hemp là dùng để chỉ cây gai dầu (cannabis hemp). Hiện nay, thị trường hàng hóa sử dụng những cái tên như “gai dầu Manila” để chỉ abacá; “gai dầu sisal” để chỉ sisal và henequen; “gai dầu Mauritius” để chỉ sợi Furcraea; “gai dầu New Zealand”, phormium; “gai dầu Sunn”, Crotalaria; và “gai dầu Ấn Độ” để chỉ sợi đay. Tất cả những loài thực vật này đều không giống với cây gai dầu thực thụ về hình dáng và đặc tính kinh tế. Kỳ lạ thay, cái tên gai dầu không bao giờ được áp dụng cho sợi lanh – loại sợi gần giống với sợi gai dầu hơn bất kỳ loại sợi thương mại nào khác. 

True hemp được biết đến trong các ngôn ngữ khác nhau với cái tên: cannabis, tiếng Latinh; chanvre, tiếng Pháp; cañamo, tiếng Tây Ban Nha; canhamo, tiếng Bồ Đào Nha; canapa, tiếng Ý; canep, tiếng Albanian; konopli, tiếng Nga; konopi và penek, tiếng Ba Lan; kemp, tiếng Bỉ; hanf, tiếng Đức; hennup, tiếng Hà Lan; hamp, tiếng Thụy Điển; hampa, tiếng Đan Mạch; tai-ma, dai-ma và tse-ma, tiếng Trung Quốc; asa và taima, tiếng Nhật; nasha, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ; kanabira, tiếng Syria; kannab, tiếng Ả Rập.

Những người sử dụng gai dầu đầu tiên được biết đến

Những nhà sử gia cổ đại và hiện đại, nhà khảo cổ học, nhà nhân chủng học và nhà ngôn ngữ học trích dẫn những bằng chứng vật lý (đồ tạo tác, di tích, đồ dệt may, chữ tượng hình, ngôn ngữ, v.v.) cho thấy gai dầu là một trong những loại cây trồng lâu đời nhất của nhân loại. Dệt sợi gai dầu như một ngành công nghiệp đã bắt đầu từ 10.000 năm trước, cùng thời kỳ với kỷ nguyên đồ gốm và trước kỷ nguyên kim loại. *

*Columbia History of the World, Harper & Row, New York, 1981.

Vào thế kỷ 27 trước công nguyên (TCN), người Trung Hoa đã trồng “Ma” (cannabis hemp) để lấy sợi, làm thuốc/dược phẩm và thảo dược. Khoảng 3.700 năm sau (khoảng năm 1000 SCN), Trung Hoa gọi gai dầu là “Tai-Ma”, hay “cây gai dầu vĩ đại”, để phân biệt với những loại cây sợi nhỏ, ngày nay được nhóm lại dưới cái tên chung “Ma”. Từ tượng hình của họ cho cây gai dầu thật thụ hay cây gai dầu vĩ đại là hình “người” có kích thước lớn, cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và cây gai dầu.

Ít nhất là từ thế kỷ 27 TCN cho đến thế kỷ này, gai dầu đã được đưa vào hầu hết các nền văn hóa ở các nước Trung Đông, Tiểu Á, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, châu Âu và châu Phi.

Giữa năm 2300 TCN và năm 1000 TCN:

Các bộ tộc du mục, có thể đến từ Trung Á và Ba Tư (Iran và Iraq), trong truyền thuyết được gọi là “Aryans”, đã xâm chiếm và tràn vào toàn bộ lãnh địa Địa Trung Hải và Trung Đông và bành trướng sang vùng Kavkaz và phía Tây sang châu Âu.

Trong quá trình di chuyển và xâm lược, những người du mục này đã truyền bá gai dầu và những cách sử dụng khác nhau của nó từ hướng Tây và Bắc sang Hy Lạp, châu Âu, Trung Đông đến Ai Cập và châu Phi, cũng như sang hướng Nam và Đông qua dãy Himalaya đến Ấn Độ. 

Gai dầu được đưa vào các nền văn hóa Trung Đông và Ấn Độ như một nguồn cung cấp thực phẩm, dầu, sợi, và dược phẩm dồi dào. Gai dầu không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm hàng ngày, mà dược phẩm/thuốc làm từ gai dầu còn là mối liên kết trong các nghi lễ đến các vị thần.*

*Thông thường, những người trồng và/hoặc sử dụng gai dầu cho những mục đích công nghiệp hàng ngày không biết và không được dạy (theo luật tín ngưỡng/điều cấm kỵ) rằng mục sư/ pháp sư/ thầy mo/ v.v. đã từng sử dụng chiết xuất từ những bộ phận khác nhau của một loài thực vật để làm bí tích, dược phẩm, thuốc chữa bệnh, và như là một phương thức giao tiếp với các vị thần.

Gai dầu & Lưỡi hái

Gai dầu chắc chắn đã được người Scythia sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Chẳng hạn như, người Scythia cổ đại trồng và thu hoạch cây gai dầu bằng dụng cụ gặt tay mà chúng ta vẫn thường gọi là lưỡi hái. Việc người Scythia hít gai dầu trong các nghi lễ tang lễ đã được nhà sử gia người Hy Lạp tên là Herodotus ghi lại vào đầu thế kỷ thứ 5 TCN. Những người du mục Scythia đã truyền bá phong tục này đến các chủng tộc khác như người Thracia.

(Emboden, W.A., Jr., Flesh of the Gods, Praeger Press, NY, 1974.)

Loại sợi của nền văn minh

Ít nhất là từ thế kỷ 27 TCN cho đến thế kỷ này, gai dầu được đưa vào hầu hết các nền văn hóa của Trung Đông, Tiểu Á, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, châu Á và châu Phi như một loại sợi cao cấp, dược phẩm, dầu, thực phẩm và cho mục đích thiền định và giải trí.

Gai dầu là một trong những ngành công nghiệp quan trọng nhất của tổ tiên chúng ta, cùng với việc chế tạo công cụ, trồng trọt và chăn nuôi.

Từ gai dầu và sự thi hành pháp luật

Gai dầu đã có một mối quan hệ kỳ lạ với các quy tắc pháp lý của thế giới trong xuyên suốt lịch sử. Như đã đề cập đến trước đây, việc trồng gai dầu đều bị xem là bất hợp pháp tại những thời điểm khác nhau. Nhưng gai dầu cũng đóng một vai trò trực tiếp trong việc thi hành pháp luật.

Chẳng hạn như: Hình phạt/cải tạo nặng nhất được áp dụng ở nhiều bộ tộc ở châu Phi đối với những tội hình sự là buộc những kẻ phạm tội phải hút cần hoặc tiêu thụ một lượng lớn dagga (cần sa) không ngừng trong nhiều giờ liên tục trong một túp lều nhỏ, chật kín cho đến khi họ ngất đi theo đúng nghĩa đen vì phải hít phải một lượng khói quá lớn. Lượng cần sa được sử dụng tương đương với lượng tiêu thụ của một hoặc hai năm của một người Mỹ nghiện hút cần sa nặng, và được tiêu thụ chỉ trong vòng một giờ hơn. Nó có hiệu quả không? Người dùng châu Phi cho biết tỷ lệ tái phạm tội hình sự sau khi điều trị bằng dagga gần như là không có.

Nền văn hóa ở châu Âu và châu Mỹ đã từng sử dụng sợi gai dầu để thực thi luật pháp của họ với mức hình phạt cuối cùng là tử hình: treo cổ bằng sợi gai dầu*

Merry boys are we…As e’re did sing… In a hempen string… Under the gallows tree.” John Fletcher Rollo, Duke of Normandy; Act III, sc. 3; 1639. “We’re bound to stop this business, or hang you to a man… For we’ve hemp and hand enough in town to hang the whole damn clan.” From a horse thief‘s tombstone in Rapid City, SD, 1877: Shushan, E.R.; Grave Matters; Ballantine Books, NY, 1990. Also see Hemp for Victory, USDA film; 1942.

Dược liệu từ cần sa

Bí mật đặc tính y học của cần sa được chứng minh có hiệu quả trong việc chữa lành vết thương, giãn cơ, giảm đau, hạ sốt và hỗ trợ sinh nở, và hàng trăm ứng dụng y học khác.

(Mikuriya, Tod H., M.D., Marijuana: Medical Papers, 1839-1972, Medi-Comp Press, Oakland, CA, 1973; Shultes, R.E., Harvard Botanical; Ency. Brittanica; Abel, Ernest, Marijuana: The First 12,000 Years;. Plenum Press, 1980; Vera Rubin, Cannabis and Culture, Institute for the Study of Man, 1968-1974 and second studies 1974-1976; et. al.)

Việc phân luồng thông tin về loại thảo dược thần thánh này và những ứng dụng công nghiệp của gai dầu đã được các mục sư duy trì nghiêm ngặt trong hàng nghìn năm, cho đến vài thế kỷ trước. Những người ngoài tầng lớp mục sư sở hữu kiến thức về loại thánh dược này bị các mục sư coi là phù thủy/thầy bói/kẻ ngoài vòng pháp luật và thường bị kết án tử hình.

Những nhà triết gia huyền bí

Truyền thuyết về gai dầu và việc tiêu thụ chúng là những khía cạnh cơ bản của nhiều tôn giáo/tín ngưỡng lớn trên thế giới. Chẳng hạn như:

SHINTOISM – Thần Đạo (Nhật Bản) – Gai dầu được sử dụng để thắt chặt tình cảm vợ chồng, xua đuổi tà ma, và mang đến tiếng cười và hạnh phúc trong hôn nhân.

HINDUISM – Ấn Độ Giáo (Ấn Độ) – Thần Shiva được cho là “đã mang gai dầu từ dãy Himalaya đến với loài người cho mục đích giải trí và giác ngộ bản thân”. Các tu sĩ Sadhu đi khắp Ấn Độ và thế giới chia sẻ về ống tẩu “chillum” chứa đầy gai dầu, đôi khi được pha trộn với các hợp chất khác. Trong văn cổ Bhagavad-Gita, Krishna nói rằng “Tôi là một loại thảo dược chữa bệnh” (Chương 9, trang 16), trong khi sử thi Bhagarat-Purana Canto 5 mô tả hashish (cần sa) bằng những thuật ngữ đậm chất tình dục.

BUDDHISM – Phật Giáo (Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Hoa) – từ thế kỷ thứ 5 TCN, cần sa được sử dụng trong các nghi thức, nghi lễ nhập môn và những trải nghiệm huyền bí đã (và đang) phổ biến ở nhiều Tông phái Phật giáo Trung Hoa. Một số Phật tử Tây Tạng và các Lạt ma coi cần sa là loài cây thần thánh nhất đối với họ. Nhiều phong tục, văn kiện và tín ngưỡng Phật giáo chỉ ra rằng bản thân Đức Phật “Tất Đạt Đa”, đã không sử dụng và ăn gì ngoài cây và hạt của cây gai dầu trong sáu năm trước khi ngộ ra chân lý và trở thành Đức Phật (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo).

Theo Hỏa giáo hay Magi (Ba Tư, khoảng thế kỷ thứ 8-7 TCN cho đến thế kỷ 3-4 SCN), nhiều học giả Cơ Đốc giáo, v.v. tin rằng “ba Vua” hay còn gọi là Hiền sĩ, người đã đến và chứng kiến sự ra đời của Chúa Jesus chính là ám chỉ những người từ Hỏa giáo. Sự phát triển của Hỏa giáo đều dựa trên cây cần sa, bí tích tôn giáo chủ yếu của tầng lớp tu sĩ, và những phương thuốc dân gian quan trọng của chính giáo phái này (chẳng hạn như phương thuốc trợ sinh, nghi lễ dâng hương, dầu để thoa và sử dụng trong lễ rửa tội), cũng như dùng làm dầu để thắp sáng hoặc dầu lửa trong cuộc sống thế tục của mình. Từ “magic” thường được cho là có nguồn gốc từ từ “Magi” trong Hỏa giáo.

ESSENES (giáo phái cổ đại của Israel gồm những người Do Thái cực đoạn, khoảng từ năm 200 TCN đến năm 73 SCN) đã sử dụng gai dầu trong y học. :

Tương tự, giáo phái THERAPUTEA (Ai Cập), là nguồn gốc của từ “therapeutic”, nghĩa là “trị liệu”. Một số học giả tin rằng họ có liên hệ mật thiết với các tu sĩ/pháp sư của Hỏa giáo (Zoroastrians).

EARLY JEWS –  một phần của các buổi thánh lễ vào ngày thứ 6 tại Đền thờ Solomon, khoảng 60-80.000 người đàn ông đã thực hiện theo nghi thức và hít 20.000 cây nhang chứa đầy kanabosom (cần sa), trước khi trở về nhà và đón nhận bữa ăn hoành tráng nhất của tuần (munchies?).

SUFIS OF ISLAM – Hồi giáo Mật tông (Trung Đông) – Những giáo sĩ Hồi giáo “thần bí” đã từng dạy, sử dụng và ca ngợi cần sa cho sự giác ngộ thiêng liêng, sự thông tuệ và hợp nhất với Allah, trong ít nhất 1.000 năm qua. Nhiều học giả Hồi giáo và thế giới tin rằng chủ nghĩa thần bí của các giáo sĩ Hồi giáo Mật tông là những người thuộc Hỏa giáo còn sống sót sau cuộc chinh phạt của Hồi giáo vào thế kỷ thứ 7 và 8 SCN và sự cải đạo sau đó (buộc thay đổi tôn giáo của bạn và từ bỏ rượu hay bị chém đầu).

COPTIC CHRISTIAN – Chính thống giáo (Ai Cập/Ethiopia) – Một số giáo phái tin rằng “cây cỏ ngoài đồng” linh thiêng xuất hiện trong Kinh thánh (“Ta sẽ trồng nó trong khu vườn đầy tiếng tăm, nó sẽ không chết đi trong lòng đất mẹ, và cũng không còn chịu sự hổ nhuốc từ những kẻ dốt nát thêm lần nào nữa” Ezekiel 34:29), các loại hương trầm huyền bí và dầu xức đều làm từ cần sa.

BANTUS (Châu Phi) – có các giáo phái Dagga bí mật* và xã hội đã giới hạn việc sử dụng cần sa cho những người cầm quyền. Người Pygmy, Zulu và Hottentot đều nhận thấy nó là một loại thuốc không thể thiếu đối với chứng chuột rút, động kinh, bệnh gút, và là một phần của phép bí tích tôn giáo.

Chú thích ảnh: Một người pygmy đang sử dụng “dagga” (cần sa)

*Các giáo phái “Dagga” này tin rằng Cần sa Thần thánh (Holy Cannabis) được các Chúa trời mang vào Trái Đất, đặc biệt là hệ “Thiên Lang Tinh”, mà chúng ta thường gọi là Sirius A và B. “Dagga” nghĩa đen là “cần sa”. Điều thú vị là những người còn sót lại trong chủng tộc Ấn-Âu có thể gọi loài thực vật này bằng từ “canna”, “reed” và “bi”, “hai”, cũng như từ “canna” để chỉ về loài chó; và từ “bis” để ám chỉ số 2 (bi) Cannabis – “Hai con chó”.

RASTAFARIANS – Tín ngưỡng Rasta (Jamaica và một số nơi khác) là một tôn giáo đương đại, sử dụng “ganja” (cần sa) làm bí tích thiêng liêng để giao tiếp với Chúa (Jah).

Trí tuệ tự nhiên 

Những nghiên cứu được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ tại Đại học Y St. Louis vào năm 1989 và Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia của chính phủ Hoa Kỳ vào năm 1990 đã đưa nghiên cứu về cần sa sang một chương mới khi xác nhận rằng não người có các vùng tiếp nhận thụ thể THC và những hợp chất cannabinoid khác có trong loài thực vật này – tính đến thời điểm hiện tại, đây là những hợp chất duy nhất có khả năng liên kết với các điểm này.

Để có thể ảnh hưởng đến não bộ, bất kỳ loại hóa chất nào đều phải liên kết với một vị trí thụ thể có khả năng tiếp nhận chúng.

(Omni, August 1989; Washington Post, Aug 9, 1990)

Mặc dù morphine tương đối khớp với các vị trí tiếp tiếp nhận thụ thể của beta-endorphin, và amphetamine cũng tương đối khớp với dopamine, nhưng những loại thuốc này cũng như các loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng và một số loại thuốc làm thay đổi tâm trạng khác có thể làm ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đến sự cân bằng của các chất dịch thần kinh quan trọng. Omni và Washington Post đã nói rằng các hợp chất có trong cần sa tự nhiên không mang đến những nguy hiểm về mặt thể chất.

Cần sa rất an toàn khi sử dụng là vì nó không tác động đến bất kỳ loại cơ không tự chủ nào điều khiển quá trình hô hấp và duy trì sự sống. Thay vào đó, nó ảnh hưởng đến các vị trí tiếp nhận thụ thể của chính nó liên quan đến chuyển động (chiến lược chuyển động) và trí nhớ (chiến lược trí não).

Ở cấp độ phân tử, THC có thể liên kết với các vị trí tiếp nhận thụ thể ở phần trên của não, dường như được thiết kế dành riêng để liên kết với THC. Điểm này cho thấy sự cộng sinh lâu đời giữa loài thực vật này và loài người.

Có lẽ những con đường thần kinh này là sản phẩm của mối quan hệ lâu đời giữa con người và cần sa. Carl Sagan đã đưa ra bằng chứng nhờ những người thổ dân Châu Phi (Bushmen) để cho thấy rằng cây gai dầu là loài thực vật đầu tiên được nhân loại trồng từ thời săn bắt hái lượm. Một số nhà khoa học cho rằng những vị trí tiếp nhận thụ thể này không được sinh ra với mục đích mang đến cảm giác phê: “Phải có một số con đường thần kinh nào đó trong não bộ được hình thành, dù có hay không có cần sa”, Allyn Howlett suy đoán – Giáo sư về dược học tại Đại học St. Louis, năm 1989.

Nhưng, có lẽ không phải vậy. Trong quyển Intoxication: Life in Pursuit of Artificial Paradise, Tiến sĩ Ronald K. Siegel – nhà dược lý, tâm lý học tại UCLA đã chỉ ra sự thúc đẩy để đạt được trạng thái thay đổi ý thức hoặc tâm trạng chính là ham muốn bản năng thứ 4, tương tự như việc đói, khát và tình dục. Và con người không phải là loài duy nhất cảm nhận được cảm giác phê. Siegel đã ghi lại chủ ý muốn được phê của động vật qua nhiều lần quan sát trong các thí nghiệm của ông.

Cây gai dầu (cannabis hemp) là một phần di sản văn hóa, tâm sinh lý của chúng ta, và là nền tảng vững chắc của các nền văn hóa tồn tại lâu đời và ổn định nhất. 

Che giấu trong bí mật

Khởi đầu hay cơ sở của những tín ngưỡng tôn giáo ở tất cả các chủng tộc và dân tộc – Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ, Ai Cập, Ba Tư, Babylon, Hy Lạp, Doric, Đức và các bộ tộc châu Âu khác, cũng như các bộ tộc châu Phi và Bắc, Nam, Trung Mỹ đã nở rộ như một kết quả của những khám phá tình cờ.

Có những trải nghiệm cận kề cái chết, đói nghèo, vận dụng hơi thở, khát, sốt và vui chơi mất kiểm soát do vô tình sử dụng các sản phẩm lên men từ rượu, bia, nấm thức thần (psilocybe) và nấm Amanita, rượu cần sa (bhang) và các chất hướng thần khác – mà khi tiêu thụ, có thể tạo ra những cảm giác trải nghiệm không thể giải thích được (so với những trải nghiệm bình thường). Các hợp chất có trong loài thực vật thần thánh này đã mang đến cho tổ tiên của chúng ta những ảo cảnh bất ngờ, bất chợt, và khó có thể tưởng tượng ra được và những cuộc hành trình đi sâu vào tiềm thức, và đôi khi, trở thành cảm giác của những người cùng chung chí hướng.

Việc hiểu được những phương thuốc và trải nghiệm từ loại thuốc này cuối cùng đã trở thành kiến thức tâm linh, được khao khát và cần thiết nhất đối với mỗi bộ tộc. Chữa lành! Từ chiết xuất nào? Với liều lượng bao nhiêu?

Nắm giữ kiến thức huyền bí này cho các thế hệ tương lai là nhiệm vụ vô giá của các bộ tộc. Để biết loài thực vật nào có thể mang đến những trải nghiệm gì, ở mức độ nào và hỗn hợp các chất mang đến sức mạnh cho sự thông thái đó!

Vì thế, “kho tàng kiến thức thiêng liêng” này được bảo vệ một cách đầy đố kị bởi những thầy lang/ tu sĩ, và được mã hóa một cách huyền bí trong những phong tục và câu chuyện thần thoại được truyền miệng và ghi chép lại. Loài thực vật có khả năng ảnh hưởng đến tâm trí được gắn liền với những đặc trưng của loài người hoặc động vật, chẳng hạn, nấm Amanita Muscaria được đại diện bởi những nàng tiên. 

*Chú thích thêm: Nấm Amanita Muscaria, hay nấm tán bay (Fly Agaric) có vẻ ngoài đẹp đẽ như cây nấm trong truyện cổ tích, có thể mọc ngoài tự nhiên thành vòng tròn, được gọi là vòng tròn tiên (fairy ring).

Để tiếp tục nắm giữ quyền lực chính trị của mình, các mục sư, thầy mo và thầy lang đã cố tình che giấu những phong tục này khỏi những thành viên khác trong “cùng” bộ tộc (và tất cả các bộ tộc khác). Điều này cũng đã ngăn chặn “tội” nguy hiểm như vô tình nuốt phải, pha chế hoặc thử nghiệm của những đứa trẻ trong bộ tộc; cũng không cho phép các thành viên trong bộ tộc khi bị bắt giữ tiết lộ những kiến thức thần thánh này cho kẻ thù của họ.

Những nghi thức và tôn giáo thuộc về tâm linh cũng như loại “thánh dược cổ đại” có từ thời tiền sử này, được người La Mã từ thời Caesar gọi là “Tín ngưỡng bí ẩn phương Đông”.

Người Do Thái

Gai dầu từng là một ngành công nghiệp chính trong các thời kỳ của kinh thánh. Cũng giống như các nền văn hóa khác trên khắp khu vực Trung Đông, những phong tục huyền bí của người Do Thái (như là: Cabala) được biết đến và liên kết với các giáo phái trong khu vực bằng cách sử dụng những hợp chất gây say tự nhiên trong các nghi lễ của họ. Như thường lệ, họ ẩn giấu những kiến thức này đằng sau những nghi lễ, biểu tượng và mật mã để bảo vệ các bí tích tự nhiên như “nấm thánh” và các loại thảo dược giúp nâng cao tâm trí, bao gồm cả cần sa.

Allegro, J.M.; Sacred Mushroom & the Cross, Doubleday Co., 1970.

Kinh thánh nói gì?

Việc tìm kiếm những tài liệu tham chiếu được mã hóa về cần sa và các loại thánh dược khác trở nên khó khăn hơn do thiếu tên của các loài thực vật, sự khác nhau trong các bản dịch, sử dụng “sách” khác nhau bởi các tôn giáo khác nhau, những bình luận được thêm vào các tài liệu gốc và các cuộc thanh trừng định kỳ của các mục sư đối với những tài liệu được coi là không phù hợp.

Tuy nhiên, chúng tôi phát hiện rằng việc sử dụng cần sa chưa bao giờ bị cấm hay không được khuyến khích trong Kinh thánh. Một số đoạn còn đề cập trực tiếp đến bản chất lành mạnh của việc sử dụng những loại thảo dược như cần sa và thậm chí còn tiên đoán trước được sự cấm đoán này.

“Trời sinh cây sinh cỏ; cây cỏ kết hạt giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà hạt giống lại tiếp tục sinh sôi nảy nở: và Chúa thấy được điều đó là tốt đẹp.” Genesis: Chương 1: Verse 12 (Kinh Thánh của King James).

“Chúa khiến cho Trái Đất sinh ra các loại thảo dược có khả năng chữa lành bệnh tật, mà loài người không nên bỏ qua”. Sirach: 38:4 (Kinh thánh Công giáo)

“Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”. Chúa Giêsu, trích dẫn: Matt. 15:11.

“Một thời gian sau đó, một số… sẽ nói lời dối trá…ra lệnh kiêng cử những gì mà Thượng Đế đã tạo ra cho chúng ta là những người tin và biết chân lý, với tinh thần cảm tạ.” Paul: 1 Tim. 4:1

Đạo Cơ Đốc thuở sơ khai

Những nhà sử gia, những tác phẩm nghệ thuật thời kỳ đầu, Kinh thánh, Cuộn Biển Chết, Phúc Âm Ngộ Đạo, hay những lá thư từ những Giáo Phụ thuở ban đầu, v.v. cho biết rằng trong khoảng 300-400 năm đầu tiên SCN, nhiều giáo phái Cơ Đốc rất hiền từ. Họ thường cởi mở, khoan dung và không theo cơ cấu: tôn giáo của người nghèo hay tôn giáo của nô lệ.

La Mã xem Cơ Đốc giáo đơn giản chỉ là một giáo phái Bí ẩn Phương Đông gây nhiều phiền phức, giống như giáo phái Mithras hay Isis, sau đó trở thành giáo phái phổ biến nhất tại Đế Quốc.

Đế quốc La Mã Thần thánh

Phải đối mặt với một đế chế đang trên đà sụp đổ, tham nhũng chính trị và một loạt các cuộc chiến tranh tàn khốc với những người man di, Đế chế La Mã cổ đại đang đứng trên bờ vực của cuộc thảm họa. Các cuộc đấu tranh tôn giáo do cơ quan cầm quyền ở La Mã thực hiện để duy trì quyền lực của mình đã khiến cho các nhà lãnh đạo chính trị đàn áp sự đa dạng lành mạnh của các tín ngưỡng và tôn giáo cá nhân.

Để tự giải cứu mình về mặt chính trị, những người cầm đầu trước kia của đế chế theo thuyết phiếm thần đã thay đổi chính sách của mình. 

Bắt đầu từ năm 249 SCN, nhiều vị hoàng đế đã phát động một loạt các cuộc đàn áp đẫm máu, bao gồm cả những người theo đạo Cơ Đốc. Đến năm 306 SCN, có một sự thật rõ ràng rằng điều này không mang đến hiệu quả. Hoàng đế Constantine đã hủy bỏ các lệnh hành quyết và bắt đầu bảo trợ cho các giáo sĩ thuộc Cơ Đốc giáo, điều này nhanh chóng áp dụng một giáo điều từ “giáo phái Mithras”, giữa những giáo phái khác: “Dòng máu Hoàng gia”, hay “Quyền cai trị người khác”.

Đế chế Constantine đầy tham vọng thấy rằng bên dưới giáo hội đã phát triển thành một hệ thống phân chia cấp bậc chặt chẽ; một mạng lưới được tổ chức tốt có sức ảnh hưởng thứ hai đối với ông. Bằng cách kết hợp giáo hội và đế chế, môi bên có thể gia tăng quyền lực gấp đôi của mình và tìm kiếm những tội ác/tội lỗi của tất cả các đối thủ chính trị và kẻ thù của mình với sự hỗ trợ/chúc phúc của bên còn lại.

Columbia History of the World, Harper & Row, NY, 1981.

Hoàng đế Constantine đã sớm cải đạo sang Cơ Đốc giáo và tuyên bố một tôn giáo bắt buộc, duy nhất được đế chế trao quyền: Giáo hội Công giáo La Mã ((R.C.Ch.); theo nghĩa đen, Giáo hội Hoàn vũ – Roman Universal Church (“catholic” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “hoàn vũ”. Đây là tôn giáo chính thức và tuyệt đối của đế chế. Trong một lần càn quét, tất cả các hội kín đều bị cho ra ngoài vòng pháp luật – những thứ có thể đe dọa đến nhiệm vụ thống trị thế giới của mình, như cách họ đã thực hiện trong 400 năm liên tiếp trước đó.

Giáo hội/ Đế chế Quý tộc

Sau khi chạy khỏi vòng vây của đội quân Đế chế La Mã trong gần 300 năm, những tư tế chính thống thuộc Cơ Đốc giáo đã trở thành người ra lệnh cho họ. Bắt đầu từ thế kỷ 4, 5 và 6 SCN, những tín ngưỡng ngoại giáo và tất cả các giáo phái khác thuộc Cơ Đốc giáo, hệ thống tín ngưỡng, kiến thức, sách Phúc Âm, v.v. chẳng hạn như Essenes, Gnostics và Merovingian (Franks), được đưa vào hoặc chỉnh sửa khỏi đạo giáo chính thống và hệ thống cấp bậc.

Cuối cùng, hàng loạt các hội nghị tôn giáo, tất cả những giáo điều đi theo hướng ngược lại (chẳng hạn như, Trái Đất hình tròn, khoảng cách giữa mặt trời và những vì sao vượt hơn từ 5 – 17 dặm) được đặt ngoài vòng pháp luật và hoạt động ngầm trong suốt Thời kỳ Tăm tối, từ năm 400-1000 SCN.

Tới đầu thời kỳ Trung Cổ, vào đầu thế kỷ 11 SCN, hầu như mọi quyền lực đều nằm trong tay của Giáo hội và Giáo hoàng; đầu tiên là những người chinh phục Đức, và sau đó là các vị vua của Tây Ban Nha và Pháp, những thương nhân quý tộc và quyền lực người Ý (Quý tộc Borgia, Medicis và những kẻ vĩ cuồng khác), có lẽ là để bảo vệ bí mật thương mại, liên minh và của cải của họ.

Tất cả người dân châu Âu buộc phải tuân thủ theo chính sách của Đế quốc La Mã “Thần thánh”: Chính sách không khoan nhượng do giáo hội/đế chế thực thi với niềm tin mù quáng vào cách thức tôn sùng Chúa, không được phép nghi ngờ… và Ơn bất khả ngộ của Giáo hoàng.

Những nhà cầm quyền chính trị đã hỗ trợ và tiếp tay cho Giáo hội trong âm mưu gian trá này, vì quyền lực giờ đây của họ chỉ dựa vào giáo điều mới của Cơ Đốc giáo, “Quyền lực thần thánh” để cai trị.

Họ đã ban hành luật pháp với những hình phạt cực kỳ độc ác cho dù là đối với những vi phạm nhỏ nhất hay sự dị giáo. *Những người dị giáo đã bị truy lùng một cách không thương tiếc bởi những kẻ tra thẩm cuồng giáo tàn bạo, sau đó sử dụng những hình thức tra tấn tàn bạo để bắt thú nhận tội và trừng phạt.

*Từ điển Webster định nghĩa “Her-e-sy (her´e se)” là: 

  1. Tín ngưỡng tôn giáo đối lập với giáo điều của Giáo hội
  2. Bất kỳ ý kiến nào (về triết học, chính trị, v.v.) chống lại các quan điểm hoặc học thuyết chính thống hay được thiết lập.
  3. Việc nắm giữ bất kỳ tín ngưỡng hoặc quan điểm nào như vậy.

Chính sách này đã khiến cho hầu hết những người dân sinh sống ở phương Tây luôn trong tình trạng khủng hoảng, không chỉ về sự an toàn thể chất và sự tự do của họ, mà còn là về mặt tinh thần lâu dài, với “Địa ngục” cạnh kề đối với những người bị Giáo hội khai trừ.

Thể chế Chính trị

Quần chúng – “những con người bình thường”, bị kiểm soát thông qua một hệ thống kép của nỗi sợ hãi và tình trạng mù thông tin. Tất cả việc học ngoài trừ những gì cơ bản nhất đều bị kiểm soát và quy định nghiêm ngặt bởi các tư tế.

Những người bình thường (khoảng 95% người dân) bị cấm học cách đọc và viết – thậm chí là bảng chữ cái – và thường bị trừng phạt hay tử hình vì dám thực hiện điều này.

Người dân cũng bị cấm học tiếng Latinh, ngôn ngữ của Kinh thánh. Điều này giúp cho một số tư tế có thể đọc và giải thích kinh thánh theo bất kỳ cách nào mà họ muốn trong khoảng 1.200 năm, cho đến khi xuất hiện cuộc Cải cách ở Châu Âu, khoảng năm 1600.

Để ngăn cấm kiến thức, con người đã bị giam cầm trong bóng tối theo nghĩa đen, không có một mảnh giấy để viết. Các tu viện đã bảo tồn và bảo vệ những bí mật của cây gai dầu. Họ nhận thấy rằng gai dầu mang đến hai mối đe dọa đối với chính sách kiểm soát tuyệt đối của họ: sản xuất giấy và đèn dầu. Do vậy họ phải làm một điều gì đó…

Lệnh cấm dược phẩm từ gai dầu

Trong khi coi rượu là một bí tích, và việc uống nhiều bia và rượu được coi là bình thường, Pháp đình tôn giáo đã cấm tiêu thụ cần sa ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 12 và ở Pháp vào thế kỷ 13. Những phương thuốc tự nhiên khác cũng đồng thời bị cấm. Bất kỳ ai sử dụng cần sa để truyền bá, chữa bệnh, v.v. đều bị coi là “phù thủy”.

Chẳng hạn như, Gioanna xứ Arc bị buộc tội vào năm 1430 – 1431 vì đã sử dụng nhiều loại thánh dược “phù thủy”, bao gồm cả cần sa, để nghe giọng nói thần bí.

Giáo hội ra lệnh trừng phạt các phương thuốc hợp pháp

Dường như phương thuốc chữa bệnh hợp pháp duy nhất được các Giáo Phụ của Giáo hội Công giáo La Mã cho phép người dân Tây Âu sử dụng thời bấy giờ là:

  1. (a) Đeo mặt nạ mỏ chim để tránh lây nhiễm bệnh tật. (b) Cố định xương gãy hoặc làm sạch vết bỏng.
  2. Lấy máu và thậm chí là cả 1 lít máu từ bệnh nhân bị cảm cúm, viêm phổi hoặc sốt là phương pháp điều trị được các bác sĩ sử dụng nhiều nhất ở châu Âu và châu Mỹ cho tới đầu những năm 1900. Nó không mang đến hiệu quả! Và không có tác dụng cho dù họ có lấy bao nhiêu máu.
  3. Cầu nguyện với các vị thánh để có được phương pháp chữa bệnh kỳ diệu, chẳng hạn: Thánh Anthony đối với ngộ độc Ecgôtin, Thánh Odilla đối với tình trạng mù lòa, Thánh Benedict đối với tình trạng ngộ độc nói chung, và Thánh Vitus đối với các tình trạng co giật và động kinh.
  4. Dùng rượu bia để chữa bệnh.

Năm 1484, Giáo hoàng Innocent VIII đã phản đối những người chữa bệnh bằng cần sa và các nhà thảo dược học khác, tuyên bố rằng cây gai dầu là một bí tích xấu xa của Lễ Quỷ Satan thứ hai . Sự bức hại này đã kéo dài hơn 150 năm. Theo Giáo hội thời Trung Cổ, cuốn Kinh của Quỷ có 3 thể loại:

  • Để triệu hồi hay thờ phụng Satan
  • Có được kiến thức của Phù thủy (như nhà hóa học hay thảo dược học) về việc bào chế, sử dụng các hợp chất bao gồm cả cần sa làm thuốc hay như một bí tích tâm linh;
  • The Mass of the Travesty, có thể được so sánh với bộ phim “The Simpsons”, “In Living Color”, trong nhạc rap, Mel Brooks, “Second City-TV”, “Monty Python” hay “Saturday Night Live” (kiểu Father Guido Sarducci) thực hiện những hành động bất kính, khôi hài và châm biếm các giáo điều, học thuyết, sự đặc ân và nghi lễ của Giáo hội Công giáo La Mã, lễ tế và/hoặc niềm tin tuyệt đối.

Bởi vì những tư tế thời Trung Cổ nghĩ rằng đôi khi bị những người dưới trướng cười nhạo, chế giễu và khinh miệt – thường là bởi các tu sĩ, giáo sĩ và những người cầm đầu – việc tiêu thụ cần sa được coi là dị giáo và xấu xa.

Mâu thuẫn

Bất chấp cuộc tấn công kéo dài hàng thế kỷ của những lực lượng chính trị và tôn giáo hùng mạnh nhất trong nền văn minh phương Tây, việc canh tác gai dầu vẫn tiếp tục ở Bắc Âu, châu Phi và châu Á. Trong khi Giáo hội bắt bớ những người sử dụng cần sa ở châu Âu, thì những người chinh phục Tây Ban Nha lại bận rộn canh tác gai dầu ở khắp nơi trên thế giới để cung cấp thuyền buồm, dây thừng, xơ dây thừng, vải vóc, v.v.

So sánh của Thomas Jefferson

“… cây gai dầu tốt nhất và cây thuốc lá tốt nhất mọc trên cùng một loại đất. Loài cây thứ nhất (gai dầu) là thiết yếu đối với thương mại và hàng hải, nói cách khác là đối với sự giàu có và an ninh quốc gia. Loài cây còn lại thì không bao giờ hữu ích và đôi khi có hại, nhưng được ước tính giá trị từ các loại thuế mà nó phải chịu. ”

Thomas Jefferson đã viết và đứng lên đại diện cho cây gai dầu nhiều lần, buôn lậu hạt giống gai dầu quý hiếm vào Mỹ, thiết kế lại phanh cây gai dầu, lưu giữ nhật ký nông trại và vườn của mình, trong đó, vào ngày 16 tháng 3 năm 1791, ông viết: “Sự canh tác [của thuốc lá] là sự độc hại. Loại cây này làm kiệt quệ đất. Tất nhiên, nó cần nhiều phân, do đó các sản phẩm khác bị thiếu phân, không có nguồn dinh dưỡng cho gia súc, không có lợi nhuận cho lượng phân đã sử dụng….

“Nó là phi chính trị. Thực tế đã được chứng minh rõ ràng trong hệ thống nông nghiệp là cây gai dầu tốt nhất và cây thuốc lá tốt nhất mọc trên cùng một loại đất. Loài cây thứ nhất (gai dầu) là thiết yếu đối với thương mại và hàng hải, nói cách khác là đối với sự giàu có và an ninh quốc gia. Loài cây còn lại thì không bao giờ hữu ích và đôi khi có hại, nhưng được ước tính giá trị từ các loại thuế mà nó phải chịu. Sự ưu tiên được đưa ra khi xem xét kết quả của sự so sánh giữa chúng:

Cây gai dầu ở trạng thái thô sơ nhất sử dụng nhiều lao động hơn thuốc lá, nhưng là nguyên liệu cho sự sản xuất của nhiều mặt hàng, sau đó trở thành phương tiện hỗ trợ cho nhiều người, do đó nó được ưa chuộng ở một quốc gia đông dân. ”

“Mỹ nhập khẩu cây gai dầu và sẽ tiếp tục làm như vậy, và cả các mặt hàng lặt vặt làm từ cây gai dầu, chẳng hạn như dây buộc, vải buồm…

Tuy nhiên, Gai dầu vẫn kiên cường

Đế chế Ottoman tàn bạo đã chinh phục Ai Cập, và vào thế kỷ 16 SCN, đã cố gắng cấm cây gai dầu – bởi vì những người trồng gai dầu ở Ai Cập dọc theo sông Nile đã dẫn đầu trong công cuộc chống đối về thuế. Người Thổ Nhĩ Kỳ than vãn rằng việc sử dụng cần sa khiến cho người Ai Cập cười nhạo và không tôn trọng Hoàng Đế và những cận thần của ông. Năm 1868, Ai Cập đã trở thành quốc gia hiện đại đầu tiên (?) cấm sử dụng gai dầu, tiếp đến là người Nam Phi gốc Âu vào năm 1910 để trừng phạt và ngăn chặn người da đen thi hành tín ngưỡng và tôn giáo Dagga cổ đại của họ.

Ở châu Âu, cây gai dầu được sử dụng rộng rãi cả trong công nghiệp và y học, từ Biển Đen (Bán đảo Krym) đến Quần đảo Anh, đặc biệt là ở Đông Âu. Lệnh cấm của Giáo hoàng đối với các phương thuốc được điều chế từ gai dầu ở Đế quốc La Mã Thần thánh vào năm 1484 không thể thi hành đối với khu vực phía bắc dãy Alps, và cho đến ngày nay người Ru-ma-ni, Séc, Hungary và Nga đã thống trị trong ngành cần sa học so với thế giới.

Ở Ireland, vốn đã nổi tiếng thế giới về vải linen từ gai dầu, người phụ nữ tại Ireland muốn biết người cuối cùng mà mình sẽ kết hôn được khuyên là nên tìm kiếm sự huyền cơ này thông qua cây gai dầu.

Cuối cùng, việc giao thương gai dầu một lần nữa trở nên quan trọng đối với những người xây dựng đế quốc (trong Thời đại Thám hiểm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18), thậm chí chúng còn là nguyên nhân then chốt của những âm mưu và thủ đoạn của tất cả các cường quốc trên thế giới.

Thời kỳ Khai sáng

Thế kỷ 18 đã mở ra một kỷ nguyên mới của hệ tư tưởng và nền văn minh nhân loại. “Quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc!” theo Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ. “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” Pháp trả lời. Các khái niệm về chủ nghĩa hợp hiến hiện đại, đảm bảo quyền con người và tách biệt Giáo hội với nhà nước, và thống nhất thành một chính sách được thiết kế để bảo vệ công dân khỏi các bộ luật không khoan nhượng và độc đoán. 

Trong bài luận mang tính bước ngoặt về Sự tự do, Ogden Livingston Mills – người mang triết lý định hình cho nền dân chủ của chúng ta, viết rằng: “Quyền tự do của con người bao gồm, trước hết là những gì tiềm ẩn bên trong của mỗi người theo nghĩa toàn diện nhất: tự do về suy nghĩ và cảm xúc, khoa học, đạo đức hay thần học, … tự do về sở thích và quyền được mưu cầu”.

Mills khẳng định rằng quyền tự do suy nghĩ hay “tâm trí” là cơ sở cho mọi quyền tự do. Những lời nói bất hủ từ một người nông dân thanh lịch Thomas Jefferson: “Tôi đã thề trước Chúa, sẽ đối địch vĩnh viễn với mọi hình thức độc tài đối với tâm trí của con người”.

Abraham Lincoln là một người vô cùng ghét sự cấm đoán. Vợ của ông đã từng được kê đơn bằng cần sa để điều trị tình trạng kích động thần kinh sau khi ông bị ám sát. Hầu như mọi Tổng thống tại nhiệm từ giữa thế kỷ 19 cho đến khi xuất hiện luật cấm đều sử dụng thuốc/dược phẩm từ cần sa một cách thường xuyên. (Xem chương 12: sử dụng cần sa/gai dầu vào thế kỷ 19).

Những người thân cận của Tổng thống John F. Kennedy, như là nghệ sĩ Morey Amsterdam và Eddie Gordon* nói rằng Tổng thống Kennedy đã sử dụng cần sa một cách thường xuyên để kiểm soát cơn đau lưng của mình (trước và trong nhiệm kỳ) và thật sự có dự định hợp pháp hóa “marijuana” trong nhiệm kỳ thứ 2 của mình – kế hoạch bị chấm dứt một cách nhanh chóng sau vụ ám sát năm 1963.

* Eddie Gordon – nghệ sĩ thổi harmonica nổi tiếng, thành viên của nhóm Harmonicats và là nghệ sĩ biểu diễn harmonica số một thế giới, người đã từng hút cần sa cùng với Tổng thống Kennedy và trình diễn nhiều lần trước mặt ông.

Gần đây hơn, con trai của cựu Tổng thống Gerald Ford – Jack và con trai của Jimmy Carter – Chip, thừa nhận đã từng hút cần sa trong Nhà Trắng. Phó Tổng thống của George Bush – Dan Quayle* từng nổi tiếng vì hút cỏ và sử dụng ma túy trong trường đại học. Ronald và thậm chí là Đệ nhất Phu nhân Nancy Reagan nổi tiếng với chiến dịch “Nói không với ma túy” được cho là đã từng hút cần sa trong dinh thự của Thống đốc bang California.

*Smoke Screen: Inmate Sues Justice Department Over Quayle-Pot Cover-up,” Dallas Observer, August 23, 1990. Kelley, Kitty, Nancy Reagan: The Unauthorized Biography, Doubleday Co., NY, 1991.

KINH TẾ HỌC: Mô hình của Pháp đình tôn giáo thời hiện đại

Đối với những kiến thức có liên quan đến cần sa, hay hàng trăm “tội lỗi” khác – như việc sở hữu dụng cụ của quỷ (nĩa ăn), đọc sách của phù thủy hay nói ngôn ngữ lạ (ngoại ngữ), có đức tin khác, có thói quen của phù thủy (tắm hay đắm mình vào dòng sông), v.v. – từ 10% – 50% người Tây Âu bị tra tấn hay ép chết mà không cần xét xử trong Pháp đình tôn giáo tồn tại 500 năm của Giáo hội Công Giáo La Mã thời Trung Cổ (thế kỷ 12 đến 17).

Trong khi hầu hết mọi người đều phải cam chịu, lại có một số người được hưởng lợi lớn. Giáo hoàng có thể tuyên bố bất cứ thứ gì là “dị giáo” và sử dụng nó như một cái cớ để cướp bóc, tra tấn và giết chết kẻ thù của mình hay ai khác bị buộc tội một cách hợp pháp. Trong hơn 300 năm, những kẻ thẩm tra trong Pháp đình tôn giáo đã phân chia tài sản bằng cách tịch thu của những người bị nghi ngờ là phù thủy và dị giáo. Người tố cáo sẽ nhận được 1/3 tài sản, 1/3  thuộc về chính quyền và 1/3 thuộc về hệ thống cấp bậc của Giáo hoàng.

“Các ngươi hãy coi chừng các thầy dạy giáo luật… Chúng giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá”. Theo Chúa Giê-su: Luke 20:46

Mô hình truy tố vì mục đích chiếm đoạt tài sản này, được sử dụng tương tự như cách thức của Đức Quốc xã ngày nay – và cũng tự cho mình là chính đáng, được thi hành dưới sự khăng khăng của Tổng thống Ronald Reagan vào năm 1984 và được viết cho Quốc hội cho đến Nghị sĩ Dan Lungren – người từng là Bộ trưởng Bộ tư pháp tại bang California. Trên thực tế, một khi chính phủ đã thu giữ tài sản, hơn 90% không bao giờ được trả lại. Tất cả mọi người từ người cung cấp thông tin, cho đến cảnh sát và công tố viên sẽ chia nhau phần tài sản, hàng hóa bị chiếm đoạt.

Thực tế, trong khi Thông luật của Anh là cơ sở cho hệ thống pháp luật hiện đại của chúng ta, luật tịch thu dựa trên khái niệm thời Trung Cổ về đối tượng bị nguyền rủa “Deodand” (trong tiếng Latinh “deo” là thần thánh, và “dand” là cho đi; nghĩa là người nào gây ra cái chết cho con người sẽ bị tước đoạt vương miện). Đây là cơ sở cho luật chiếm đoạt và tịch thu tài sản, thay vì chỉ là những hình phạt trên con người. Vì sao? Đơn giản thôi. Người dân không được đảm bảo về các quyền lợi hợp pháp và bảo vệ tài sản!

Chương 12: Sử dụng dược phẩm cần sa tại Mỹ vào thế kỷ 19

Mặc dù vào năm 1839, các sản phẩm từ cây gai dầu như sợi, giấy, vật dụng hàng hải, dầu thắp sáng, thực phẩm, v.v. được cho là những sản phẩm của ngành nông nghiệp và công nghiệp lớn nhất nước ở Mỹ, và tất nhiên, trên toàn thế giới, hàng trăm ứng dụng y học của cần sa (đã được biết đến hàng nghìn năm ở các nước Phương Đông và Trung Đông) hầu như vẫn không được biết đến ở phần lớn các quốc gia Tây Âu và châu Mỹ do sự đàn áp trước đó của Giáo hội Công giáo La Mã thời Trung Cổ.

Tuy nhiên, thế kỷ 19 đã chứng kiến sự phát hiện ngoạn mục về những lợi ích của thuốc từ cần sa, được coi là loại thuốc số một tại Mỹ trước năm 1863. Nó đã bị thay thế bằng morphin khi phương pháp kim tiêm mới đã trở nên thịnh hành, nhưng xảy ra sau khi cần sa được sử dụng để điều chế thánh dược và các loại thuốc được cấp bằng sáng chế, Bộ hút phong cách Thổ Nhĩ Kỳ và là nguồn sáng tạo văn học vô tận. Cần sa vẫn là loại thuốc số hai cho đến năm 1901 khi nó được thay thế bằng aspirin.

Dược phẩm từ cần sa vào thế kỷ 19

Từ năm 1850 đến năm 1937, cần sa được sử dụng như một loại thuốc chính cho hơn 100 loại bệnh tật khác nhau trong Dược Điển Hoa Kỳ.

Trong suốt thời gian này (cho đến những năm 1940), khoa học, các bác sĩ và nhà sản xuất dược phẩm (Lilly, Parke-Davis, Squibb, v.v.) không hề biết đến những thành phần hoạt tính của nó.

Tuy nhiên, từ năm 1842 cho đến những năm 1890, marijuana thường được gọi là Cần sa Indica hay chiết xuất Gai dầu Ấn Độ, là một trong ba mặt hàng (sau rượu và thuốc phiện) được sử dụng nhiều nhất trong danh sách các loại thuốc kê đơn (với liều lượng lớn*, thường thông qua đường uống).

*Liều lượng được khuyến nghị trong suốt thế kỷ 19 dành cho trẻ sơ sinh, trẻ em, thanh thiếu niên, người lớn, phụ nữ mang thai, người cao tuổi, trong một ngày, trong nhiều trường hợp, bằng với mức mà một người sử dụng cần sa ở mức trung bình cho đến thường xuyên tại Hoa Kỳ có thể sử dụng trong một đến hai tháng, khi so sánh với những hướng dẫn của Chính phủ Hoa Kỳ năm 1983. 

Bạo lực được đánh đồng với việc sử dụng rượu; nghiện morphin được coi là bệnh của “những binh lính”.

Và vì thế, trong thời đại đó, cần sa được ưa chuộng và thậm chí còn được khuyên dùng như một phương pháp giúp những người nghiện rượu và nghiện ngập hồi phục sức khỏe.

Tuy nhiên, các loại thuốc điều chế từ cần sa phần lớn đã bị quên lãng ở các nước Phương Tây kể từ khi có sự xuất hiện của Pháp đình tôn giáo (Xem chương 10).

Cho đến khi W. B. O’Shaughnessy – một bác sĩ người Anh, 30 tuổi, đang phục vụ tại tỉnh Bengal của Ấn Độ* đã chứng kiến các bác sĩ Ấn Độ sử dụng thành công các chiết xuất khác nhau từ cần sa để điều trị cho tất cả các loại bệnh tật và cả những loại bệnh không thể chữa được ở phương Tây, bao gồm cả bệnh uốn ván.

*”Bengal” có nghĩa là “Bhang Land,” nghĩa đen là Vùng đất Cần sa.

O’Shaughnessy sau đó đã tiến hành thực hiện một nghiên cứu rất quy mô * (và là nghiên cứu được biết đến đầu tiên tại phương Tây), vào năm 1839, và đã công bố một bài dài 40 trang về việc sử dụng các loại thuốc từ cần sa. Cùng lúc đó, một bác sĩ người Pháp tên là Roche cũng làm điều tương tự để tái khám phá các loại thuốc từ cần sa ở Trung Đông.

* O’Shaughnessy đã lựa chọn những bệnh nhân, động vật và bản thân cho các nghiên cứu và thí nghiệm của chính mình. Một cách tình cờ, O’Shaughnessy đã trở thành một nhà triệu phú và được Nữ hoàng Victoria phong tước Hiệp sĩ vì đã xây dựng được hệ thống điện báo đầu tiên tại Ấn Độ vào những năm 1850.

Báo cáo y khoa của O’Shaughnessy và những phát hiện về các chiết xuất từ cây cần sa đã gây sửng sốt và lan tỏa khắp giới y học phương Tây. Chỉ trong ba năm, cần sa đã trở thành một “siêu sao” tại Mỹ và Châu Âu.

Những bài báo được viết bởi những người mới sử dụng lần đầu tiên tại Mỹ (mới làm quen) và các bác sĩ đang sử dụng, điều trị hoặc thử nghiệm với cần sa, đã nói một cách thẳng thắn rằng các đặc tính thường thấy của nó là hưng phấn, và đôi khi là cảm giác bức bối, những ảnh hưởng đến tâm trí, sự mở rộng trải nghiệm về không gian và thời gian đối với trẻ em và cả người trưởng thành, cũng như cảm giác vui vẻ và tăng cảm giác thèm ăn, đặc biệt là trong vài lần đầu tiên họ thử nó.

Điều thú vị là trong suốt khoảng thời gian này (từ những năm 1840 đến những năm 1930) Eli Lilly, Squibb, Parke-Davis, Smith Brothers, Tildens, v.v. đã không có cách nào để kéo dài thời gian bảo quản cũng như gặp rất nhiều khó khăn trong việc chuẩn hóa liều lượng.

Như đã đề cập trước đây, thuốc cần sa được người Mỹ đánh giá cao (bao gồm một số người theo Thần học Đạo Công giáo) trong suốt thế kỷ 19, chẳng hạn vào năm 1860, Ủy ban về Cần sa Indica báo cáo và kết luận đến Hiệp hội Y khoa Bang Ohio rằng: “Những học giả tin rằng mật và giấm, hay rượu myrrh, được dâng cho Đấng Cứu Thế của chúng ta, ngay trước khi ngài bị đóng đinh, hoàn toàn có thể là một chế phẩm từ cây Gai dầu Ấn Độ [marijuana], và thậm chí nó còn xuất hiện trong các ứng dụng trước đó trong sản khoa”.*

*Được in lại từ những bản sao của cuộc họp thường niên lần thứ 15 của Hiệp hội Y khoa Bang Ohio, tại White Sulphur Springs, Ohio, ngày 12 – 14, tháng 6, năm 1860, trang 75-100.

Những lý do chính yếu khiến thuốc từ cần sa không được chấp thuận để sử dụng tại Mỹ là những khó khăn trong việc xác định và chuẩn hóa liều lượng, chẳng hạn, vào năm 1964 – 27 năm sau khi Mỹ cấm cần sa vào năm 1937, Tiến sĩ Raphael Mechoulam của Đại học Tel Aviv lần đầu tiên phát hiện rằng các phân tử THC là những hoạt chất có trong cần sa. Ngoài ra, các bác sĩ vào cuối thế kỷ 19 cũng chưa tìm ra được cách tiêm nó vào con người bằng những loại kim tiêm dưới da mới của họ… và kể cả hiện giờ điều này vẫn chưa thực hiện được.

Vào những năm 1890, một số hướng dẫn hôn nhân gia đình phổ biến ở Hoa Kỳ đã giới thiệu cần sa như một loại chất kích dục với hiệu ứng vượt trội – chưa ai đề xuất luật cấm cần sa cả. Và trong khi đó, có xuất hiện cuộc thảo luận về việc cầm rượu bia, một số tổ chức phụ nữ thậm chí còn đề xuất “hasheesh” để thay thế cho rượu bia – thứ khiến những người đàn ông thực hiện những hành vi bạo lực đối với những người vợ.

Nguồn cảm hứng phổ biến nhất của các vĩ nhân văn học của thế kỷ 19

Từ những năm 1800 trở đi, một số nhà văn thuộc phong cách trữ tình và cách mạng hàng đầu thế giới chuyên viết về sự tự do cá nhân và phẩm giá con người đã tán dương việc sử dụng cần sa. Ngày nay, trong các trường học, những tác phẩm này được xem là những tác phẩm “kinh điển”.

Khoa học về dược lý thần kinh khởi đầu tại Pháp vào khoảng năm 1845 bởi Bác sĩ J. J. Moreau DeTours, và cần sa trở thành một trong những loại thuốc đầu tiên được sử dụng để điều trị chứng rối loạn tâm thần và trầm cảm.

Moreau là bạn thân của Dumas, Hugo và Gautier, và vào năm 1845, tại Paris họ đã cùng nhau lập nên hội cần sa đầu tiên tại Phương Tây: Le Club Des Haschischins.

Kẹo Hashish từ cây Phong Đường

Bắt đầu vào những năm 1860, Công ty Gunjah Wallah đã sản xuất ra một loại kẹo hashish từ cây phong đường, loại kẹo này nhanh chóng trở thành một trong những thực phẩm phổ biến nhất tại Hoa Kỳ.

Trong suốt 40 năm, nó được bán mà không cần kê đơn và được quảng cáo trên báo chí, cũng như được liệt kê trong danh mục của Sears-Roebuck như một loại kẹo hoàn toàn không gây hại, ngon và thú vị.

Phòng hút phong cách Thổ Nhĩ Kỳ

*Cảnh tượng trong phòng hút thuốc phong cách Thổ Nhĩ Kỳ mới khai trương – New York Herald, Chủ Nhật 28 tháng Tư, 1895.

Hội chợ và Triển lãm Quốc tế, từ những năm 1860 đến đầu những năm 1900, thường trưng bày và giới thiệu cách hút Hashish Thổ Nhĩ Kỳ. Cách hút Hashish là điều hoàn toàn mới mẻ đối với người Mỹ; hiệu ứng của nó đến nhanh hơn nhiều. Tuy nhiên, hút hashish chỉ mang đến hiệu ứng và thời gian kéo dài bằng một phần ba so với những loại thuốc dạng uống được chiết xuất từ cần sa mà ngay cả trẻ em ở Mỹ cũng thường xuyên được kê toa.

Tại Triển lãm 100 năm của Hoa Kỳ tại Philadelphia vào năm 1876, những người tham gia đã đưa bạn bè và gia đình của họ đến để thử nghiệm phong cách hút Hashish cực kỳ nổi tiếng này, nhằm nâng cao “trải nghiệm” của họ tại Triển lãm.

Đến năm 1883, những phòng hút hashish tương tự đã được mở một cách hợp pháp tại mọi thành phố lớn của Mỹ, bao gồm New York, Boston, Philadelphia, Chicago, St. Louis, New Orleans, v.v.

Tờ Police Gazette ước tính có hơn 500 phòng hút hashish ở thành phố New York vào những năm 1880 và theo ước tính của NYPD rằng vẫn còn tồn tại hơn 500 phòng hút hashish ở thành phố New York vào những năm 1920. 

Mang đậm tính chất Mỹ

Vào đầu thế kỷ 20, gần bốn thế hệ của người dân Mỹ đã và đang sử dụng cần sa. Hầu như người dân ở quốc gia này đã quen thuộc với những chiết xuất cần sa từ thời thơ ấu – nhưng các bác sĩ không xem đó là thứ gây nghiện, chống đối xã hội hay bạo lực, sau 60 năm sử dụng.

Điều này dẫn chúng ta đến một câu hỏi quan trọng rằng nếu không phải lo sợ về yếu tố sức khỏe hay hậu quả xã hội dẫn đến lệnh cấm cuối cùng về việc sử dụng cần sa tại Mỹ (và sau đó là toàn thế giới), vậy thì là điều gì?

Chiến dịch bôi nhọ

Vậy lực lượng chính trị xã hội nào đủ quyền lực để khiến người dân Hoa Kỳ chống lại một loài thực vật vô tội như vậy – chứ không nói đến đây là loại thực vật rất được mọi người quan tâm sử dụng để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ?

Trước đó, chúng ta đã đọc sự ra đời của đạo luật chống cần sa đầu tiên của liên bang (năm 1937) vì những lời nói dối của William Randolph Hearst, báo chí lá cải và những bài báo về sự phân biệt chủng tộc, từ đó trở về sau đã được Harry Anslinger trích dẫn trong Lời khai của quốc hội như một sự thật.

Nhưng điều gì đã khiến Hearst khởi xướng về những câu chuyện khủng khiếp về cần sa và phân biệt chủng tộc? Sự khôn ngoan hay ngu dốt nào đã mang đến tất cả nhiều điều này? – chúng ta vẫn trừng phạt những người Mỹ đồng hương của mình bằng 16 triệu năm trong ngục tù chỉ trong 70 năm vừa qua (riêng năm 2005 có đến 786.545 người bị bắt vì cần sa, nhiều hơn gấp hai so với năm 1990).

Bước đầu tiên là đưa ra yếu tố sợ hãi của một vấn thứ chưa từng biết bằng cách sử dụng một từ ngữ mà chưa ai từng nghe qua trước đó: “marijuana”.

Bước tiếp theo là giữ kín những thủ đoạn này với các bác sĩ, nhà khoa học và những người ủng hộ ngành công nghiệp gai dầu vì đây là những người sẽ đứng ra bảo vệ cho loài thực vật này. Điều này đã được thực hiện bằng cách tổ chức hầu hết các phiên điều trần về luật cấm cần sa trong bí mật.

Và cuối cùng, những người thuộc phe ủng hộ lệnh cấm đã khơi dậy những cảm xúc giận dữ, và dẫn dắt công chúng vào sự thù hằn vốn dĩ đã tồn tại từ rất lâu: phân biệt chủng tộc.

*Trong khi những người biểu diễn da trắng như Al Jolson và Eddie Cantor đưa các màn biểu diễn mistrel đi vào thế kỷ 20, thì nghệ sĩ nổi tiếng vaudevillian Bert Williams, một người Mỹ gốc Phi, phải đối mặt với nỗi kinh hoàng của việc phải biểu diễn trong khuôn mặt đen, chỉ để được phép bước lên trên sân khấu.

Chương 9: Kinh tế học – Năng Lượng, Môi Trường Và Thương Mại

Bạn đã được giải thích về ý nghĩa lịch sử của cây gai dầu đối với nền kinh tế Hoa Kỳ. Bây giờ, chúng ta cũng phải xem xét đến tương lai của cây gai dầu.

Chúng tôi dự đoán rằng tác động ròng của việc Hoa Kỳ chấm dứt lệnh cấm gai dầu sẽ tạo nên hiệu ứng gợn sóng trong nền kinh tế – một nền nông nghiệp Mỹ được hồi sinh sẽ sản xuất những nguyên liệu thô từ gai dầu cho vô số ngành công nghiệp, đem lại hàng triệu việc làm cho những công nhân chuyên nghiệp bậc cao và bậc trung trên khắp nước Mỹ. Của cải tạo ra sẽ vẫn ở lại trong những cộng đồng địa phương, ở lại với những doanh nhân và doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn như chính các bạn!

Chúng ta hãy cùng xem xét…

Năng Lượng & Nền Kinh Tế

Chú thích của dịch giả: George Washington, Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã từng trồng cây gai dầu.

Các tạp chí Solar Age, Science Digest, Omni, Liên minh vì sự sống còn (Alliance for Survival), Đảng Xanh của Đức, Hoa Kỳ và các quốc gia khác đã ước tính rằng chi phí năng lượng chiếm tới 80% tổng chi phí sinh hoạt của mỗi con người.

82% tổng giá trị của tất cả các phát hành được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán New York và các sàn giao dịch chứng khoán thế giới khác đều có lien hệ trực tiếp đên:

  1. Các nhà sản xuất năng lượng như Exxon, Shell Oil, Conoco, Con-Edison, v.v.
  2. Các nhà vận tải năng lượng như các công ty đường ống, công ty vận chuyển và phân phối dầu
  3. Các hãng lọc dầu và bán lẻ của Exxon, Mobil, Shell, So. California Edison, Con-Edison, v.v.

82% tổng số tiền của bạn có nghĩa là cứ 40 giờ bạn làm việc thì khoảng 33 giờ là để thanh toán các chi phí năng lượng cơ bản trong những dịch vụ và hàng hóa bạn mua, bao gồm vận tải, sưởi ấm, nấu ăn và chiếu sáng. Người Mỹ (chiếm 5% dân số thế giới) – trong mong muốn vô độ để đạt được “giá trị ròng” và “năng suất” cao hơn – sử dụng tới 25-40% năng lượng của thế giới. Chi phí môi trường bị ẩn giấu là không thể đo lường.

Các nguồn năng lượng hóa thạch hiện tại của chúng ta cũng gây ra khoảng 80% chất thải rắn và ô nhiễm trong không khí, góp phần nhanh chóng đầu độc môi trường của hành tinh. (Xem báo cáo của U.S. EPA 1983-2006 về thảm họa thế giới đang tới từ sự mất cân bằng carbon dioxide do đốt nhiên liệu hóa thạch). Sự thay thế tốt nhất và rẻ nhất cho các phương pháp năng lượng lãng phí và tốn kém này không phải là gió hoặc các tấm pin mặt trời, hạt nhân, địa nhiệt và những thứ tương tự, mà là ánh sáng mặt trời được phân bố đồng đều để phát triển sinh khối.

Trên quy mô toàn cầu, loài thực vật tạo ra tổng sinh khối lớn nhất là gai dầu. Đây là loài cây tái tạo thường niên duy nhất trên trái đất có thể thay thế tất cả nhiên liệu hóa thạch.

Vào những năm 1920, những ông trùm dầu mỏ thời kỳ đầu như Rockefeller của Standard Oil, Rothschild của Shell bắt đầu lưu tâm một cách hoang tưởng về khả năng tầm nhìn của Henry Ford về nhiên liệu methanol giá rẻ* trở thành hiện thực; và họ đã giữ giá dầu cực kỳ thấp – chỉ 1-4 USD/thùng (mỗi thùng dầu có dung tích 42 gallon) cho đến năm 1970 – trong gần 50 năm! Rồi khi cuối cùng họ đã chắc chắn không có sự cạnh tranh, giá dầu đã tăng lên gần 60 USD/thùng trong vòng 30 năm kế tiếp.

* Henry Ford đã trồng cần sa/gai dầu trong khu đất của mình sau năm 1937, có thể để chứng minh giá thành rẻ của việc sản xuất methanol ở Iron Mountain. Ông đã làm ra những chiếc xe hơi vỏ nhựa từ rơm lúa mì, cây gai dầu và cây thùa sợi (sisal). (Tạp chí Popular Mechanics, tháng 12 năm 1941, “Pinch Hitters for Defense”). Năm 1892, Rudolph Diesel đã phát minh ra động cơ diesel – loại động cơ được dự định hoạt động “bằng nhiều loại nhiên liệu, đặc biệt là các dầu thực vật và dầu hạt”.

Đến năm 2047, thế giới sẽ đốt hết trữ lượng dầu mỏ đã được xác minh*, trong khi trữ lượng than đá có thể kéo dài thêm 100-300 năm. Nhưng quyết định tiếp tục đốt than có những hạn chế nghiêm trọng. Loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao này là nguyên nhân gây ra những cơn mưa axit mà hàng năm đã giết chết 50.000 người Mỹ và 5.000-10.000 người Canada. Ngoài ra, mưa axit còn hủy diệt những khu rừng, sông ngòi và các loài động vật. (Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, 1986)

*Nhật báo Independent, Vương quốc Anh, ngày 14 tháng 6 năm 2007

Việc chuyển đổi sang các nhiên liệu sinh khối cần bắt đầu ngay lập tức để ngăn chặn ô nhiễm hành tinh và một sự tự diệt chủng, đồng thời giúp chúng ta độc lập về năng lượng một cách tự nhiên.

Nguồn Nhiên Liệu Sạch, Tái Tạo

*Chú thích ảnh: khi cây gai dầu được trồng để lấy sinh khổi, CO2 sẽ được “hấp thụ” vào trong cây. Sau đó, khi sinh khối của gai dầu được đốt cháy để tạo ra năng lượng, CO2 sẽ được hoàn trả lại cho không khí để kết thúc một vòng tuần hoàn cân bằng.

Nhiên liệu không đồng nghĩa với dầu mỏ và than đá. Các hệ thống năng lượng sinh khối có thể cung cấp một nguồn nhiên liệu bền vững và sẽ tạo ra hàng triệu việc làm “sạch” mới. Các loại nhiên liệu và dầu được chiết xuất từ sinh khối gai dầu có thể thay thế mọi loại sản phẩm năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.

Trong quá trình thoát hơi nước, cây gai dầu đang sinh trưởng sẽ hấp thụ khí CO2 (carbon dioxide) để xây dựng cấu trúc tế bào; lượng oxy còn sót lại được thải ra, bổ sung trở lại nguồn cung cấp không khí cho trái đất. Sau đó, khi sinh khối gai dầu giàu cacbon được đốt cháy để lấy năng lượng, CO2 sẽ được giải phóng trở lại không khí. Chu kỳ CO2 đạt gần tới mức cân bằng sinh thái khi một vụ canh tác mới bắt đầu vào năm sau. Việc trồng cây lưu giữ được gấp 10 lần lượng CO2 trên trái đất bằng cách duy trì sự sống của nền tảng bao gồm vi sinh vật, côn trùng, thực vật, nấm, v.v. cho mỗi cây. Cây càng lâu năm và càng lớn, càng có nhiều carbon dioxide được rút ra khỏi khí quyển.

(Không phải toàn bộ cây trồng sinh khối đều được chuyển hóa thành nhiên liệu. Một phần lá, gốc và tất cả rễ cây vẫn còn sót lại trên đất dưới dạng dư lượng cây trồng. Chất hữu cơ giàu cacbon này sẽ làm tăng độ phì nhiêu cho đất; và cứ mỗi mùa trôi qua lại có thêm một lượng carbon dioxide từ không khí đi vào đất. Như vậy cây trồng nhiên liệu sinh khối sẽ dần làm giảm lượng carbon dioxide trong bầu khí quyển bị ô nhiễm của chúng ta.)

Sự chuyển hóa sinh khối qua quá trình chưng khô (phân hóa chất hữu cơ bằng nhiệt độ cao trong điều kiện thiếu không khí) tạo ra loại than củi cháy sạch để thay thế than đá.

Lưu huỳnh thải ra từ ống khói lò hơi đốt than là nguyên nhân chính gây ra mưa axit. Đo trên thang độ pH, nước mưa ở New England có độ axit nằm trong khoảng giữa giấm gia dụng và nước chanh. Đây là một điều tồi tệ cho mọi loại màng tế bào tiếp xúc với nước mưa, và các dạng sống đơn giản nhất chịu nhiều tổn hại nhất. Than củi không chứa lưu huỳnh nên khi đốt trong công nghiệp, sẽ không có lưu huỳnh thải ra từ quá trình này.

Quá trình “cracking” sinh khối cũng tạo ra các loại dầu nhiên liệu không chứa lưu huỳnh có đủ khả năng thay thế các loại dầu nhiên liệu hóa thạch như dầu diesel. Và lượng CO2 thực trong khí quyển (net atmospheric CO2)* sẽ không tăng lên khi đốt cháy dầu nhiên liệu chiết xuất từ sinh khối.

Chưng khô sử dụng cùng một công nghệ “cracking” được ngành dầu khí thực hiện trong chế biến nhiên liệu hóa thạch. Các loại khí còn lại sau khi than củi và dầu nhiên liệu được chiết xuất từ ​​cây gai dầu cũng có thể được sử dụng để chạy máy phát điện đồng phát!

Quá trình chuyển hóa sinh khối có thể được điều chỉnh để sản xuất than củi, methanol và các loại dầu nhiên liệu để xử lý hơi nước, cũng như các hóa chất quan trọng trong công nghiệp: acetone, ethyl acetatenhựa than và creosote.

Công ty Ford Motor đã vận hành thành công một nhà máy cracking sinh khối vào những năm 1930 tại Iron Mountain, Michigan, sử dụng cây thân gỗ làm nhiên liệu cellulose. (Cây gai dầu thân thiện với trái đất ít nhất cũng hiệu quả gấp bốn lần so với cây thân gỗ để làm nhiên liệu, và còn có tính bền vững).

*Progress in Biomass Conversion Vol. 1, Sarkanen & Tillman, editors; Energy Farming in America, Osburn, Lynn, Access Unlimited

Hạt gai dầu chứa 30% dầu (tính theo thể tích). Loại dầu này đã được sử dụng để sản xuất dầu diesel cao cấp, dầu động cơ máy bay và dầu máy chính xác. Trong suốt lịch sử, dầu hạt gai dầu đã được sử dụng để thắp sáng trong đèn dầu. Truyền thuyết kể rằng ngọn đèn của thần đèn được thắp sáng bằng dầu hạt gai dầu, cũng như đèn của nhà tiên tri Abraham. Vào thời của Abraham Lincoln, chỉ có dầu cá voi mới có mức độ phổ biến gần bằng dầu hạt gai dầu để làm nhiên liệu.

Dồi Dào Sinh Khối Cho Năng Lượng

80% thân và cành gai dầu là lõi (phụ phẩm còn lại sau khi phần vỏ sợi gai dầu được tước khỏi cây). 77% lõi gai dầu là cellulose – một nguyên liệu công nghiệp thô căn bản được sử dụng trong sản xuất các chất hóa học, nhựa plastic và sợi. Tùy thuộc vào báo cáo nông nghiệp Hoa Kỳ nào là chính xác, cây gai dầu  trưởng thành trên cùng một diện tích canh tác có thể cung cấp bền vững từ 4 đến 50 hoặc thậm chí 100 lần lượng cellulose so với cây ngô, kenaf hoặc mía – những loại cây giữ vị trí kế tiếp về sản lượng cellulose hàng năm.

Ở hầu hết các nơi, cây gai dầu có thể được thu hoạch hai lần một năm và ở những vùng ấm hơn như Nam California, Texas, Florida và những nơi tương tự, cây gai dầu có thể được thu hoạch quanh năm. Cây gai dầu có mùa sinh trưởng ngắn và có thể trồng sau khi đã thu hoạch các loại cây lương thực.

Một mạng lưới bán nông thôn độc lập gồm những nông dân tự chủ và hiệu quả sẽ giữ vai trò kinh tế quan trọng trong việc sản xuất năng lượng tại đất nước này.

Hàng năm chính phủ Hoa Kỳ thanh toán (bằng tiền mặt hoặc hiện vật) để nông dân không trồng trọt trên khoảng 90 triệu mẫu Anh đất nông nghiệp – được gọi là “ngân hàng đất”. Và 10-90 triệu mẫu cây gai dầu hoặc dạng sinh khối gỗ thường niên khác nếu được trồng trên diện tích đất nông nghiệp bỏ hoang không được trồng trọt này sẽ đem lại một diện mạo hoàn toàn mới cho ngành năng lượng và sẽ là một nỗ lực thực sự trong việc cứu trái đất. Còn có 500 triệu mẫu đất nông nghiệp bị bỏ hoang khó trồng trọt khác ở Mỹ.

Mỗi mẫu cây gai dầu sẽ mang lại 1.000 gallon methanol, hoặc 500 gallon xăng. Nhiên liệu từ cây gai dầu, cùng với việc tái chế giấy, v.v., sẽ đủ để vận hành nước Mỹ mà hầu như không cần đến dầu mỏ.

Trang Trại Gia Đình Hay Nhiên Liệu Hóa Thạch?

Năm 2006, khi nguồn dầu mỏ giảm xuống còn 20% so với quy mô ban đầu, nước Mỹ sẽ có sáu lựa chọn để tránh hủy hoại kinh tế và môi trường:

  1. Sử dụng nhiều than đá hơn, làm tăng thêm ô nhiễm môi trường
  2. Tiếp tục tài trợ năng lượng hạt nhân và chấp nhận nguy cơ hành tinh bị hủy diệt
  3. Biến rừng thành nhiên liệu, gây biến đổi vĩnh viễn các hệ sinh thái duy trì sự sống
  4. Liên tục gây chiến để kiếm dầu mỏ từ nước ngoài
  5. Xây dựng những hệ thống năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt và thủy triều khổng lồ
  6. Thành lập những trang trại năng lượng để phát triển nhiên liệu sinh khối

Chỉ có hai lựa chọn sau cùng là có lý trí và mang tính duy trì sự sống.

Chỉ cần canh tác cây trồng sinh khối trên 6% diện tích lục địa của Hoa Kỳ sẽ đáp ứng toàn bộ nhu cầu năng lượng dầu khí của đất nước này, từ đó chấm dứt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Manahan, Stanley E., Environmental Chemistry, 4th Edition

Gai dầu là nguồn sinh khối số một của trái đất; nó có khả năng tạo ra 10 tấn sinh khối trên mỗi mẫu Anh trong 4 tháng. Cây gai dầu không làm bạc màu đất*, rụng lá suốt mùa canh tác nên bổ sung mùn và giúp giữ ẩm cho đất. Cây gai dầu là một loại cây trồng lý tưởng cho những vùng đất rộng và đất phía Tây bán khô hạn.

*Adam Beatty, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Kentucky, đã báo cáo các trường hợp về vụ canh tác gai dầu bội thu trên cùng một nền đất trong 14 năm liên tiếp mà không bị suy giảm sản lượng. Beatty, A., Southern Agriculture, C.M. Saxton & Co., NY; 1843, pg. 113. USDA Yearbook, 1913.

Cây gai dầu là nguồn sinh khối sẵn có duy nhất có thể làm cho ngành năng lượng của Hoa Kỳ trở nên độc lập. Rốt cuộc, thế giới không có lựa chọn hợp lý về môi trường nào khác ngoài việc từ bỏ nhiên liệu hóa thạch.

Vậy, Phải Đánh Đổi Thứ Gì?

Thứ phải đánh đổi rất rõ ràng: Những công ty năng lượng! Họ sở hữu hầu hết những công ty hóa dầu, dược phẩm, rượu và thuốc lá; đồng thời có quan hệ chằng chịt với các công ty bảo hiểm và ngân hàng.

Theo báo chí, nhiều chính trị gia đang nắm quyền hiện nay bị mua và chi trả bởi các công ty năng lượng; và cánh tay của chính phủ Hoa Kỳ của họ là CIA – cũng được gọi là “The Company” (“Công Ty”). (Robert Ludlum, et al.). Các chính quyền của Bush Cha, Clinton và Bush Con đều có sự gắn kết lạ thường với dầu mỏ, báo chí, dược phẩm – và CIA.

Cuộc đấu tranh vì tiền của thế giới thực ra là cuộc đấu tranh vì năng lượng, bởi thông qua năng lượng mà chúng ta có thể tạo ra thức ăn, chỗ ở, vận tải và giải trí. Chính cuộc đấu tranh này thường nổ ra thành chiến tranh công khai. Nếu chúng ta loại bỏ được nguyên nhân, những cuộc xung đột này có thể đã không bao giờ xảy ra.

(Carl Sagan; and U.S. EPA prediction, 1983, of worldwide disaster in the making within 30 to 50 years.)

An Ninh Năng Lượng

Nếu được giới thiệu đến những đất nước Thế giới thứ ba, sinh khối gai dầu có thể cắt giảm đáng kể lượng viện trợ nước ngoài cũng như các lý do tham chiến của Hoa Kỳ, đồng thời cải thiện ngoạn mục chất lượng cuộc sống tại những nơi đó.

Các ngành công nghiệp mới, không gây ô nhiễm sẽ mọc lên ở khắp nơi. Nền kinh tế thế giới sẽ tăng vọt hơn bao giờ hết. Loài người cuối cùng sẽ để tâm tới sự sống còn của môi trường thay vì say mê trong sự tiêu thụ (theo cách thức mù quáng và tự sát) các loại nhiên liệu hóa thạch – thứ đe dọa tất cả sự sống trên hành tinh.

Tự Do Kinh Doanh & Lợi Nhuận Cao

Có nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế sẽ được hưởng lợi từ việc chấm dứt việc cấm cây gai dầu và sự kích thích thương mại kéo theo đó đối với các sản phẩm gai dầu được tái phát hiện – theo Hempstead Company, Ecolution, The Body Shop, Hanf Haus, v.v.

Cây gai dầu hợp pháp sẽ trả lại tiềm năng tài nguyên thiên nhiên trị giá hàng tỷ USD cho nông dân và mang lại hàng triệu việc làm trong ngành sản xuất năng lượng cho vùng đất trung tâm của Hoa Kỳ. Nông dân trong ngành năng lượng gai dầu sẽ trở thành những nhà sản xuất nguyên liệu thô lớn nhất của đất nước này.

Trang trại gia đình sẽ được cứu. Cây trồng có thể được điều chỉnh theo nhu cầu của quốc gia. Cây gai dầu có thể được trồng để thu được BDF (nhiên liệu chiết xuất từ sinh khối) với giá khoảng 30 USD/tấn. Hạt gai dầu sẽ một lần nữa mang lại cho các ngành sơn và véc ni một lựa chọn hữu cơ và duy trì sự sống ưu việt hơn các chất hóa dầu. Dầu hạt gai dầu có những tính chất hóa học tương tự như dầu hạt lanh. Và thị trường đang rộng mở cho các loại thực phẩm thơm ngon và bổ dưỡng được làm từ hạt gai dầu chứa các protein và axit béo thiết yếu có lợi cho sức khỏe.

Cây gai dầu được trồng để lấy sợi sẽ đưa các ngành giấy và dệt may thoát khỏi tay các tập đoàn đa quốc gia để trở lại với những cộng đồng địa phương.

Nghiên cứu của nhiều hiệp hội kinh doanh cây gai dầu chỉ ra rằng có khoảng 50.000 ứng dụng thương mại (không tính đến việc sử dụng để hút) của cây gai dầu có hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Trong đó bao gồm:

Thời Trang Cao Cấp, Bền Đẹp

Dựa trên các đặc tính của sợi gai dầu: thấm hút, cách nhiệt, chắc chắn và mềm mại, các nhà sản xuất và thiết kế quần áo một lần nữa sẽ đưa sợi gai dầu vào vải lanh để sản xuất các dòng quần áo, thảm và vải dệt mới mẻ – tất cả đều bền và hấp dẫn.

Sự xuất hiện của quần áo pha sợi gai dầu/bông nhập khẩu từ Trung Quốc vào năm 1989 đã đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới cho thế giới thời trang đang thay đổi nhanh chóng. Bây giờ, vào năm 2007 (thời điểm tác giả viết cuốn sách), các công ty như Hempstead Company (Laguna, CA), Hemp Connection (Whitehorn, CA), Two Star Dog (Berkeley, CA) và Ecolution (Santa Cruz, CA) đều tạo ra những mẫu thời trang và phụ kiện bền đẹp từ nhiều loại vải gai dầu 100% nhập khẩu từ Trung Quốc, Hungary, Romania, Ba Lan, v.v.

Dù hoan nghênh nỗ lực của những quốc gia này trong việc cung cấp vải gai dầu hạng nhất, chúng tôi vẫn mong chờ một ngày vải gai dầu của Hoa Kỳ sẽ góp mặt trên các sàn diễn thời trang!

Áo khoác ngoài, ga trải giường ấm áp, khăn mềm (sợi gai dầu có khả năng thấm hút nước gấp bốn lần so với bông), tã lót (thậm chí là loại dùng một lần mà không phải chặt cây thân gỗ để sản xuất), vải bọc, tấm trải tường, thảm tự nhiên, thậm chí loại xà phòng tốt nhất thế giới – tất cả những thứ này giờ đây có thể được thiết kế và tạo ra từ 100% chất liệu gai dầu; nói chung đều tốt hơn, rẻ hơn, bền hơn và an toàn sinh thái hơn.

Các rào cản thương mại đối với gai dầu và các điều luật hạn chế sử dụng sợi gai dầu nhập khẩu phải được dỡ bỏ.

Hiện tại, dệt may là mặt hàng có tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất vào Hoa Kỳ, ở mức 59%. Năm 1989, nhập khẩu hàng dệt may chiếm 21% thâm hụt thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ. Các chính phủ nước ngoài thường trợ cấp cho ngành dệt may của họ và không yêu cầu các công ty tuân theo các quy định về y tế và môi trường.* Cây gai dầu thì không gây ra một loạt các vấn đề môi trường liên quan đến bông.

* The Washington Spectator, Vol. 17, No. 4, Feb. 15, 1991

Hoa Kỳ nhập khẩu hàng dệt may nhiều hơn bất kì mặt hàng nào khác. Chính phủ không còn cản trở việc nhập khẩu hàng dệt may từ sợi gai dầu. Tuy nhiên, hàng dệt may chất liệu gai dầu sẽ không có đầy đủ khả năng cạnh tranh về giá cho đến khi cây gai dầu có thể được trồng và chế biến trong nước, để tránh các khoản phí nhập khẩu liên bang quá cao và giảm chi phí vận chuyển.

Các Sản Phẩm Giấy Bền Chắc Hơn

Thị trường việc làm và môi trường bị tàn phá ở Tây Bắc Hoa Kỳ và các vùng sản xuất gỗ khác rất có thể sẽ có được một sự phục hồi ngoạn mục khi gai dầu được đưa trở lại với ngành giấy nội địa.

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự suy giảm tầng ozone có nguy cơ làm giảm đáng kể sản lượng thông loblolly (nguồn nguyên liệu chính để làm bột giấy) trên toàn thế giới – tới 30% hoặc thậm chí 50%, tùy thuộc vào sự biến động về mật độ của lá chắn ozone. Tuy nhiên, cây gai dầu không chỉ chống chịu được tổn hại do bức xạ cực tím tăng lên – nó thực ra còn phát triển mạnh mẽ trong điều kiện đó.

Bức xạ cực tím gia tăng khiến cây gai dầu sản sinh nhiều tuyến dầu hơn và làm tăng trọng lượng của cây.

(Teramura, Alan, University of MD study, Discover magazine, September, 1989.)

Các nhà máy giấy có thể quay trở lại mức sản xuất đầy đủ và người khai thác gỗ sẽ tìm được công việc mới trong ngành thương mại gai dầu.

Các tài xế xe tải có thể tiếp tục vận chuyển bột gỗ đến các nhà máy giấy và gỗ để xây dựng, mặc dù giá gỗ sẽ hạ thấp do các nhu cầu khác về tài nguyên gỗ của chúng ta giảm xuống bằng cách thay thế nguyên liệu gỗ trồng trong rừng bằng cây gai dầu trồng ở trang trại.

(Wm. Conde, Conde Redwood Lumber; Jim Evans, Oregon Hemp)

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm trong việc trồng lại rừng. Các dòng sông của chúng ta sẽ trải qua giai đoạn phục hồi khi cây gai dầu thay thế bột gỗ trong ngành công nghiệp giấy, dẫn đến giảm 60-80% lượng hóa chất làm giấy đổ xuống các dòng sông.

Điều này nghĩa là sẽ có nhiều cá hơn để đánh bắt, cũng như hoạt động cắm trại và du lịch sẽ tăng lên tại những vùng rừng mới trồng thật xanh tươi và đẹp đẽ – và còn cả những khu rừng nguyên sinh còn sót lại nữa.

Những Vật Liệu Dễ Phân Hủy Sinh Học Thay Thế Nhựa Plastic

Cellulose là một loại polymer hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Nhựa than đá – nguồn chủ yếu để tạo ra các polymer tổng hợp như nylon – là một tài nguyên hóa thạch không có khả năng phân hủy sinh học. Nó không phải là một phần thuộc về hệ sinh thái của trái đất. Nó bóp nghẹt sự sống ở bất cứ nơi nào nó bị vứt bỏ.

Từ cây gai dầu – một nguồn cellulose cao cấp – chúng ta có được loại giấy dai chắc hơn và có độ bền gập cao hơn so với loại giấy làm từ bột gỗ.* Các loại túi làm từ giấy và bìa gai dầu sẽ tồn tại được lâu hơn và được tận dụng nhiều hơn so với các sản phẩm tương tự làm từ bột gỗ hoặc nhựa plastic.

*Dewey & Merrill, Bulletin#404, U.S. Dept. of Ag., 1916.

Các Ngành Nghề Phái Sinh & Thuế

Nguồn tài nguyên sinh hóa thu được từ cây gai dầu quả thực có thể được sử dụng trong hàng chục nghìn sản phẩm, từ sơn cho đến thuốc nổ. Mỗi ứng dụng đều đồng nghĩa với những cơ hội làm ăn mới và những việc làm mới.

Khi mỗi ngành nghề mới từ gai dầu phát triển, dòng tiền từ đó sẽ tiếp thêm sinh lực trở lại cho các lĩnh vực dường như không liên quan trong nền kinh tế. Người lao động Mỹ và các doanh nhân sắp giàu sẽ mang lại hàng triệu công việc mới và sản phẩm mới tới thị trường.

Họ cũng sẽ mua hàng triệu ngôi nhà, xe hơi và các mặt hàng không phải cây gai dầu khác (hay những mặt hàng ấy cũng sẽ có liên quan tới gai dầu nhỉ?), do đó thúc đẩy một sự mở rộng kinh tế thực sự dựa trên hiệu ứng gợn sóng, chứ không phải như học thuyết kinh tế “nhỏ giọt” lạ thường của cựu Tổng thống Reagan – là thứ trên thực tế đã bơm tiền trực tiếp vào huyết mạch của các tập đoàn Mỹ thay vì làm giàu cho đất nước.

Các trang trại được hồi sinh đồng nghĩa với việc sẽ có thêm việc mua sắm trang thiết bị; và mỗi doanh nghiệp mới sẽ tạo ra các việc làm phái sinh trong các lĩnh vực vận chuyển, tiếp thị và hàng hóa.

Các trang trại, ngân hàng và nhà đầu tư cũng sẽ thu được lợi nhuận lớn; và hàng tỷ USD từ cây gai dầu trong nền kinh tế chính đáng ấy sẽ làm tăng nguồn thu từ thuế và tăng vốn lưu động sẵn có để dành cho đầu tư và mua sắm hàng tiêu dùng.

Các chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương sẽ nhận được một khoản “lộc trời” trị giá hàng trăm triệu USD từ thuế mà không cần phải tăng thuế hay tiếp tục đầu độc trái đất một cách điên cuồng.*

*“Nếu thị trường cần sa được hợp pháp, các chính quyền tiểu bang và liên bang hàng năm sẽ thu về hàng tỷ USD” – Ethan Nadelmann, cựu Giáo sư Trợ lý Khoa Chính trị tại Đại học Princeton (hiện nay (năm 2007) là giám đốc của Quỹ Lindesmith) cho biết. “Thay vào đó, họ phải chi hàng tỷ USD vào thứ tương đương với một khoản để trợ cấp cho bọn tội phạm có tổ chức”.

(L.A. Times, Nov. 20, 1989, pg. A-18.)

Quỹ Lindesmith của George Soros đang hỗ trợ nhiều sáng kiến cấp tiểu bang liên quan đến cần sa y tế và sự tái hợp pháp hóa hiện đang diễn ra trên khắp Hoa Kỳ.

Trên thực tế, Quỹ Lindesmith đã hỗ trợ tài chính cho đề nghị về cần sa y tế của Dennis Peron (Dự luật 215) ở California; dự luật này đã được thông qua vào năm 1996.

Tong hai năm 1997-98, Soros đã tài trợ cho các đề nghị về cần sa y tế ở các tiểu bang như Washington, Oregon, Washington, D.C., Maine và Colorado, đồng thời giúp tài trợ để tạo nên sự thành công của cuộc trưng cầu dân ý nhằm ngăn chặn cơ quan lập pháp và thống đốc tiểu bang Oregon tái hình sự hóa cần sa vào tháng 6 năm 1997.

Nền Kinh Tế Xanh

Khi nông dân Mỹ trồng cây gai dầu để cung cấp cho các ngành công nghiệp của Mỹ, nguồn nguyên liệu thô quan trọng nhất để sản xuất sợi, vải, nhiên liệu, thực phẩm, thuốc, nhựa plastic và các sản phẩm thảo dược phục vụ mục đích giải trí/thư giãn, chúng ta sẽ thấy đất đai và nền kinh tế được phủ xanh nhanh chóng.

Nền kinh tế xanh dựa trên việc sử dụng các nguồn lực nông nghiệp để cung cấp cho ngành công nghiệp sẽ tạo ra một hệ thống sản xuất đa dạng trên các nền tảng địa phương. Nền kinh tế xanh phi tập trung này sẽ cho phép mọi người tham gia và chia sẻ của cải của một nền dân chủ thị trường tự do đích thực. Bởi lẽ không thể có nền dân chủ thực sự trừ phi mọi công dân đều có cơ hội được chia sẻ của cải của đất nước.

Cải Tạo Đất

Cải tạo đất chính là một lập luận về kinh tế và sinh thái đầy tính thuyết phục nữa cho việc trồng cây gai dầu.

Cho đến thế kỷ 21 này, những tiền nhân và những người nông dân Mỹ bình thường của chúng ta đã sử dụng cần sa (như một loại cây trồng trong những khoảng thời gian cho đất nghỉ kéo dài một năm) để chuẩn bị ruộng đồng cho cây trồng chính, và sau các vụ cháy rừng để ngăn chặn sạt lở đất và tổn thất lưu vực.

Hạt giống gai dầu đâm rễ sâu 25-30 cm chỉ trong vòng 30 ngày, so với độ sâu 2,5 cm của rễ mạ lúa mạch hay lúa mạch đen hiện nay chính phủ Hoa Kỳ đang cho canh tác.

Nam California, Utah và các tiểu bang khác đã sử dụng cần sa như vậy thành thông lệ cho đến khoảng năm 1915. Cần sa cũng giúp làm tơi lớp đất nén chặt do bị khai thác quá mức.

Tại những vùng núi Himalya xanh tươi ngày trước của Bangladesh, Nepal và Tây Tạng giờ đây chỉ còn lại một lớp rêu mỏng bao phủ, bởi vì những trận lũ quét đã cuốn trôi hàng nghìn tấn đất mặt.

Bangladesh theo nghĩa đen có nghĩa là “những con người của vùng đất cần sa” (trước kia Bangladesh được gọi là tỉnh Đông Bengal – một tên gọi bắt nguồn từ các từ “bhang” (cần sa) và “la” (vùng đất). Vào những năm 1970, đất nước Bangladesh độc lập đã ký một thỏa thuận “chống ma túy ” với Hoa Kỳ, cam kết không trồng cây gai dầu. Kể từ đó, họ đã phải chịu đựng bệnh tật, đói kém và suy tàn do lũ lụt không còn bị thứ gì kiềm chế.

Thế Chiến II: Lần Gần Đây Nhất Hoa Kỳ Yêu Cầu Nông Dân Trồng Cần Sa/Gai Dầu

Nhu cầu năng lượng đương nhiên là một ưu tiên an ninh quốc gia. Nhưng trước tiên, hãy xem Hoa Kỳ có thể làm gì khi phải hành động trong thực tế:

Đầu năm 1942, Nhật Bản cắt đứt nguồn cung cấp sợi gai dầu và các loại sợi thô vốn hết sức quan trọng đối với Hoa Kỳ. Cần sa – thứ đã bị đặt ngoài vòng pháp luật ở Hoa Kỳ với tên gọi “Assassin of Youth” (tạm dịch: “Kẻ ám sát giới trẻ”) chỉ năm năm trước đó –  bỗng nhiên lại đủ an toàn để chính phủ của chúng ta yêu cầu những thanh niên trong câu lạc bộ 4-H tại Kentucky phát triển nguồn cung cấp hạt giống quốc gia cho năm 1943. Mỗi thanh niên được khuyến khích trồng ít nhất nửa mẫu cây gai dầu để lấy hạt giống, nhưng tốt nhất là trồng được hai mẫu.

(University of Kentucky Agricultural Extension, Leaflet 25, March 1943)

Vào năm 1942-43, mọi nông dân Mỹ đều được yêu cầu tham dự các buổi chiếu bộ phim Hemp for Victory của Bộ Nông Nghiệp và ký tên xác nhận họ đã xem bộ phim này cũng như đã đọc một cuốn sách nhỏ về canh tác gai dầu. Máy móc thu hoạch gai dầu rất dễ kiếm, có giá rẻ hoặc miễn phí. Các tem thuế mệnh giá 5 USD được phát hành và một diện tích 350.000 mẫu đất trồng cây gai dầu là mục tiêu đến năm 1943. (See transcript p. 64.)

Tứ năm 1942 đến 1945, những nông dân Mỹ “yêu nước” – những người đã đồng ý trồng cây gai dầu – đều được miễn phục vụ trong quân đội; cả các con trai của họ cũng vậy. Gai dầu đã có tầm quan trọng sống còn đối với Hoa Kỳ trong Thế chiến II như vậy đấy.

Trong khi đó, từ cuối những năm 1930 đến năm 1945, những người nông dân Đức “yêu nước” đã được chính phủ Quốc xã cấp cho một sổ tay hướng dẫn có hình vẽ minh họa để thúc đẩy họ trồng cây gai dầu phục vụ chiến tranh. (See a complete reproduction of this 1943 Nazi “hanf” (hemp) manual in the Appendix.)

Việc phát tán hạt giống gai dầu trên đất xói mòn có thể cải tạo đất đai trên khắp thế giới. Những vùng hoang mạc đã kiệt quệ có thể được phục hồi dần qua từng năm. Nhờ đó, không những nạn đói mang tính diệt chủng sẽ được đẩy lùi mà cả những mối đe dọa về chiến tranh và bạo lực cách mạng cũng sẽ được giảm bớt.

Vệ Binh Tự Nhiên

Thay vì Vệ binh Quốc gia, tại sao không thành lập một Lực lượng Vệ binh Tự nhiên gồm những chiến sĩ môi trường sẽ là tuyến đầu trong cuộc sinh tồn của chúng ta – để trồng cây, thu hoạch sinh khối (ví dụ: cây gai dầu) từ các vùng đất nông nghiệp có lợi suất thấp?

Một Lực lượng Vệ binh Tự nhiên bao gồm những thợ điện, thợ ống nước, kỹ sư và công nhân – những người  làm việc để xây dựng lại cơ sở hạ tầng của nước Mỹ: cầu đường, đập ngăn nước, kênh mương, cống rãnh, đường ray xe lửa, v.v.

Chẳng phải đây chính là cách nhân đạo, văn minh và có trách nhiệm với xã hội để sử dụng nguồn nhân lực của chúng ta, thay vì tống những con người vào nhà tù như những con vật hay sao?

Hemp for Victory

Lần gần đây nhất Hoa Kỳ yêu cầu nông dân trồng cần sa là vào năm 1942, thông qua một bộ phim 14 phút có tựa đề Hemp for Victory (tạm dịch: Cây Gai dầu vì Chiến thắng).

Chương 8: Hạt gai dầu – loại thực phẩm cơ bản của Thế giới

Vào năm 1937, Ralph Loziers, tổng cố vấn của Viện Nghiên cứu Quốc gia về sản phẩm hạt có dầu (National Institute of Oilseed Products) đã nói với Hội đồng Quốc hội về luật cấm cần sa rằng “hạt gai dầu… được sử dụng ở tất cả các quốc gia phương Đông và một phần của nước Nga như một loại thực phẩm. Nó được trồng trên các cánh đồng do chính họ sở hữu và được sử dụng tương tự như yến mạch. Hàng triệu người ở phương Đông sử dụng hạt gai dầu hàng ngày như một loại thực phẩm. Họ đã làm việc này qua nhiều thế hệ, đặc biệt là trong thời kỳ đói nghèo”.

Đó là câu chuyện của hơn 70 năm về trước. Ngày nay, chúng ta đều biết rằng hạt gai dầu là nguồn cung cấp axit béo thiết yếu dồi dào nhất trong giới thực vật, và có thể là một phương thuốc dùng để chữa bệnh ung thư và bệnh tim mạch.

Hạt gai dầu: Nguồn thực phẩm tốt nhất của nhân loại.

Trong tổng số 3 triệu loài thực vật có thể ăn được trên Trái Đất, không có bất kỳ loài thực vật nào có thể so sánh về giá trị dinh dưỡng mà hạt gai dầu mang lại. Protein hoàn chỉnh và tinh dầu có trong hạt gai dầu đều ở tỷ lệ lý tưởng về dinh dưỡng dành cho con người. Chỉ có đậu nành mới chứa lượng protein cao hơn. Tuy nhiên, thành phần cấu tạo nên protein ở hạt gai dầu là độc nhất trong giới thực vật. Sáu mươi phần trăm hàm lượng protein trong hạt gai dầu là ở dạng globulin edestin. 1 (Từ “edestin” xuất phát từ tiếng Hy Lạp “edestos”, có nghĩa là ăn được).

Hàm lượng edestin có trong hạt gai dầu là đặc biệt cao, kết hợp cùng với albumin, một loại protein hình cầu khác có mặt trong tất cả các loại hạt. Điều này có nghĩa rằng loại protein sẵn có trong hạt gai dầu có chứa tất cả các loại axit amin thiết yếu với tỷ lệ lý tưởng để đảm bảo cơ thể của bạn có các chuỗi axit amin cần thiết để tạo ra các protein, ví dụ như các kháng thể có nhiệm vụ ngăn ngừa bệnh tật trước khi các triệu chứng xuất hiện. 2

Protein từ hạt gai dầu thậm chí còn cho phép nuôi dưỡng cơ thể khi bị mắc khuẩn lao hoặc các tác nhân khác làm ngăn chặn khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng.

*Cohen & Stillman, Therapeutic Potential of Marijuana, Plenum Press, NY, 1976; Czech. Tubercular Nutritional Study, 1955.

Bên cạnh đó nó còn có vai trò quan trọng hơn trong việc xây dựng một hệ miễn dịch mạnh mẽ, hạt gai dầu là nguồn cung cấp hàm lượng axit béo thiết yếu cao nhất trong giới thực vật. Các loại dầu thiết yếu này, axit linoleic và axit linolenic, chịu trách nhiệm cho một làn da, mái tóc, đôi mắt khỏe mạnh và thậm chí cả trong các quá trình nhận thức và suy nghĩ. Chúng giúp bôi trơn (làm sạch) động mạch và rất quan trọng đối với hệ miễn dịch.

Những loại axit béo này đã được Tiến sĩ Joanna Budwig (được đề cử giải Nobel Hòa Bình từ 1979) sử dụng để điều trị thành công cho bệnh nhân mắc ung thư “giai đoạn cuối”, cũng như cho những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, teo tuyến, sỏi mật, thoái hóa thận, mụn, khô da, kinh nguyệt và suy giảm miễn dịch.

Cũng như những nghiên cứu khác, đây cũng là điều đã thúc đẩy Bác sĩ y khoa William Eidleman (Đại học California, Los Angeles – UCLA) và R. Lee Hamilton (nhà nghiên cứu y học-nhà hóa sinh) phải thay mặt lên tiếng cho “những giá trị mang lại sự sống” của cây gai dầu. Họ nói rằng:

“Những loại chất béo thiết yếu này hỗ trợ cho hệ miễn dịch và bảo vệ cơ thể chống lại vi rút và những tác nhân ngoại xâm khác đối với hệ miễn dịch. Các nghiên cứu đang được tiến hành bằng cách sử dụng các loại chất béo này để hỗ trợ cho hệ miễn dịch của người bị nhiễm vi rút HIV. Cho đến này, chúng đã cho thấy được những tiềm năng vô cùng tiềm năng”.

“Nguồn cung cấp dồi dào nhất của những loại chất béo thiết yếu này đến từ đâu vậy? Vâng, bạn đoán đúng rồi đấy, chính là từ hạt của cây gai dầu… Những lệnh cấm điên rồ đối với loài thực vật có giá trị nhất trên Trái Đất –  gai dầu, phải nhường bước trước nhu cầu của công chúng… Lời hứa về một sức khỏe ưu việt và khả năng nuôi sống cả thế giới đang do chính chúng ta nắm giữ”. (29 tháng 12, năm 1991 và tháng 4, năm 2007).

Chiết xuất từ hạt gai dầu, tương tự như đậu nành, có thể được nêm  gia vị để chúng có vị tương tự như các món gà, bò, hoặc heo; và có thể được dùng để làm đậu phụ và bơ thực vật, với chi phí thấp hơn so với đậu nành. Việc lên mầm bất kỳ loại hạt nào cũng giúp cải thiện giá trị dinh dưỡng của nó và gai dầu cũng có thể được lên mầm và sử dụng như bất kỳ một loại hạt nào để làm salad hay nấu ăn.

Hạt gai dầu lên mầm có thể chế biến sữa, giống như đậu nành. Alan Brady tại Santa Cruz, California và Abba Das tại Colorado đã sử dụng loại sữa này để chế biến ra món kem thơm ngon và bổ dưỡng với nhiều hương vị khác nhau với khả năng làm giảm mức cholesterol trong máu.

Hạt gai dầu cũng được nghiền ra và sử dụng như bột mì, hoặc nấu chín, sau đó được làm ngọt và kết hợp với sữa để chế biến ra món ăn sáng như ngũ cốc yến mạch hay kem lúa mì (cũng giống như phần chất xơ trong cây gai dầu, hạt gai dầu sẽ không mang đến cảm giác phê).

“Hạt gai dầu cũng được xem là một thức ăn loại yêu thích của các loài chim vì sự bổ dưỡng của nó”. (Margaret McKenny, Birds in the Garden, Reynal & Hitchcock, NY, 1939). Thật đáng ngạc nhiên khi cây gai dầu được trồng để lấy hạt, một nửa trọng lượng của cây cái trưởng thành đã thu hoạch là hạt!

Những ngư dân ở Anh và châu Âu đánh bắt cá ở các con sông và hồ nước ngọt lần đầu tiên nói với tôi vào năm 1995 rằng hạt gai dầu luôn là món mồi ưa thích ở châu Âu để đánh bắt cá – tức là thả hạt gai dầu lên mặt nước – khiến các con cá tranh nhau lấy hạt, và sau đó chúng bị tóm gọn một mẻ. Tuy nhiên, không ai trong số này biết rằng hạt gai dầu và cần sa là một. Vậy là, hạt gai dầu luôn là món khoái khẩu của các loài cá cũng như hầu hết các loài chim.

Sản phẩm phụ kèm theo của quá trình ép hạt gai dầu để lấy dầu thực vật bổ dưỡng là một loại bánh hạt có hàm lượng protein cao. Bánh hạt gai dầu (hemp cake) là một trong những nguồn thức ăn chăn nuôi chính trên thế giới cho đến thế kỷ này.* Hạt gai dầu có thể cung cấp một chế độ dinh dưỡng gần như hoàn chỉnh cho tất cả các loài động vật đã được thuần hóa (chó, mèo), nhiều gia súc và gia cầm trang trại, và giúp cho chúng tăng trọng một cách tối đa với chi phí dành cho thức ăn thấp hơn, không cần bất kỳ loại steroid tăng trưởng nhân tạo hay các loại thuốc khác hiện đang đầu độc con người và chuỗi thức ăn.

Rất lạ lùng đúng không? – nó không khiến bạn điên đấy chứ? Loại thực phẩm hàng đầu trong mọi thời đại dành cho chim, cá, ngựa, con người và cuộc sống nói chung, là bất hợp pháp để sở hữu chúng một cách tự nhiên và lành mạnh ở Hoa Kỳ, theo lệnh của Lực lượng phòng chống ma túy Hoa Kỳ và USDA?

*U.S. Agricultural Index; Frazier, Jack, The Marijuana Farmers, Solar Age Press, New Orleans, LA, 1972; Fats That Heal, Fats That Kill, Udo, Erasmus, 1996.

Nỗi ám ảnh về nạn đói trên toàn thế giới

Bằng cách sử dụng hạt gai dầu một cách rộng rãi, chúng ta có thể cứu lấy nhiều trẻ em trên khắp thế giới hiện đang chết vì đói protein! Ước tính khoảng 60% tổng số trẻ em sinh ra ở các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba (khoảng 12-20 triệu trẻ em mỗi năm) sẽ chết theo cách này trước khi chúng lên năm. Cuộc sống của chúng đã bị rút ngắn đi nhiều lần và/hoặc não bộ của chúng bị suy kiệt. 

Hãy nhớ rằng, gai dầu là một loài thực vật khỏe mạnh, có thể mọc ở khắp mọi nơi, ngay cả khi sinh trưởng trong những điều kiện bất lợi. Người Úc đã sống sót sau hai nạn đói kéo dài vào thế kỷ 19, hầu như không ăn gì khác ngoài hạt gai dầu để cung cấp protein và lá gai dầu để cung cấp chất xơ. 4

Hơn thế nữa, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sự suy giảm tầng ozone có nguy cơ làm giảm sản lượng đậu nành trên toàn thế giới đi một lượng đáng kể – lên tới 30% hoặc thậm chí là 50%, tùy thuộc vào sự biến động của mật độ lá chắn ozone. Tuy nhiên, cây gai dầu có thể chống lại những thương tổn được gây ra bởi sự gia tăng bức xạ cực tím và thật sự phát triển một cách ổn định bằng cách tạo ra nhiều cannabinoid hơn, giúp bảo vệ khỏi tia cực tím.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi một số người Trung và Nam Mỹ ghét Hoa Kỳ và muốn chúng tôi cút khỏi lục địa này: họ xem chúng tôi như những kẻ sát nhân ngu dốt. Trong nhiều năm, chính phủ của chúng tôi đã đầu độc vùng đất của họ bằng paraquat; Vùng đất mà những người nông dân này đã trồng gai dầu theo luật kể từ năm 1545, khi Vua Philip của Tây Ban Nha đã ra lệnh trồng chúng trên khắp đế chế của ông để cung cấp thực phẩm, thuyền buồm, dây thừng, các loại khăn và quần áo – cũng như cung cấp một số loại thuốc quan trọng nhất cho người dân để trị sốt, sinh con, động kinh, thuốc đắp dùng cho bệnh thấp khớp – nói một cách ngắn gọn, chính là một trong những nguồn sinh kế, dược phẩm, thực phẩm và giải trí lâu đời nhất.

Ở Nam và Trung Mỹ ngày nay, bất cứ ai bị bắt gặp trồng cần sa, đất đai của họ sẽ bị tịch thu và bị tống giam bởi những người được chính phủ/quân đội Hoa Kỳ chống lưng, những kẻ sẽ nhận được sự viện trợ từ Hoa Kỳ để đổi lấy việc tiếp tục chính sách xóa sổ cần sa.

Mắt xích sinh học cơ bản trong chuỗi thức ăn

Những nhà chính trị gia của chúng tôi, người đã đưa ra các đạo luật cấm cần sa dựa trên những thông tin sai lệch trong nhiều năm (thông tin sai lệch có chủ đích), có thể đã khiến cho không chỉ là loài chim mà cả loài người chúng ta tuyệt chủng từ một hướng khác.

Nhiều loài động vật xem các loài chim và trứng của chúng như nguồn thức ăn. Loài chim trong tự nhiên thì rất quan trọng trong chuỗi thức ăn, và chúng liên tục bị giảm về số lượng, do các loại thuốc trừ sâu gốc hóa dầu, thuốc diệt cỏ và sự thiếu hạt gai dầu! Khi sử dụng hạt gai dầu làm nguồn thực phẩm, các chú chim sẽ sống lâu hơn từ 10-20%, sinh nhiều con hơn, và bộ lông của chúng bóng bẩy hơn, cho phép chúng bay lâu hơn.

Trước năm 1937, đã có hơn 10 triệu mẫu anh cây gai dầu có chứa hạt mọc hoang trên khắp Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Hàng trăm triệu chú chim đã ăn chúng như nguồn thức ăn. Ghi chú: loại thức ăn khoái khẩu và cần thiết nhất cho đến khi chính phủ của chúng tôi bắt đầu thi hành chính sách xóa sổ hoàn toàn mắt xích này trong chuỗi thức ăn.

Rõ ràng với những mối nguy hiểm mang tính diệt sinh này (tiêu diệt tất cả sự sống), chính phủ của chúng tôi vẫn tiếp tục chính sách điên rồ này để tiêu diệt loài thực vật hàng đầu trên hành tinh kể cả ở Hoa Kỳ hay ở các nước khác.

Vào tháng 5 năm 1998, Hoa Kỳ đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc ra lệnh cấm cần sa dưới mọi hình thức, bao gồm: thuốc/dược phẩm, thực phẩm, giấy, vải, và bất kỳ hình thức nào khác. Chính phủ của chúng tôi muốn ép buộc Liên Hiệp Quốc bắt tay vào chương trình lớn nhất và toàn diện nhất để xóa sổ tất cả các loài thực vật trên Trái Đất cho đến khi không còn sót lại một cây gai dầu nào. Đây là khuyến nghị của cựu Chủ tọa Hạ viện Newt Gingrich và đại biểu Đảng Cộng hòa của ông cùng với nhiều đồng minh phe Dân chủ, gây ra tội ác chống lại Trái Đất tự nhiên.

Chiến tranh (gai dầu) năm 1812, Napoleon và nước Nga

Đây là một đoạn lịch sử bạn có thể đã cảm thấy đôi chút mơ hồ khi được học về nó ở trường. Cũng có lẽ bạn đã từng hỏi ”Họ đánh nhau vì cái quái gì vậy chứ?”

Trong chương này, chúng tôi trình bày về những sự kiện đã dẫn đến Trận chiến New Orleans. Do sự chậm trễ trong liên lạc, trận đánh này đã vô tình nổ ra vào ngày 8 tháng 01 năm 1815 – hai tuần sau khi Chiến tranh năm 1812 đã chính thức chấm dứt vào ngày 24 tháng 12 năm 1814 với một hòa ước được ký kết tại Bỉ.

THỜI GIAN

Những năm 1700 và đầu những năm 1800

Gai dầu, như vốn dĩ từ hàng nghìn năm trước, là ngành kinh doanh lớn nhất và ngành công nghiệp quan trọng nhất trên hành tinh. Gần như mọi tàu thuyền trên thế giới hoạt động nhờ vào chất liệu sợi gai dầu (xem Chương 2). Toàn bộ nền kinh tế thế giới sử dụng và phụ thuộc vào hàng nghìn sản phẩm khác nhau từ loài cây này.

Từ năm 1740…

Đế quốc Nga – nhờ nguồn lao động nô lệ/nông nô rẻ mạt – đã sản xuất tới 80% nguyên liệu thô và thành phẩm gai dầu của thế giới phương Tây; và là nhà sản xuất buồm, thừng, giàn buồm và lưới từ sợi gai dầu đạt chất lượng đứng đầu thế giới.

Gai dầu là mặt hàng thương mại số một của Nga – kế đến mới là lông thú, gỗ và sắt.

Từ năm 1740 đến 1807

90% lượng gai dầu gai dầu sử dụng trong ngành hàng hải của Vương quốc Anh được mua từ Nga; thương mại quốc tế trên biển và hải quân Anh vận hành nhờ vào gai dầu của Nga; mỗi con thuyền của Anh phải thay mới từ 50 đến 100 tấn gai dầu mỗi năm hoặc hai năm một lần.

Không có chất liệu nào thay thế được gai dầu; các cánh buồm làm từ sợi lanh sẽ bắt đầu mục nát sau ba tháng hoặc sớm hơn trong không khí mặn và bụi nước.

Từ năm 1793 đến 1799…

Giới quý tộc Anh có thái độ thù địch đối với chính phủ mới của Pháp chủ yếu vì người Anh sợ rằng cuộc Cách mạng Pháp 1789-93 của giới bình dân có thể lan rộng, và/hoặc dẫn đến một cuộc xâm lược nước Anh của người Pháp. Nếu vậy, Đế chế Anh sẽ mất và tất nhiên những cái đầu của giới quý tộc Anh cũng mất.

Từ năm 1803 đến 1814

Hải quân Anh phong tỏa nước Pháp của Napoleon, bao gồm cả các đồng minh của Napoleon ở châu Âu lục địa. Anh hoàn thành phong tỏa Pháp bằng cách dùng hải quân để đóng cửa các cảng của họ ở Eo biển Anh (Eo biển Manche) và Vịnh Biscay; Anh cũng kiểm soát tuyệt đối hoạt động ra vào Địa Trung Hải và Đại Tây Dương nhờ có quyền kiểm soát eo biển Gibraltar (xem bản đồ ở trang sau).

*Chú thích ảnh: Đế chế của Napoleon năm 1810.

Từ năm 1798 đến 1812

Đất nước Hoa Kỳ non trẻ chính thức “trung lập” trong cuộc chiến giữa Pháp và Anh. Hoa Kỳ thậm chí còn bắt đầu tự giải quyết các vấn đề đối ngoại của mình bằng cách phái hải quân và thủy quân lục chiến (1801-1805) đến Địa Trung Hải để ngăn chặn những kẻ bắt người đòi tiền chuộc và cướp biển Tripoli thu tiền cống nạp từ các thương nhân Yankee hoạt động tại khu vực này. “Tiền triệu cho Quốc phòng – không một xu cho cống nạp” là khẩu hiệu của Hoa Kỳ; và sự việc đã được ghi dấu trong dòng thứ hai của bài ca Thủy quân lục chiến: “… đến bờ biển Tripoli”.

Năm 1803

Do cần tiền để xúc tiến chiến tranh với Anh và theo đuổi quyền kiểm soát châu Âu lục địa, Napoleon đã bán hạ giá Lãnh thổ Louisiana cho Hoa Kỳ với giá 15 triệu USD, tức khoảng 2,5 cent cho một mẫu Anh.

Khu vực này tương đương khoảng 1/3 diện tích 48 tiểu bang tiếp giáp ngày nay.

 

*Chú thích ảnh: Kết quả của thương vụ mua bán, 1803-1809

Từ năm 1803…

Thương vụ Louisiana dấy lên trong một số người Mỹ – chủ yếu là người miền Tây – những ước mơ về “Định mệnh Hiển nhiên”. Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ nên mở rộng tới những vùng địa đầu biên giới của lục địa Bắc Mỹ: từ đầu Canada cho đến cuối Mexico và từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương.

Từ năm 1803 đến 1807

Anh tiếp tục trao đổi và mua 90% lượng gai dầu của họ trực tiếp từ Nga.

Năm 1807

Napoleon và Sa hoàng Alexander của Nga ký Hiệp ước Tilsit, theo đó cắt đứt toàn bộ hoạt động thương mại hợp pháp của Nga với Anh và các đồng minh, hoặc với bất kỳ thuyền của quốc gia trung lập nào khác làm đại diện cho Anh tại Nga.

Hiệp ước cũng thiết lập một vùng đệm là Công quốc Warsawa (vùng trung đông của Ba Lan) giữa các quốc gia đồng minh của Napoleon và Nga.

Chiến lược của Napoleon – và mục tiêu quan trọng nhất của ông ta với hiệp ước này – là ngăn chặn gai dầu của Nga đến được Anh, từ đó tiêu diệt hải quân Anh bằng cách buộc họ chỉ còn cách tháo buồm, thừng và giàn buồm từ thuyền này thay sang thuyền khác; và Napoleon tin rằng sau cùng, không có cây gai dầu Nga cho lực lượng hải quân khổng lồ của mình, Anh sẽ buộc phải chấm dứt phong tỏa Pháp và châu Âu lục địa.

Từ năm 1807 đến 1809

Hoa Kỳ được Napoleon coi là một quốc gia trung lập, miễn là thuyền của Hoa Kỳ không buôn bán với Anh hoặc làm đại diện thương mại cho nước này, và Hoa Kỳ coi mình là trung lập trong cuộc chiến giữa Anh và Pháp.

Tuy nhiên, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Không Nhập khẩu năm 1806: Các mặt hàng của Anh đang được sản xuất ở Hoa Kỳ mà có thể được sản xuất ở nơi khác sẽ bị cấm. Quốc hội cũng thông qua Đạo luật Cấm vận năm 1807, theo đó các thuyền Mỹ không thể mua bán hoặc vận chuyển các sản phẩm đến hoặc từ châu Âu.

Những đạo luật này làm tổn thương Hoa Kỳ nhiều hơn châu Âu; tuy nhiên, nhiều thương nhân Yankee đằng nào cũng đã phớt lờ pháp luật.

Từ năm 1807 đến 1814

Sau khi bị Hiệp ước Tilsit cắt đứt thương mại với Nga, Anh tuyên bố rằng không có tuyến đường biển hay quốc gia nào là trung lập.

Do đó, bất kỳ thuyền nào giao dịch các quốc gia trong “Hệ thống lục địa” của Napoleon đều là kẻ thù và sẽ bị phong tỏa.

Với cái cớ này, Anh tịch thu thuyền và hàng hóa của Mỹ và gửi các thủy thủ trở lại Hoa Kỳ với phí tổn do chủ tàu Mỹ thanh toán.

Anh “thu dụng” một số thủy thủ Mỹ để phục vụ trong hải quân Anh. Tuy nhiên, Anh quả quyết rằng họ chỉ “thu dụng” những thủy thủ là người Anh – và những thủy thủ mà công ty vận tải biển của Mỹ đã từ chối thanh toán chi phí trở lại cho họ.

Từ năm 1807 đến 1810

Tuy nhiên, một cách bí mật, Anh đưa ra cho các thương nhân Mỹ bị bắt một “thỏa thuận” (thực ra là một sự gạ gẫm kèm đe dọa) khi họ “kiểm tra” – nghĩa là lên thuyền và tịch thu – một thuyền Mỹ và đưa nó vào một cảng của Anh.

Thỏa thuận là: Hoặc vĩnh viễn mất thuyền và hàng, hoặc đi đến Nga và bí mật mua gai dầu cho Anh. Người Anh sẽ trả trước bằng vàng cho các thương nhân Mỹ, và trả thêm vàng khi gai dầu được chuyển về.

Đồng thời, người Mỹ cũng sẽ được phép giữ lại và trao đổi hàng hóa của chính họ (rượu rum, đường, gia vị, bông, cà phê, thuốc lá) với Sa hoàng để lấy gai dầu – một lợi nhuận kép dành cho người Mỹ.

Từ năm 1808 đến 1810

Những thương nhân Yankee sắc sảo này – khi phải đối diện với lựa chọn hoặc là vượt phong tỏa với rủi ro bị tịch thu cả thuyền, hàng hóa cùng thủy thủ đoàn; hoặc là chấp nhận vai trò những người được cấp phép bí mật (bất hợp pháp) cho nước Anh với sự an toàn và lợi nhuận được đảm bảo – hầu hết đều lựa chọn cách thứ hai.

John Quincy Adams (sau này trở thành tổng thống), người từng là Lãnh sự Hoa Kỳ tại St. Petersburg, năm 1809 đã ghi lại:

“Trong quãng thời gian hai tuần, những con thuyền cao tốc treo cờ Mỹ với số lượng lên tới 600 đã cập đến cảng Kronstadt”, chủ yếu chở gai dầu cho Anh (bất hợp pháp) và Mỹ – nơi cũng có nhu cầu rất lớn về gai dầu chất lượng cao.

(Bemis, John Q. Adams and the American Foreign Policy, New York, NY, Alfred A Knopf, 1949.)

Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Không Giao dịch năm 1809, nối lại thương mại hợp pháp với Châu Âu, ngoại trừ Anh và Pháp. Đạo luật này nhanh chóng được thay thế bằng Dự luật Macon, theo đó nối lại mọi hoạt động thương mại hợp pháp.

Từ năm 1808 đến 1810

Napoleon nhất định yêu cầu Sa hoàng Alexander chấm dứt mọi hoạt động giao dịch với các thương nhân Hoa Kỳ độc lập bởi vì họ đang bị ép buộc trở thành thương nhân bất hợp pháp để chuyển gai dầu tới Anh.

Napoleon muốn Sa hoàng cho phép ông ta đặt… đồn trú các điệp viên và quân đội Pháp ở Kronstadt để đảm bảo rằng Sa hoàng và các quan chức của ông ta ở cảng tuân thủ hiệp ước.

Từ năm 1808 đến 1810

Sa hoàng nói “Nyet!” bất chấp hiệp ước đã ký với Pháp, và làm ngơ cho các thương nhân Mỹ bất hợp pháp, có lẽ bởi vì ông ta cần đến các hàng hóa sinh lợi và được ưa chuộng mà người Mỹ mang lại cho ông ta và giới quý tộc Nga – cũng như vì số vàng ông ta đang nhận được từ những thương vụ gai dầu được người Mỹ thực hiện (bất hợp pháp) cho Anh.

Năm 1809

Các đồng minh của Napoleon xâm lược Công quốc Warsawa.

Năm 1810

Napoleon ra lệnh cho Sa hoàng chấm dứt toàn bộ giao dịch với thương nhân Mỹ! Sa hoàng đáp lại bằng cách rút Nga khỏi những điều khoản trong Hiệp ước Tilsit yêu cầu ông ta chấm dứt bán hàng cho những thuyền Mỹ trung lập.

Từ năm 1810 đến 1812

Nổi giận vì Sa hoàng cho phép mặt hàng gai dầu mang ý nghĩa sống còn đối với hải quân Anh đến được đất nước này, Napoleon tập hợp quân đội và vượt qua hơn 2.000 dặm để xâm lược Nga – dự tính sẽ trừng phạt Sa hoàng và trên hết là ngăn chặn gai dầu đến được với hải quân Anh.

Từ năm 1811 đến 1812

Anh, một lần nữa lại là đồng minh và đối tác thương mại đầy đủ của Nga, vẫn đang ngăn chặn thuyền Mỹ buôn bán với phần còn lại của Lục địa.

Anh cũng phong tỏa tất cả các thương nhân Mỹ đến từ Nga tại biển Baltic và buộc các thương nhân Mỹ giờ đây phải bí mật mua các hàng hóa chiến lược khác cho họ (chủ yếu từ các cảng Địa Trung Hải), đặc biệt là từ Napoleon và các đồng minh của ông ta ở Châu Âu lục địa – những người vào thời điểm này đang rất sẵn sàng bán bất kỳ thứ gì để huy động vốn.

Năm 1812

Bị cắt đứt 80% nguồn gai dầu từ Nga, Hoa Kỳ đưa vấn đề chiến tranh ra tranh luận tại Quốc hội.

Trớ trêu thay, chính các đại biểu từ các bang miền Tây lại ủng hộ tiến hành chiến tranh với lý do các thủy thủ Mỹ “thu dụng”. Tuy nhiên, đại biểu từ các bang ven biển, lo sợ tổn thất thương mại, lại đưa ra các lý lẽ phản đối chiến tranh, mặc dù chính các bang này cùng với thủy thủ đoàn và thuyền của họ được cho là đang chịu ảnh hưởng.

Không một thượng nghị sĩ nào ở các bang ven biển bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh với Vương quốc Anh, trong khi hầu như tất cả các thượng nghị sĩ của các bang miền tây đều bỏ phiếu ung hộ chiến tranh, hy vọng giành lấy Canada từ Anh và hoành thành ước mơ “Định mệnh Hiển nhiên” của họ – với niềm tin sai lầm rằng Anh đang quá bận rộn trong cuộc chiến chống lại Napoléon ở châu Âu để bảo vệ Canada.

Một điểm thú vị đáng chú ý là Kentucky  – một tiểu bang mạnh mẽ ủng hộ tiến hành cuộc chiến đã làm gián đoạn hoạt động buôn bán gai dầu hải ngoại – đang tích cực xây dựng ngành công nghiệp cây gai dầu trong nước của riêng mình.

Vào thời điểm này, năm 1812, thuyền Mỹ có thể lấy gai dầu từ Nga và trở về nhanh hơn và rẻ hơn gấp ba lần so với việc vận chuyển gai dầu từ Kentucky đến Bờ Đông bằng đường bộ (ít nhất là cho đến khi Kênh đào Erie được hoàn thành vào năm 1825, rút ngắn thời gian di chuyển tới 90%).

Các bang miền tây giành chiến thắng tại Quốc hội; và vào ngày 18 tháng 6 năm 1812, Hoa Kỳ gây chiến với Anh.

Mỹ tham chiến theo phe của Napoleon – người đang hành quân đến Moscow vào tháng 6 năm 1812.

Napoleon chẳng bao lâu bị đánh bại ở Nga bởi mùa đông khắc nghiệt, chính sách tiêu thổ của người Nga, tuyến đường cung cấp hậu cần dài 2.000 dặm đầy tuyết và bùn –  và bởi Napoleon không dừng lại khi mùa đông đến và tập kết trước khi hành quân vào Moscow như các kế hoạch tác chiến ban đầu.

Trong số từ 450.000 đến 600.000 người của Napoleon lúc bắt đầu, chỉ có 180.000 người giữ được mạng để trở về.

Từ năm 1812 đến 1814

Sau thành công ban đầu trong cuộc chiến với Hoa Kỳ (bao gồm cả việc đốt cháy Washington để trả đũa cho việc Hoa Kỳ đốt cháy Toronto và thủ đô thuộc địa của Canada trước đó), Anh nhận thấy tài chính và quân sự của mình bị dàn mỏng – với các cuộc phong tỏa, cuộc chiến ở Tây Ban Nha với Pháp, và một Hoa Kỳ mới nổi nhưng khó chơi trên biển.

Anh đồng ý hòa bình và ký một hiệp ước với Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1814. Các điều khoản thực tế của hiệp ước không mang lại lợi ích gì cho cả hai bên.

Trên thực tế Anh đồng ý sẽ không bao giờ lặp lại sự can thiệp vào hoạt động hàng hải của Hoa Kỳ.

Và Hoa Kỳ đồng ý từ bỏ tất cả các yêu sách đối với Canada mãi mãi (điều mà Hoa Kỳ đã thực hiện, ngoại trừ cuộc tranh chấp lãnh thổ “54-40 or Fight”). (tạm dịch: “Vĩ tuyến 54°40′ hoặc Chiến đấu”)

Từ năm 1813 đến 1814

Anh đánh bại Napoleon tại Tây Ban Nha và đày ông ta đến Elba, nhưng Napoleon sau đó đã trốn trở về Pháp trong 100 ngày.

Năm 1815

Anh đánh bại Napoleon tại Waterloo (ngày 18 tháng 6) và đày ông đến đảo St. Helena ở phía nam Đại Tây Dương – nơi ông đã chết vào năm 1821. Tóc và chỗ kín của ông bị bán cho công chúng như những món đồ lưu niệm.

Tháng 01 năm 1815

Bi thảm cho nước Anh, hơn hai tuần sau khi hiệp ước hòa bình Ghent ngày 24 tháng 12 năm 1814 được ký kết giữa Hoa Kỳ và Anh, Andrew Jackson đánh bại một lực lượng tấn công rất lớn của Anh tại New Orleans (ngày 8 tháng 01 năm 1815) trong khi tin tức về hiệp ước còn đang chậm chạp vượt qua Đại Tây Dương.

Thế kỷ 20

Các trường học của Mỹ, Anh, Pháp, Canada và Nga dạy cho trẻ em những phiên bản lịch sử hoàn toàn khác nhau của riêng họ, hầu như đều không đề cập đến cây gai dầu trong cuộc chiến này (về trường hợp Hoa Kỳ thì gai dầu không hề được nhắc đến tại bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử).

Ghi chú của tác giả:

Tôi muốn gửi lời xin lỗi đến những người yêu thích lịch sử vì tất cả những sắc thái mà tôi đã bỏ qua trong phần tóm lược này về Cuộc chiến năm 1812 (ví dụ: sự can thiệp của gia tộc Rothschild, Hội Illuminati, các thao túng thị trường chứng khoán, v.v.), nhưng tôi không có ý định viết “Chiến tranh và hòa bình”. Tác phẩm đó đã được viết ra rồi.

Mong muốn của tôi là trẻ em của chúng ta cần được dạy một môn lịch sử chân thực, toàn diện trong trường học, chứ không phải những điều nhạt nhẽo vô nghĩa che giấu những dữ kiện có thật và khiến cho Cuộc chiến năm 1812 dường như không thể hiểu nổi và chẳng ra đâu vào đâu. Nhưng cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Bản thân các giáo viên ở trường học Mỹ thường cũng không hiểu chút nào về những lý do thực sự vì sao cuộc chiến này đã diễn ra. Nếu họ có hiểu – hoặc gần đây mới biết – thì nhìn chung họ cũng quá e ngại để dạy về điều này.

Vào năm 1806, chi phí để đóng chiến hạm U.S.S. Constitution – thường được gọi là Old Ironsides – là 50.000 USD, cộng thêm 400.000 USD để làm buồm và thừng chão. Chúng cần được thay thế hai năm một lần. Năm 1850, chi phí để sản xuất một cỗ xe ngựa Calistoga không có mái che là 50 USD ở Lancaster, Pennsylvania. Chi phí làm bạt gai dầu để che phủ xe là 400 USD.

Để có cái nhìn tổng quan hơn về chủ đề mà chúng tôi đã phác họa trong chương này, hãy đọc tác phẩm America, Russia, Hemp, and Napoleon xuất bản năm 1965 của Alfred W. Crosby Jr.

Chương 7 – Sử dụng cần sa/ gai dầu trong trị liệu

*Note của dịch giả: Hệ thống y tế hiện giờ đã tiến bộ và tốt hơn rất nhiều so với thời của tác giả. Cuốn sách này xuất bản đã lâu và góc nhìn của tác giả về hệ thống y tế thời bấy giờ còn tiêu cực. Một số kiến thức khoa học trong này mình vẫn chưa thể xác minh.

Có hơn 60 hợp chất có giá trị y tế trong cần sa, đóng vai trò là những tác nhân chữa lành trong các liệu pháp y tế và thảo dược. Tác nhân chủ đạo là THC, và hiệu quả của một liệu pháp tỉ lệ thuận trực tiếp với hàm lượng THC, hay là độ mạnh của cần sa. Do đó, các báo cáo gần đây của DEA về độ mạnh ngày càng tăng lên của cần sa thể hiện một tiến bộ y học quan trọng; nhưng thật khó tin rằng chính phủ lại sử dụng chính những con số này để kêu gọi những ngân sách lớn hơn và những hình phạt khắc nghiệt hơn.

Vào ngày 5 tháng 11 năm 1996, 56% người dân California đã bỏ phiếu tán thành Đạo luật Sử dụng Thông cảm (đề xuất về ​​cần sa y tế), chấm dứt mọi nỗ lực pháp lý của tiểu bang này nhằm ngăn chặn việc sử dụng cần sa làm thuốc trị bệnh của công dân.

Cũng vào tháng 11 năm 1996, với tỷ lệ bỏ phiếu tán thành còn cao hơn, lên tới 65%, người dân Arizona đã thông qua một đề xuất sửa đổi sự phân loại các chất ma túy, trong đó có cần sa. Trong số những người ủng hộ đề xuấtnày có thượng nghị sĩ quá cố Barry Goldwater.

Thống đốc và và cơ quan lập pháp Arizona lần đầu tiên trong vòng 90 năm đã sử dụng đến thẩm quyền bác phủ quyết đối với các đề xuất của tiểu bang để vô hiệu hóa đề xuất phổ thông đã được người dân thông qua ấy. Người dân Arizona đã giận dữ đáp trả bằng cách thu thập hơn 150.000 chữ ký từ một trưng cầu dân ý kéo dài 90 ngày và nhanh chóng đưa đề xuất cần sa y tế này trở lại cuộc bỏ phiếu vào tháng 11 năm 1998.

Nội dung tiếp theo lý giải về việc người dân sẽ nhận được lợi ích như thế nào khi quyền tự do lựa chọn của các bác sĩ và bệnh nhân một lần nữa lại được tôn trọng.

CẢNH BÁO:

Tác Giả, Các Bác Sĩ Và Nhà Khoa Học Uy Tín Có Lời Khuyên:

Xét về dược lý, cần sa hay bất kì loại thuốc nào đều không hoàn toàn vô hại. Các phản ứng tiêu cực có thể xảy ra.

Một vài người có thể sẽ có những phản ứng tiêu cực hoặc dị ứng với cần sa. Bệnh nhân tim mạch có thể gặp phải các vấn đề, mặc dù nhìn chung cần sa giúp giải tỏa căng thẳng, làm giãn nở động mạch và hạ huyết áp tâm trương. Một tỷ lệ nhỏ người sử dụng sẽ gặp phải tình trạng lo âu và nhịp tim quá nhanh với cần sa. Những người đó không nên sử dụng nó. Một số bệnh nhân hen phế quản nhận được lợi ích từ cần sa; tuy nhiên, với một số khác thì nó có thể là một tác nhân gây thêm kích ứng.

Đối với đa số mọi người, cần sa đã chứng tỏ hàng trăm công dụng trị liệu. Trong đó bao gồm:

Bệnh Hen Suyễn

Hơn 15 triệu người Mỹ bị ảnh hưởng bởi bệnh hen suyễn. So với các loại thuốc hợp pháp nhưng độc hại như Theophylline được kê đơn cả cho trẻ em, hoạt động hút cần sa (“thuốc dạng thô” theo cách gọi của AMA) sẽ có lợi cho 80% bệnh nhân hen suyễn hiện nay và cộng thêm từ 30 đến 60 triệu năm vào tổng số tuổi thọ được kéo dài của họ.

“Người ta đã biết được rằng hút một hơi cần sa sẽ chấm dứt được một cơn hen suyễn bùng phát.” (Trao đổi cá nhân với Tiến sĩ Donald Tashkin, ngày 12 tháng 12 năm 1989 và ngày 01 tháng 12 năm 1997). Việc cho bệnh nhân hen suyễn sử dụng cần sa đã được ghi chép lại từ hàng nghìn năm trước. Các bác sĩ Hoa Kỳ trong thế kỷ vừa qua đã viết những bài tán tụng đăng trên các tạp chí y học rằng bệnh nhân hen suyễn trên khắp thế giới sẽ “đội ơn” gai dầu Ấn Độ (cần sa) suốt đời.

Ngày nay, trong số 16 triệu bệnh nhân hen suyễn tại Hoa Kỳ, chỉ những công dân Carlifornia có giấy giới thiệu của bác sĩ mới được trồng và sử dụng cần sa làm thuốc, mặc dù xét tổng thể thì nó là cách điều trị hen suyễn hiệu quả nhất.

(Tashkin, Dr. Donald, UCLA Pulmonary Studies (for smoked marijuana), 1969-2007; Ibid., asthma studies, 1969-1976; Cohen, Sidney, & Stillman, Therapeutic Potential of Marijuana, 1976; Life Insurance Actuarial rates; Life shortening effects of childhood asthma, 1983.)

Bệnh Tăng Nhãn Áp

14% số ca mù lòa tại Hoa Kỳ có nguyên nhân từ bệnh tăng nhãn áp – một căn bệnh gây mất dần thị lực. Cần sa sẽ giúp ích được cho 90% trong số 2,5 triệu bệnh nhân tăng nhãn áp, và có hiệu quả gấp hai đến ba lần so với bất kì loại thuốc giảm nhãn áp nào hiện nay!

Cần sa không có những tác dụng phụ độc hại; và cũng không có bất kì nguy cơ nào về những hội chứng đột tử đôi khi liên quan đến các loại dược phẩm hợp pháp dùng để điều trị tăng nhãn áp.

Suốt trong ba thập niên cuối của thế kỷ 20, nhiều bác sĩ nhãn khoa đã kín đáo khuyên bệnh nhân của họ sử dụng cần sa “chợ đen” để bổ trợ (hay để giảm nhẹ tác hại) cho các loại thuốc điều trị tăng nhãn áp hợp pháp nhưng độc hại của họ.

Từ tháng 11 năm 1996, các bác sĩ ở California có thể giới thiệu, khuyến nghị hoặc ngầm tán thành việc bệnh nhân tăng nhãn áp sử dụng cần sa một cách hợp pháp. Theo đó, các bệnh nhân có thể tự trồng để sử dụng, hoặc tìm đến một trong hơn 600 câu lạc bộ tại tiểu bang để mua cần sa y tế.

(Harvard; Hepler & Frank, 1971, UCLA; Medical College of Georgia; U. of North Carolina School of Medicine, 1975; Cohen & Stillman, Therapeutic Potential of Marijuana, UCLA, 1976; National Eye Institute; Records of Bob Randolph/Elvy Musika, glaucoma patients who receive 300 joints a month from the federal government 1975, 2007), Tashkin, Dr. Donald UCLA, 1976 -2007.

Khối U

Khối u là một khối mô phát triển bất thường. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Y khoa Virginia đã phát hiện rằng cần sa là một thảo dược rất thành công trong việc giảm kích thước nhiều loại khối u, cả lành tính và ác tính (ung thư).

DEA và các cơ quan liên bang khác vốn đã chỉ thị thực hiện những nghiên cứu này sau khi nghe được những báo cáo sai lệch về những vấn đề miễn dịch có thể tồn tại liên quan đến khói cần sa. Nhưng vào năm 1975, thay vì phát hiện những vấn đề về sức khỏe, một bước đột phá y học đã xuất hiện và các trường hợp giảm khối u thành công đã được ghi nhận!

Theo sau phát hiện hết sức tích cực này của Đại học Y khoa Virginia, DEA và Viện Y yế Quốc gia đã ngay lập tức ra lệnh chấm dứt tài trợ cho tất cả những báo cáo và nghiên cứu thêm về cần sa/khối u! Hàng triệu người Mỹ vốn có thể vẫn còn sống ngày nay đã chết vì mệnh lệnh liên quan đến cần sa này của DEA.

Vào năm 1996 và 2006, Đại học Y khoa Virginia tiếp tục nộp đơn xin cấp phép cho nghiên cứu cần sa và lại bị DEA từ chối.

Giảm Buồn Nôn (AIDS, Liệu Pháp Ung Thư, Say Sóng)

Mặc dù được biết là gây tổn hại nghiêm trọng cho hệ miễn dịch, hóa trị vẫn được các bác sĩ quả quyết là có lợi cho bệnh nhân ung thư và AIDS. Nhưng hóa trị cũng có một số tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm gây buồn nôn. “Cần sa là tác nhân tốt nhất để kiểm soát vấn đề buồn nôn trong hóa trị ung thư,” theo Tiến sĩ Thomas Ungerleider – người đứng đầu chương trình nghiên cứu điều trị ung thư bằng cần sa của California từ năm 1979 đến 1984. Điều này cũng đúng với AIDS và với vấn đề dạ dày khó chịu thường thấy khi say tàu xe/say sóng.

Các loại dược phẩm kiểm soát cơn buồn nôn ở dạng viên nén thường được bệnh nhân nuốt xuống để rồi lại nôn ra. Vì cần sa có thể được sử dụng ở dạng khói, nó sẽ vẫn ở lại trong cơ thể và và phát huy tác dụng dù bệnh nhân còn nôn.

Trong thời gian tại vị, George Deukmejian, người nắm cả trong vai trò tổng chưởng lý và thống đốc tiểu bang, đều đã không bận tâm đến các bệnh nhân ung thư đang chết dần và khiến họ gần như không cách nào kiếm được cần sa. Thống đốc kế nhiệm là Pete Wilson cũng đi theo lộ trình tương tự cho đến khi đề xuất cần sa y tế được thông qua vào tháng 11 năm 1996.

Động Kinh, Đa Xơ Cứng, Đau Lưng, Co Thắt Cơ Bắp

Cần sa mang lại lợi ích cho 60% bệnh nhân động kinh. Nó là cách điều trị tốt nhất cho nhiều dạng động kinh và những sang chấn tâm thần sau co giật. Chiết xuất cần sa có hiệu quả hơn Dilantin (một loại thuốc chống động kinh có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng). Tạp chí Medical World News đã đưa tin năm 1971: “Cần sa …có lẽ là loại thuốc chống động kinh mạnh nhất được y học ngày nay biết đến”. (Mikuriya, Tod H., M.D. Marijuana Medical Papers 1839-1972, page xxii.)

Những cơn co giật động kinh ở người sử dụng cần sa có cường độ thấp hơn so với những ở những người dùng các loại dược phẩm. Tương tự, hút cần sa đã được chứng minh là một nguồn quan trọng giúp giảm nhẹ đa xơ cứng – một rối loạn ảnh hưởng đến hệ thần kinh và có những đặc điểm như suy yếu cơ, run rẩy, v.v.

Không kể đến chất gây nghiện morphine, cần sa – dù để hút hay sử dụng như túi chườm hay thuốc đắp – chính là loại thuốc co giãn cơ, giảm đau lưng và nhìn chung là loại thuốc chống co thắt tốt nhất trên thế giới.

Tháng 9 năm 1993, tại quận Santa Cruz County, California, cảnh sát đã bắt lại bệnh nhân động kinh Valerie Corral và tịch thu 5 cây cần sa cô đang trồng để làm thuốc mặc dù 77% công dân Santa Cruz vào tháng 11 năm 1992 đã bỏ phiếu thuận để chỉ thị cho lực lượng hành pháp địa phương không khởi tố những người sử dụng cần sa vì mục đích y tế. Trước đó vào tháng 3 năm 1993, các cáo buộc đối với Corral đã bị bãi bỏ vì cô là người đầu tiên tại California đã đáp ứng tất cả 6 điểm biện hộ cần thiết về y tế.

Năm 1997, Valerie Corral, người điều hành một câu lạc bộ cần sa, đã được vinh danh là công dân của năm tại Santa Cruz.

(Cohen & Stillman, Therapeutic Potential of Marijuana, 1976; Consult U.S. Pharmacopoeia prior to 1937; Mikuriya, Tod H., M.D., Marijuana Medical Papers, 1839-1972.)

Một tài liệu nghiên cứu gần trăm năm tuổi cho thấy cần sa có hiệu quả điều trị động kinh, đau nửa đầu, hen suyễn và co thắt cơ.

Các Chất Kháng Sinh Khử Khuẩn CBD

Những cây gai dầu chưa nở hoa cung cấp chiết xuất CBD (cannabidiol). Có nhiều công dụng kháng sinh từ CBD, bao gồm điều trị bệnh lậu. Một nghiên cứu năm 1990 tại Florida cho thấy CBD có tác dụng trong điều trị herpes.

Trong cây gai dầu, CBD có sự hiện diện tỷ lệ nghịch với hàm lượng THC, và do đó dễ được những người chủ trương cấm đoán chấp hận hơn vì “nó không gây phê”. Đối với hầu như bất kì bệnh hay nhiễm trùng nào có thể điều trị với thuốc terramycin, các dẫn xuất cần sa đều có tác dụng tốt hơn trong các nghiên cứu từ năm 1952-1955 của Tiệp Khắc. Người Séc vào năm 1997 vẫn còn công bố những báo cáo cây trồng đề cập đến canh tác cây gai dầu có hàm lượng CBD cao.

(Xem thêm Cohen & Stillman, Therapeutic Potential of Marijuana; Mikuriya, Tod H., M.D., Marijuana Medical Papers; Roffman, Marijuana as Medicine, 1982; International Farm Crop abstracts.)

Viêm khớp, Mụn Giộp, Xơ Nang & Thấp Khớp

Cần sa là một chất giảm đau cục bộ. Cho đến năm 1937, hầu như mọi loại thuốc dán, thuốc đắp và thuốc mỡ bôi ngoài điều trị xơ hóa đều được làm từ hoặc có chứa các chiết xuất cần sa.

Bệnh thấp khớp đã được điều trị trên khắp Nam Mỹ cho đến những năm 1960 bằng lá và/hoặc hoa cây gai dầu đun trong nước hoặc rượu và đặt lên các khớp bị đau. Trên thực tế, dạng thuốc thảo dược này vẫn được sử dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn của Mexico, Trung/Nam Mỹ và những người Latinh ở California để giảm đau do thấp khớp và viêm khớp.

Tiếp xúc trực tiếp với THC đã gây chết các virus herpes trong các nghiên cứu của Đại học Nam Florida (Tampa) của Tiến sĩ Gerald Lancz năm 1990 và Tiến sĩ Peter Medveczky (người cảnh báo rằng “hút cần sa sẽ không chữa khỏi herpes”) năm 2004. Tuy nhiên, theo những lời kể lại từ kinh nghiệm cá nhân, các vết herpes sẽ khô và lành nhanh hơn khi được bôi tại chỗ bằng hỗn hợp từ búp hoa cần sa ngâm cồn và nghiền thành bột nhão.

Thuốc Long Đờm & Làm Sạch Phổi

Cần sa là chất tự nhiên tốt nhất để làm sạch phổi của con người khỏi khói, bụi và đờm liên quan đến việc sử dụng thuốc lá.

Khói cần sa làm giãn nở hiệu quả các đường dẫn khí của phổi, phế quản, mở chúng ra để cho phép có thêm oxy vào phổi. Nó cũng là chất làm giãn nở tự nhiên tốt nhất cho các đường dẫn khí nhỏ bé của phổi, ống phế quản. Điều này khiến cần sa trở thành chất làm giãn phế quản tổng thể tốt nhất cho 80% dân số (20% còn lại đôi khi có phản ứng tiêu cực không đáng kể).

(Xem phần nói về bệnh hen suyễn – UCLA Tashkin studies, 1969-97; U.S. Costa Rican, 1980-82; Jamaican studies 1969-74,76.)

Bằng chứng thống kê – liên tục thể hiện dưới dạng những bất thường trong những quần thể được so sánh ghép cặp – cho thấy những người hút thuốc lá thường có sức khỏe khá lên và sẽ sống lâu hơn nếu họ cũng hút cần sa một cách điều độ. ( các nghiên cứu ở Jamaican, Costa Rican.)

Hàng triệu người Mỹ đã từ bỏ hoặc tránh hút các sản phẩm thuốc lá để chuyển sang cần sa. Đó không phải là tin tốt đối với những vận động hành lang của các tập đoàn thuốc lá. Một điều khoản miễn trừ đặc biệt của thế kỷ trước trong luật thuốc lá Hoa Kỳ đã cho phép thêm 400 đến 6.000 hóa chất bổ sung. Những chất bổ sung trong điếu thuốc lá thông thường không được biết rõ, và công chúng Hoa Kỳ không có quyền biết chúng là gì.

Nhiều người chạy bộ và chạy marathon cảm thấy việc sử dụng cần sa giúp làm sạch phổi và cho phép họ có thêm sức bền.

Các bằng chứng chỉ ra rằng việc sử dụng cần sa có thể sẽ làm tăng thêm 1-2 năm tuổi thọ cho những người Mỹ sử dụng cần sa ngoài vòng pháp luật này. Nhưng họ có thể mất quyền, tài sản, con cái, giấy phép của nhà nước, v.v., chỉ vì sử dụng chất an toàn nhất trong tất cả: cần sa.

Giấc Ngủ & Thư Giãn

Cần sa làm giảm huyết áp, giãn mở các động mạch và giảm trung bình 1/2 độ nhiệt độ cơ thể, do đó làm giảm căng thẳng. Nhìn chung, những người hút cần sa buổi tối cho biết họ có được giấc ngủ yên hơn.

Sử dụng cần sa cho phép hầu hết mọi người được nghỉ ngơi đầy đủ hơn – với lượng thời gian sóng não alpha trong khi ngủ kéo dài hơn so với các loại thuốc an thần kê đơn hoặc các thuốc gây ngủ.

Các loại thuốc ngủ kê đơn (thứ được gọi là thuốc “hợp pháp, an toàn và hiệu quả”) thường chỉ là các chất tổng hợp mô phỏng từ các loài cây thực sự nguy hiểm như mandrake (khoai ma), henbane (kỳ nham) và belladonna (cà độc dược).

Đến tận năm 1991, các bác sĩ, dược sĩ và công ty dược phẩm vẫn còn chống lại những luật mới nhằm hạn chế những chất thường bị lạm dụng này. (L.A. Times, April 2, 1991).

Khác với Valium, cần sa không làm tăng tác dụng của rượu. Người ta ước tính rằng cần sa có thể thay thế hơn 50% Valium, Librium, Thorazine, Stelazine, các loại thuốc có đuôi “-zine” khác và hầu hết các loại thuốc ngủ.

Thật sai trái khi trong hơn hai thập kỷ qua, hàng chục nghìn bậc cha mẹ đã buộc con cái của họ, trong độ tuổi từ 11 đến 17, phải điều trị bằng những liều lượng cực lớn của thứ gọi là các loại thuốc “-zine” để khiến chúng ngừng sử dụng cần sa, dưới sự thúc bách của các nhóm hội phụ huynh, Tổ chức PDFA (Hợp tác vì một nước Mỹ không ma túy), FBI và các bác sĩ từ các trung tâm cai nghiện ma túy tư nhân lợi nhuận cao được liên bang phê duyệt.

Thông thường, các loại thuốc “-zine” quả thật khiến các thanh thiếu niên này ngừng sử dụng cần sa; và khiến bọn trẻ ngừng yêu thương thú cưng của mình nữa. Bọn trẻ có 1/4 khả năng mắc chứng run rẩy không kiểm soát suốt đời*. Nhưng ít nhất, chúng không còn phê!

*Các Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ tại Atlanta cho biết 20-40% người sử dụng các loại thuốc “-zine” đã hoặc sẽ phát triển chứng liệt (run) suốt đời, tháng 11 năm 1983. Những chất độc thần kinh kê đơn này có liên hệ hóa học với thuốc trừ sâu và khí độc thần kinh Sarin sử dụng trong chiến tranh.

Hàng trăm trung tâm cai nghiện tư nhân và các lãnh đạo của chúng và thường trích dẫn những báo cáo không đáng tin cậy từ NIDA hoặc DEA trước báo chí (xem Chương 15 –Vạch Trần Khoa Học Máng Xối) – bởi vì họ kiếm được những lợi nhuận béo bở khi bán ra thứ “thuốc điều trị nghiện cần sa” vô dụng hoặc mang tính hủy hoại cho trẻ em.

Xét cho cùng, “tái nghiện” chỉ có nghĩa là sử dụng lại cần sa sau một số lần đối đầu với “cơ quan có thẩm quyền”. Đây là sự kiểm soát tâm trí và là nỗ lực tiêu diệt ý chí tự do của cá nhân.

Tiềm Năng Trị Liệu Khí Phế Thũng

Nghiên cứu y tế chỉ ra rằng việc hút cần sa loại nhẹ có thể hữu ích cho đa số bệnh nhân khí phế thũng (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) ở thể nhẹ. Nó sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người mắc bệnh và kéo dài tuổi thọ của họ.

Chính phủ Hoa Kỳ và DEA (kể từ năm l976) nói rằng tác dụng phụ “gây phê” của cần sa là không thể chấp nhận được, bất kể nó kéo dài được bao nhiêu năm tuổi thọ hay cứu sống được bao nhiêu tính mạng; mặc dù có khoảng 90 triệu người Mỹ từng thử cần sa và từ 25 đến 30 triệu người vẫn hút cần sa để thư giãn, hoặc sử dụng nó ở hình thức thuốc tự điều trị hàng ngày, mà chưa bao giờ có trường hợp tử vong do sử dụng quá liều – dù chỉ một trường hợp!

Mọi nghiên cứu về những hiệu ứng của cần sa với sự vận chuyển oxy trong máu chỉ ra rằng các cơn đau lưng (phổi), đau tứ chi, thở nông và đau đầu chúng ta có thể gặp phải trong những ngày sương mù và khói dày đặc thường được giảm nhẹ bằng cách hút cần sa trong ngày.

Tiến sĩ Donald Tashkin, nhà khoa học hàng đầu của chính phủ Hoa Kỳ về nghiên cứu bệnh phổi/cần sa, đã nói với chúng tôi vào tháng 12 năm 1989* và một lần nữa vào năm 2006, rằng mọi người không thể mắc bệnh khí thũng khi hút cần sa!

*Xem nghiên cứu bệnh phổi/cần sa của Tiến sĩ Tashkin (Marijuana Pulmonary Research), UCLA, 1969-1997. Từ năm 1981, tác giả đã đích thân tham gia vào các nghiên cứu này và liên tục phỏng vấn Tashkin về các chỉ định y tế của cần sa; cuộc phỏng vấn cá nhân cuối cùng là vào năm 2006.

Giảm Căng Thẳng & Đau Nửa Đầu

Trên hết, cần sa là thứ tốt nhất để đối phó với kẻ giết người số một thế giới: Căng thẳng tâm lý. Nó có thể thay thế hoặc giảm liều Valium, Librium, rượu hoặc thậm chí Prozac một cách an toàn cho hàng triệu người Mỹ.

Mặc dù tình trạng phê cần sa thay đổi tùy theo bối cảnh tâm lý và bối cảnh môi trường sử dụng, song “phản ứng phổ biến nhất là trạng thái bình tĩnh, hưng phấn nhẹ, trong đó thời gian chậm lại và độ nhạy cảm với hình ảnh, âm thanh và xúc giác được tăng cường”.

Trái ngược với tác dụng điều trị và tính an toàn của cần sa, lạm dụng benzodiazepine (Valium) là vấn đề lạm dụng chất hàng đầu tại Hoa Kỳ và là nguyên nhân dẫn đến nhiều ca nhập viện cấp cứu  hơn cả số ca do vấn đề liên quan đến cocaine hoặc số ca do cả morphine và heroin cộng lại .

Trong khi thuốc lá làm co thắt động mạch, cần sa làm giãn (mở) chúng. Bởi vì chứng đau nửa đầu là kết quả của sự co thắt động mạch kết hợp với sự giãn quá mức của các tĩnh mạch, những thay đổi mạch máu mà cần sa gây ra trong lớp phủ của não (màng não) thường làm cho chứng đau nửa đầu biến mất.

Bằng chứng về sự thay đổi mạch máu do cần sa gây ra có thể quan sát qua màu đỏ trong mắt (phần mở rộng của não) người sử dụng. Tuy nhiên, không giống như hầu hết các loại chất khác, cần sa nhìn chung không có tác dụng rõ ràng lên hệ thống mạch máu, ngoại trừ làm tăng nhẹ nhịp tim khi bắt đầu phê.

Tăng Cảm Giác Ngon Miệng

Những người sử dụng cần sa thường (nhưng không phải lúc nào cũng) trải qua “cơn thèm ăn”. Vào thời điểm này, điều này khiến cần sa trở thành loại thuốc tốt nhất trên hành tinh cho chứng biếng ăn.

Hàng trăm nghìn người Mỹ mắc chứng biếng ăn khi về già, khinằm bệnh viện hoặc viện điều dưỡng. Hầu hết trong số họ có thể được giúp đỡ bởi cần sa – vậy nhưng những người Mỹ này đang bị từ chối một cuộc sống lành mạnh bởi những chính sách do cảnh sát chính phủ ban lệnh!

Hiệu ứng này cũng có thể kéo dài sự sống của các nạn nhân của AIDS và ung thư tuyến tụy (ăn hoặc chết). Tuy nhiên, chính phủ Hoa Kỳ và DEA đã ngăn chặn mọi nghiên cứu hoặc sử dụng cần sa trong liệu pháp điều trị ung thư tuyến tụy kể từ năm 1976.

Trên thực tế, họ đã để cho hàng chục nghìn người chết mỗi năm, từ chối những con người ấy quyền được sống một cuộc sống bình thường, khỏe mạnh và hữu ích.

Giảm Tiết Nước Bọt

Hút cần sa giúp làm khô miệng khi bạn đi khám răng. Đây là cách tốt nhất để làm giảm tiết nước bọt mà không độc hại thông qua hiệu ứng “miệng cotton” (cottonmouth) như cách gọi của những người sử dụng cần sa.

Theo Hội đồng Nha khoa Canada trong các nghiên cứu được thực hiện vào những năm 1970, cần sa có thể thay thế các hợp chất Probathine có độc tính cao do Searle & Co. sản xuất. Điều này cũng chỉ ra rằng cần sa có thể có tác dụng trong điều trị viêm loét dạ dày tá tràng.

Ngoài Ra Còn Có…
AIDS, Trầm Cảm & Hàng Trăm Công Dụng Y Tế Quan trọng Khác

Một hiệu ứng nổi tiếng của THC là nâng cao tinh thần, hoặc làm cho bạn “phê”. Người dùng cần sa ở Jamaica ca ngợi lợi ích của ganja đối với thiền định, sự tập trung, nâng cao ý thức và thúc đẩy trạng thái hạnh phúc cùng sự quyết đoán của bản thân. Sự điều chỉnh về thái độ này, cùng với cảm giác thèm ăn lành mạnh hơn và nghỉ ngơi tốt hơn, chính là sự khác biệt giữa việc cảm giác bạn đang “chết vì” AIDS hoặc ung thư hay cảm giác bạn đang “sống chung với” AIDS hoặc ung thư.

Cần sa cũng làm dịu những cơn đau, đồng thời giúp những người cao tuổi sống chung với những cơn đau nhức như viêm khớp, mất ngủ và suy nhược, để tận hưởng cuộc sống thoải mái hơn và giữ được phẩm cách. Có những lời kể lại và bằng chứng y học cũng chỉ ra rằng cần sa là cách điều trị tổng thể tốt nhất cho bệnh Alzheimer, chứng mất trí nhớ và lão suy, đồng thời giúp tăng cường trí nhớ dài hạn và hàng trăm lợi ích khác.

Thống kê của Hoa Kỳ vào những năm 1970 chỉ ra rằng bạn sẽ sống lâu hơn từ 8 đến 24 năm nếu sử dụng cần sa thay cho sử dụng thuốc lá và rượu hàng ngày. Nghiên cứu mới này bị đặt ngoài vòng pháp luật, tất nhiên rồi.

Các Rủi Ro Có Thể Chấp Nhận

Mọi ủy ban Hoa Kỳ hoặc thẩm phán liên bang đã nghiên cứu bằng chứng đều đồng ý rằng cần sa là một trong những loại thuốc an toàn nhất được biết đến. Với tất cả các công dụng trị liệu như vậy, nó chỉ có một tác dụng phụ bị phóng đại lên như một mối quan ngại: “gây phê”. DEA nói rằng điều này là không thể chấp nhận được, do đó cần sa tiếp tục là chất hoàn toàn bất hợp pháp – không cần xem xét đến quan điểm của cả bác sĩ và bệnh nhân.

Hàng ngày, chúng ta tin tưởng các bác sĩ để xác định có các rủi ro liên quan đến thuốc điều trị hay không; dù tiềm ẩn nguy hiểm, các loại thuốc tân dược vẫn chấp nhận được cho bệnh nhân của họ. Tuy nhiên, các bác sĩ không được phép kê đơn loại thảo dược mà Thẩm phán Liên bang Francis Young năm 1988 đã gọi là “một trong những hoạt chất trị liệu an toàn nhất mà con người biết đến”.

Chúng ta không đặt trọng trách ngăn chặn tội phạm bạo lực lên các bác sĩ. Vì vậy, cảnh sát, công tố viên và quản giáo không có lý do gì để ngăn cản các liệu pháp thảo dược nào mà người dân có thể sử dụng để điều trị các vấn đề sức khỏe cá nhân của họ.

Dinh Dưỡng Hạt Gai Dầu

Hạt gai dầu chứa mọi axit amin thiết yếu và axit béo thiết yếu cần thiết để duy trì cuộc sống khỏe mạnh của con người. Không có nguồn thực vật đơn lẻ nào cung cấp protein hoàn chỉnh ở dạng dễ tiêu hóa như vậy, cũng như không có loại dầu nào có được một tỷ lệ hoàn hảo cho sức khỏe và sức sống của con người như vậy.

Hạt gai dầu có hàm lượng axit béo thiết yếu cao nhất trong tất cả các loại thực vật.

Hạt gai dầu là một trong những loại hạt có hàm lượng chất béo bão hòa thấp nhất với 8% tổng lượng dầu. Dầu ép từ hạt gai dầu chứa 55% axit linoleic (LA) và 25% axit linolenic (LNA). Chỉ có dầu hạt lanh có hàm lượng axit linolenic cao hơn ở mức 58%, nhưng dầu hạt gai dầu có hàm lượng axit béo thiết yếu cao nhất với 80% tổng lượng dầu.

Ở quê cũ, nông dân ăn bơ gai dầu. Họ có khả năng chống lại bệnh tật cao hơn giới quý tộc. Các tầng lớp cao hơn sẽ không ăn cây gai dầu vì những người nghèo đã ăn nó. – R. Hamilton, ED.D., Ph.D. Nhà nghiên cứu Y học-Nhà hóa sinh U.C.L.A. Danh dự.

LA và LNA tham gia vào việc sản xuất năng lượng sống từ thức ăn và sự di chuyển của năng lượng đó khắp cơ thể.

Các axit béo thiết yếu chi phối sự tăng trưởng, sức sống và trạng thái tinh thần. LA và LNA tham gia vào việc chuyển oxy từ không khí trong phổi đến mọi tế bào trong cơ thể. Chúng đóng một vai trò trong việc giữ oxy trong màng tế bào, nơi nó hoạt động như một rào cản đối với virus và vi khuẩn xâm nhập (cả hai đều không phát triển mạnh khi có oxy). *

*Note của dịch giả: Mình rất muốn kiểm chứng thông tin này nhưng do khả năng có hạn nên chưa tìm được bằng chứng khoa học nào qua nghiên cứu về điều này.

Hình dạng uốn cong của các axit béo thiết yếu giúp chúng không hòa tan vào nhau. Chúng trơn và sẽ không làm tắc nghẽn động mạch như các chất béo bão hòa dễ dính và có dạng thẳng, các axit béo chuyển hóa trong dầu ăn và chất béo shortening được tạo ra bằng cách cho các loại chất béo không bão hòa đa như LA và LNA chịu nhiệt độ cao trong quá trình tinh chế.

LA và LNA hơi có điện tích âm và có xu hướng tạo thành các lớp bề mặt rất mỏng. Đặc điểm này được gọi là hoạt tính bề mặt, và nó cung cấp sức mạnh để đưa các chất độc lên bề mặt của da, đường ruột, thận và phổi – nơi chúng có thể được loại bỏ. Đặc tính rất nhạy cảm của LA và LNA khiến chúng nhanh chóng bị phân rã thành các hợp chất độc hại khi được tinh chế với nhiệt độ cao hoặc do bảo quản không đúng cách khi để chúng tiếp xúc với ánh sáng hoặc không khí.

Thiên nhiên cung cấp cho hạt gai dầu một lớp vỏ bên ngoài để bảo vệ an toàn các loại dầu và vitamin quan trọng bên trong khỏi bị hư hỏng.

Đó là một lớp vỏ hoàn hảo, đồng thời có thể ăn được. Hạt gai dầu có thể được nghiền thành bột nhão tương tự như bơ đậu phộng nhưng có hương vị tinh tế hơn. Tiến sĩ Udo Erasmus – chuyên gia dinh dưỡng – cho biết: “Bơ hạt gai dầu vượt xa bơ đậu phộng của chúng ta về giá trị dinh dưỡng”. Hạt gai dầu xay mịn có thể được chế biến cùng bánh mì, bánh ngọt và thịt hầm. Nó cũng là một sự bổ sung đầy đặn cho các thanh granola nữa.

Những người tiên phong trong lĩnh vực hóa sinh và dinh dưỡng con người ngày nay tin rằng bệnh tim mạch (CVD) và hầu hết các bệnh ung thư thực sự là bệnh thoái hóa mỡ do liên tục tiêu thụ quá nhiều chất béo bão hòa và dầu thực vật tinh chế – những thứ biến các axit béo thiết yếu thành chất gây ung thư chết người. Cứ hai người Mỹ thì có một người chết vì ảnh hưởng của CVD. Cứ bốn người Mỹ thì có một người chết vì ung thư. Các nhà nghiên cứu tin rằng ung thư bùng phát khi phản ứng của hệ miễn dịch bị suy yếu. Và hiện nay số lượng người Mỹ gục ngã trước các bệnh do suy giảm miễn dịch hơn bao giờ hết. Các nghiên cứu đầy hứa hẹn hiện đang được tiến hành bằng cách sử dụng các tinh dầu thảo dược để hỗ trợ hệ miễn dịch của bệnh nhân HIV.

Protein hoàn chỉnh trong hạt gai dầu cung cấp cho cơ thể tất cả các axit amin thiết yếu cần thiết để duy trì sức khỏe, đồng thời cung cấp các loại và lượng axit amin cần có để cơ thể tạo ra được albumin huyết thanh và các globulin huyết thanh như các kháng thể gamma globulin tăng cường miễn dịch.

Khả năng chống lại và phục hồi sau bệnh tật của cơ thể phụ thuộc vào tốc độ mà cơ thể có thể tạo ra một lượng lớn kháng thể để chống lại cuộc tấn công ban đầu. Nếu nguyên liệu ban đầu là protein globulin bị thiếu hụt, đội quân kháng thể có thể sẽ có quá ít để ngăn chặn các triệu chứng của bệnh tật.

Cách tốt nhất để đảm bảo cơ thể có đủ nguyên liệu axit amin để tạo ra các globulin là ăn thực phẩm có nhiều protein globulin. Protein trong hạt gai dầu có 65% globulin edestin cộng với một lượng albumin (có trong toàn bộ hạt/vỏ) nên các protein của nó ở dạng dễ tiêu hóa và khá giống với protein được tìm thấy trong huyết tương.

Hạt gai dầu được sử dụng để điều trị sự thiếu hụt dinh dưỡng do bệnh lao – một căn bệnh ngăn chặn dinh dưỡng nghiêm trọng khiến cơ thể suy mòn. (Nghiên cứu về dinh dưỡng bệnh lao của Tiệp Khắc, 1955.)

Năng lượng của sự sống nằm trong toàn bộ hạt gai dầu. Thực phẩm từ hạt gai dầu có hương vị tuyệt vời!

Hạt gai dầu sẽ đảm bảo chúng ta có đủ các axit amin thiết yếu và axit béo thiết yếu để xây dựng cơ thể và hệ miễn dịch mạnh mẽ, cũng như duy trì sức khỏe và sức sống.

Vui lòng sao chép. Trích từ Hempseed Nutrition của Lynn Osburn. Được sản xuất bởi Access Unlimited, P.O. Box 1900, Frazier Park, CA 93225.

Chương 6 – Tài liệu y tế về thuốc cần sa, gai dầu

Ở đây chúng ta có được những căn cứ dựa trên ‘Tổng hợp các tài liệu y học”, bắt đầu từ những ghi chép về dược liệu cổ xưa: các dược điển Trung Quốc và Ấn Độ, và những phiến đất sét khắc kí tự hình nêm vùng Cận Đông; tiếp tục kéo dài cho đến thế kỷ này, bao gồm sự phục hưng các nghiên cứu về cần sa tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1966-76 — khoảng 10.000 nghiên cứu riêng biệt về những hiệu ứng và thuốc chữa bệnh từ cây gai dầu.

Các trích yếu toàn diện của những công trình ấy được coi như nguồn tài liệu chủ yếu cho chương này, bên cạnh đó là những cuộc phỏng vấn đang được thực hiện với nhiều nhà nghiên cứu.

Chăm sóc sức khỏe từ thảo dược sẵn có và giá cả phải chăng

Trong hơn 3.500 năm, tùy vào nền văn hóa hoặc quốc gia, cần sa/gai dầu nếu không phải được sử dụng nhiều nhất thì cũng là một trong những loài thực vật được sử dụng rộng rãi nhất để làm thuốc chữa bệnh. Trong đó bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, vùng Trung Cận Đông, châu Phi, và châu Âu thời tiền Công giáo La Mã. (trước năm 476).

Tiến sĩ Raphael Mechoulam, NORML, High Times và tạp chí Omni (tháng 9 năm 1982) đều ngụ ý rằng nếu cần sa là chất hợp pháp, nó sẽ ngay lập tức thế chỗ 10-20% các loại thuốc kê đơn (dựa trên các nghiên cứu tính đến hết năm 1976). Và có lẽ, theo ước tính của Mechoulam, 40-50% các loại thuốc – trong đó gồm cả các loại biệt dược – đều có thể chứa ít nhiều chiết xuất từ cây cần sa nếu chúng được nghiên cứu đầy đủ.

(Read the U.S. government-sponsored research as outlined by Cohen & Stillman, Therapeutic Potential of Marijuana, 1976; Roffman, Roger, Marijuana as Medicine, 1980; Mikuriya, Tod, M.D., Marijuana Medical Papers, 1972; also, the work of Dr. Norman Zinberg; Dr. Andrew Weil; Dr. Lester Grinspoon; and the U.S. Government’s Presidential Commission reports [Shafer Commission] from 1969 through 1972; Dr. Raphael Mechoulam, Tel Aviv/ Jerusalem Univ., 1964-97; W.B. O’Shaugnessy monograph, 1839; and the long-term Jamaican studies I & II, 1968-74; Costa Rican studies through 1982; U.S. Coptic studies, 1981; Ungerlieder; U.S. military studies since the 1950s and ‘60s.)

Siêu sao của thế kỷ 19

Cần sa đã là thuốc giảm đau số một tại Hoa Kỳ trong vòng 60 năm trước khi aspirin được tái khám phá đầu thế kỷ 20. Từ năm 1842 đến 1900, cần sa đã chiếm một nửa mọi loại thuốc được bán ra, mà hầu như không có lo sợ nào về tác động tâm thần của nó.

Báo cáo năm 1839 về những công dụng của cần sa của Tiến sĩ W.B. O’Shaugnessy, một trong những thành viên được kính trọng nhất của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia, có tầm quan trọng đối với y học phương Tây giữa thế kỷ 19 không khác gì những khám phá về thuốc kháng sinh (như penicillin và Terramycin) đối với y học giữa thế kỷ 20.

Trên thực tế, Ủy ban về Cannabis Indica thuộc Hiệp hội Y học Tiểu bang Ohio đã kết luận rằng “Các nhà bình luận Kinh thánh cao cấp [các học giả]” tin rằng “thứ đồ uống mật và giấm hoặc rượu pha một dược được trao cho Đấng Cứu Thế của chúng ta ngay trước khi Ngài bị đóng đinh rát có thể là một chế phẩm từ gai dầu Ấn Độ.”

(Transcripts, Ohio State Medical Society 15th annual meeting, June 12-14, 1860, pg. 75-100.)

Từ năm 1850 đến 1937, Dược điển Hoa Kỳ đã xếp cần sa vào loại thuốc hàng đầu để điều trị hơn 100 loại bệnh tật khác nhau.

Suốt quãng thời gian này ( trước năm 1000 TCN đến thập niên 40 của thế kỷ 20), các nhà nghiên cứu, bác sĩ và nhà sản xuất thuốc (Eli Lilly, Parke-Davis, Squibb, v.v.) đã không hề biết các thành phần hoạt tính của cần sa là gì cho đến khi Tiến sĩ Mechoulam khám phá ra THC năm 1964.

Các nghiên cứu trong thế kỷ 20 và 21

Như đã trình bày trong các chương trước, Hiệp hội Y học Hoa Kỳ (AMA) và các công ty dược phẩm đã chứng thực chống lại Đạo luật Thuế Cần sa năm 1937 bời vì cần sa đã được biết đến với rất nhiều tiềm năng y tế và chưa bao giờ gây một ca tử vong do quá liều hay những vấn đề nghiện ngập có thể quan sát thấy.

Họ đã tranh luận rằng có khả năng khi những thành phần hoạt tính trong cần sa (như THC Delta-9) được cô lập và các liều lượng chính xác được xác định, cần sa có thể trở thành một loại thuốc thần diệu.

Tuy vậy, phải 29 năm trôi qua các nhà khoa học Hoa Kỳ mới bắt đầu nhìn nhận về  thuốc cần sa một lần nữa.

THC Delta-9 đã được Tiến sĩ Raphael Mechoulam cô lập tại Đại học Tel Aviv năm 1964. Công trình của ông đã khẳng định những thành quả của giáo sư Taylor của Đại học Princeton, người đã dẫn đầu nghiên cứu và xác định những tiền chất tự nhiện của THC Delta-9 vào những năm 1930. Kahn, Adams và Loewe cũng đã có những nghiên cứu về các thành phần hoạt tính của cần sa vào năm 1944.

Từ năm 1964, hơn 400 hợp chất riêng rẽ đã được cô lập trong cần sa từ hơn 1000 hợp chất khả nghi. Ít nhất 60 hợp chất trong đó có tác dụng trị bệnh. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã cấm loại hình nghiên cứu này thông qua thẩm quyền quan liêu của Harry Anslinger cho đến năm 1962, khi ông ta buộc phải về hưu. (theo Tạp chí Omni, tháng 9 năm 1982.)

Sự chấp nhận tăng dần

Đến năm 1966, hàng triệu thanh niên Mỹ đã bắt đầu sử dụng cần sa. Chính phủ và các bậc cha mẹ lo ngại, muốn biết những nguy hiểm mà con cái họ đang gặp phải. Họ đã bắt đầu tài trợ cho hàng chục và sau đó là hàng trăm nghiên cứu y tế về cần sa.

Khắc sâu trong tâm trí thế hệ lớn tuổi hơn là 30 năm sống trong những câu chuyện đáng sợ của Anslinger/Hearst về những vụ giết người, hãm hiếp, những hành động tàn bạo và thậm chí cả chủ nghĩa hòa bình của những kẻ zombie.

Kết quả từ những nghiên cứu do liên bang tài trợ bắt đầu xoa dịu nỗi lo sợ của người Mỹ về việc cần sa gây ra bạo lực hay chủ nghĩa hòa bình zombie, và hàng trăm nghiên cứu mới đã cho thấy ẩn dấu bên trong các thành phần của cây gai dầu là một tập hợp những dược chất có tiềm năng trị bệnh đáng kinh ngạc. Chính phủ tài trợ ngày càng nhiều nghiên cứu.

Chẳng bao lâu sau, hàng đoàn các nhà nghiên cứu Mỹ đã có những chỉ định tích cực cho việc sử dụng cần sa để điều trị hen suyễn, tăng nhãn áp, buồn nôn do hóa trị, chán ăn, khối u và động kinh, và để dùng như một loại thuốc kháng sinh thông thường. Các phát hiện với số lượng tăng dần đã cho thấy bằng chứng về những kết quả thuận lợi diễn ra trong các ca bệnh Alzheimer, thiếu máu hồng cầu hình liềm, bệnh Parkinson, chán ăn, đa xơ cứng và loạn dưỡng cơ; thêm vào đó là hàng nghìn câu chuyện từ trải nghiệm cá nhân –  đều đáng để có thêm những nghiên cứu lâm sàng sâu hơn.

Trước năm 1976, các báo cáo về tác dụng tích cực và các chỉ định điều trị mới cho cần sa gần như xuất hiện hàng tuần trên các tạp chí y khoa và báo chí quốc gia.

Hội nghị Quốc gia ca ngợi tiềm năng của Liệu pháp Cần sa

Tháng 11 năm 1975, hầu như tất cả các nhà nghiên cứu hàng đầu của Hoa Kỳ về cần sa đã gặp nhau tại Trung tâm Hội nghị Asilomar, Pacific Grove, California. Các hội thảo được tài trợ bởi Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy (NIDA) để giải quyết một bản trích yếu các nghiên cứu từ những phát hiện sớm nhất đến mới nhất của họ.

Khi các cuộc hội thảo kết thúc, gần như toàn bộ các nhà khoa học đều kết luận rằng chính phủ liên bang, với những bằng chứng cụ thể đã thu thập được về tiềm năng trị liệu của cần sa tính tới thời điểm đó, cần gấp rút đầu tư tiền thuế để thực hiện thêm các nghiên cứu.

Họ cảm thấy những người đóng thuế cần được nắm rõ thông tin rằng có đủ những lý do chính đáng để ngành y tế cộng đồng tiếp tục nghiên cứu trên quy mô lớn về các liệu pháp và thuốc từ cần sa. Có vẻ như tất cả những người tham gia hội nghị đều tin điều này. Nhiều người trong số họ (chẳng hạn như Mechoulam) tin rằng đến giữa những năm 1980, cần sa sẽ là một trong những loại thuốc chủ đạo của thế giới. Tháng 3 năm 1997, Mechoulam, trong một bài phát biểu tại Bio-Fach ở Frankfurt, Đức, vẫn tin rằng cần sa là loại thuốc tốt nhất thế giới xét trên tổng thể. Năm 2006, Mechoulam đã bắt đầu sử dụng cần sa để điều trị chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD).

Nghiên cứu cần sa bị cấm đoán

Tuy nhiên, vào năm 1976 – ngay khi các nghiên cứu đa ngành về cần sa lẽ ra phải đi vào giai đoạn thứ hai, thứ ba và thứ tư (xem Tiềm năng trị liệu của cần sa và các hồ sơ liên bang từ NORML), một chính sách “bất ngờ” của chính phủ Hoa Kỳ một lần nữa cấm mọi nghiên cứu liên bang đang đầy hứa hẹn về những công dụng trị liệu của cần sa.

Lần này, lệnh cấm nghiên cứu được hoàn thành khi các công ty dược phẩm Hoa Kỳ kiến ​​nghị thành công với chính phủ liên bang để được phép cấp vốn và đánh giá 100% các nghiên cứu.

10 năm nghiên cứu trước đó đã chỉ ra một hứa hẹn to lớn về các công dụng trị liệu của cần sa tự nhiên, và tiềm năng này đã âm thầm bị chuyển giao vào tay các tập đoàn – không phải vì lợi ích của công chúng, mà để ém nhẹm các thông tin y tế.

Kế hoạch này, như kiến nghị của các nhà sản xuất thuốc, sẽ cho phép các công ty dược phẩm tư nhân có thời gian để tạo ra những sản phẩm mô phỏng các phân tử cần sa – những chất tổng hợp có thể đăng ký bản quyền, không tốn chi phí cho chính phủ liên bang, và là một lời hứa “không gây phê”.

Năm 1976, chính quyền Ford, NIDA và DEA đã phán rằng không nghiên cứu độc lập (có nghĩa là: từ các đại học) hoặc chương trình y tế liên bang nào của Hoa Kỳ được phép tái thẩm tra các dẫn xuất cần sa tự nhiên để làm thuốc. Thỏa thuận này được thực hiện mà không có bất kì biện pháp nào để đảm bảo sự chính trực từ phía các công ty dược phẩm; họ được phép tự đặt ra quy định.

Các tập đoàn dược phẩm tư nhân được phép thực hiện một số nghiên cứu “không gây phê”, nhưng đó sẽ chỉ là nghiên cứu Delta-9THC, chứ không phải bất kỳ chất nào trong số 400 đồng phân có tiềm năng trị liệu khác của cần sa.

Nghiên cứu cho thấy những dấu hiệu tích cực khi sử dụng cần sa cho bệnh hen suyễn, bệnh tăng nhãn áp, buồn nôn do hóa trị, chán ăn và khối u, cũng như một loại kháng sinh sử dụng chung; động kinh, bệnh Parkinson, bệnh đa xơ cứng, chứng loạn dưỡng cơ, chứng đau nửa đầu, v.v. — tất cả những nghiên cứu lâm sàng này đều xứng đáng có được những nghiên cứu lâm sàng sâu hơn.

Tại sao các công ty dược phẩm đã lập mưu để tiếp quản nghiên cứu cần sa? Bởi vì nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ (1966-1976) đã có những ngụ ý hoặc xác nhận hàng trăm lần rằng ngay cả cần sa tự nhiên ở dạng thô cũng là “loại thuốc tốt nhất và an toàn nhất được lựa chọn” cho nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Năm 1988: Thẩm phán DEA ra phán quyết rằng cần sa có giá trị y tế

Vị thẩm phán luật hành chính thuộc phái bảo thủ của chính DEA, Francis Young, sau khi tiếp nhận những chứng thực y tế trong 15 ngày và xem xét hàng trăm tài liệu được DEA/NIDA đưa ra để chống lại những bằng chứng từ các nhà hoạt động cải cách cần sa, đã kết luận vào tháng 9 năm 1988 rằng “cần sa là một trong những hoạt chất trị liệu an toàn nhất mà con người từng biết”.

Nhưng bất chấp sự vượt trội về bằng chứng này, Giám đốc DEA khi đó là John Lawn đã ra lệnh vào ngày 30 tháng 12 năm 1989 rằng cần sa vẫn bị liệt vào Danh mục I của những chất ma túy – không có bất kì công dụng y tế nào được biết đến. Người kế nhiệm ông ta là Robert Bonner, người được Bush bổ nhiệm và tiếp tục giữ chức vụ dưới thời Cliton, thậm chí đã có cách thức tiếp cận hà khắc hơn với gai dầu/cần sa ở vị thế một loại thuốc. Các quan chức DEA dưới thời Bush Cha, Clinton và Bush Con đã đều ủng hộ các chính sách thậm chí còn tệ hơn của Bonner.

Vậy… nếu tất cả những điều này đã được biết đến từ năm 1975, chính phủ Hoa Kỳ còn đang chờ đợi điều gì?

2007: Thẩm phán DEA phán quyết chống lại sự độc quyền của Chính phủ Hoa Kỳ về sản xuất cần sa

Washington, DC: Thẩm phán Luật Hành chính Mary Ellen Bittner của DEA đã ra phán quyết vào ngày 12 tháng 2 năm 2007 rằng việc sản xuất cần sa tư nhân cho mục đích nghiên cứu là “vì lợi ích chung”. Phán quyết của bà khẳng định rằng vào năm 2004, DEA đã từ chối một cách không thỏa đáng đơn xin cấp phép của Đại học Massachusetts tại Amherst (UMass) để sản xuất cần sa trong nghiên cứu được FDA phê chuẩn.

Bảo vệ lợi ích của các công ty dược phẩm

NORML, High Times và Omni (tháng 9 năm 1982) chỉ ra rằng Eli Lilly, Abbott Labs, Pfizer, Smith, Kline & French, và các công ty khác sẽ mất hàng trăm triệu đến hàng tỷ đô la mỗi năm, và thậm chí còn mất hàng tỷ đô la nữa ở các nước Thế giới thứ ba, nếu cần sa được hợp pháp hóa tại Hoa Kỳ *

* Hãy nhớ rằng, vào năm 1976 –  năm cuối cùng của chính quyền Ford, các công ty dược phẩm này đã bằng sự dai dẳng của họ (đặc biệt là qua sự vận động hành lang mạnh mẽ) khiến chính phủ liên bang ngừng tất cả các nghiên cứu tích cực về cần sa y tế. Tình hình vẫn như vậy vào năm 2007.

Đưa Cáo vào Chuồng Gà

Các công ty dược phẩm đã tiếp nhận toàn bộ hoạt động nghiên cứu và tài trợ cho các chất tổng hợp tương tự THC, CBD, CBN, v.v. –  hứa hẹn không có vấn đề “gây phê” trước khi các sản phẩm được có mặt trên thị trường. Eli Lilly tung ra Nabilone và sau đó là Marinol – chất tổng hợp tương tự THC Delta 9, và họ hứa hẹn với chính phủ về những kết quả tuyệt vời.

Tạp chí Omni vào năm 1982 đã nêu ra rằng sau chín năm, Nabilone vẫn gần như bị coi là vô dụng khi so sánh với những búp hoa cần sa đích thực thực có hàm lượng THC cao tự trồng; và Marinol chỉ có tác dụng tốt tương đương cần sa với 13% bệnh nhân.

Những người sử dụng cần sa hầu hết đều đồng ý rằng họ không ưa thích những hiệu ứng từ Nabilone hoặc Marinol của Lilly. Vì sao vậy? Vì phải dùng Marinol tới mức phê gấp ba hoặc bốn lần chỉ để đôi khi nhận được những lợi ích tương đương với hút một búp cần sa có chất lượng cao.

Omni cũng đã tuyên bố vào năm 1982 (và điều ấy vẫn đúng vào năm 2007) rằng sau hàng chục triệu đô la và chín năm nghiên cứu về những chất tổng hợp cần sa y tế, “những công ty dược phẩm này đã hoàn toàn không thành công”, mặc dù cần sa hữu cơ ở dạng thô là một “loại thuốc vượt trội ” có tác dụng rất tốt một cách tự nhiên đối với rất nhiều bệnh tật.

Omni cũng đã đề xuất rằng các công ty dược phẩm cần kiến ​​nghị chính phủ cho phép “các chiết xuất cần sa thô” được có có mặt trên thị trường vì lợi ích thực sự của sức khỏe cộng đồng. Cho đến nay, chính phủ và các công ty dược phẩm vẫn chưa có phản hồi. Hay đúng hơn là họ đã phản ứng bằng cách phớt lờ điều đó. Tuy nhiên, các chính quyền Reagan/Bush/Clinton đã tuyệt đối từ chối cho phép tái khởi động các nghiên cứu cần sa đúng nghĩa (từ các trường đại học), ngoại trừ các nghiên cứu dược phẩm tổng hợp.

Omni có nhận định (NORML và High Times đồng tình) rằng lý do các công ty dược phẩm và Reagan/Bush Cha/Clinton/Bush Con muốn duy nhất chất THC tổng hợp hợp pháp là vì các chiết xuất đơn giản từ hàng trăm thành phần của cần sa ở dạng thô sẽ được mọi người ưa chuộng mà không cần đến những bằng sáng chế của các công ty dược phẩm – thứ tạo những lợi nhuận độc quyền dễ kiếm.

Phá hoại sự cạnh tranh của loại thuốc tự nhiên

Eli Lilly, Pfizer và những các công ty khác có thể mất tối thiểu 1/3 trong toàn bộ những bằng độc quyền sáng chế có lợi nhuận cao của họ – như đối với các loại thuốc Darvon, Tuinal, Seconal và Prozac (cũng như các loại thuốc biệt dược khác, từ thuốc mỡ bôi cơ bắp cho đến thuốc bôi trị bỏng và hàng ngàn sản phẩm khác) – vì một loại cây mà ai cũng có thể trồng: gai dầu/cần sa.

Chẳng lạ lùng hay sao –  khi các nhóm dược sĩ* và các công ty dược phẩm Hoa Kỳ cung cấp gần một nửa kinh phí cho 4.000 tổ chức dạng như “Families Against Marijuana” (tạm dịch: Gia đình chống cần sa) ở đất nước này? Một nửa còn lại được cung cấp bởi Action (một cơ quan liên bang), các công ty thuốc lá như Philip Morris, và các nhà sản xuất rượu bia như Anheuser Busch, Coors, v.v., hoặc dưới dạng “dịch vụ công cộng” từ các hãng quảng cáo đại diện cho họ.

*Pharmacists against Drug Abuse, etc. See appendices.

Đầu độc Thế giới thứ ba

Tờ báo lớn nhất Colombia là Periodical el Tiempo (Bogota) đã đưa tin vào năm 1983 rằng chính những công ty dược phẩm Mỹ chống cần sa này đã phạm tội với một hành vi được gọi là “bán phá giá sản phẩm” – trong đó họ “bán ra hơn 150 loại thuốc bất hợp pháp, nguy hiểm khác nhau trên thị trường thuốc không kê đơn của Colombia , Mexico, Panama, Chile, El Salvador, Honduras và Nicaragua”. Bài báo này đã không được Hoa Kỳ hoặc các công ty dược phẩm hay chính phủ Hoa Kỳ đưa ra bàn luận; và hoạt động này vẫn tiếp tục trong năm 2007.

Một số trong các loại thuốc đó đã bị FDA cấm bán hoặc sử dụng ở Hoa Kỳ (tại Châu Âu chúng cũng bị cấm) bởi vì người ta biết rằng chúng gây suy dinh dưỡng, dị tật và ung thư. Vậy nhưng chúng vẫn được bán tự do cho người tiêu dùng ngoại quốc không chút nghi ngờ!

Tổ chức Y tế Thế giới củng cố câu chuyện này bằng một ước tính thận trọng: họ nói rằng mỗi năm có khoảng 500.000 ở các nước Thế giới thứ ba bị ngộ do các mặt hàng (thuốc, thuốc trừ sâu, v.v.) của các công ty Hoa Kỳ dù chúng bị cấm bán tại Hoa Kỳ. *

*Mother Jones magazine, 1979, “Unbroken Circle” June, 1989; The Progressive, April, 1991; et al.

Phá hủy dữ liệu quốc gia

Khoảng 10.000 nghiên cứu đã được thực hiện về cần sa, với 4.000 nghiên cứu tại Hoa Kỳ. Trong đó chỉ có khoảng một chục nghiên cứu thể hiện một vài kết quả tiêu cực và chúng chưa bao giờ được tiến hành lặp lại. Vào tháng 9 năm 1983, chính quyền Reagan/Bush đã đưa ra một “tín hiệu” nhẹ nhàng cho tất cả các trường đại học và nhà nghiên cứu Hoa Kỳ nhằm phá hủy tất cả các công trình nghiên cứu cần sa từ năm 1966-76, bao gồm các bản tóm tắt trong thư viện.

*chưa biết dịch từ feeler này ra sao.

Các nhà khoa học và bác sĩ đã chế giễu động thái kiểm duyệt vô song này đến mức các dự định ấy đã phải ngừng lại… trong nhất thời.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng kể từ đó, một lượng lớn thông tin đã biến mất, bao gồm cả bản gốc bộ phim ủng hộ cần sa Hemp for Victory của USDA. Tệ hơn nữa, ngay cả phần đề cập đến bộ phim cũng bị xóa khỏi hồ sơ chính thức từ năm 1958; và đã phải rất khó khăn mới được khôi phục lại thành một phần trong lưu trữ quốc gia. Nhiều bản sao lưu trữ Thông báo số 404 của USDA đã biến mất. Bao nhiêu tài liệu lịch sử vô giá khác đã bị thất lạc?

Vào cuối năm 1995 và đầu năm 1996, người sáng lập Câu lạc bộ Người mua Cần sa tại San Francisco là Dennis Peron đã đem lại cho cử tri California Dự luật 215 – một sáng kiến ​​cấp tiểu bang nhằm hợp pháp hóa cần sa như một loại thuốc trị bệnh. Sáng kiến ​​về cần sa y tế này đã thu thập được 750.000 chữ ký, được California bỏ phiếu và được 56% phiếu bầu vào tháng 11 năm 1996. Giờ đây, vào năm 2007, hàng trăm nghìn người dân California đang trồng cần sa y tế một cách hợp pháp. Tuy nhiên, chính phủ liên bang rõ ràng đối lập với yêu cầu của người dân, đã tìm ra đủ cách để quấy rối và đóng cửa rất nhiều trong số hơn 600 câu lạc bộ người mua/canh tác cần sa, bao gồm cả câu lạc bộ của Peron.

Điều thú vị là vào năm 1996, số lượng cử tri ở California đã bỏ phiếu cho cần sa y tế còn nhiều hơn số bỏ phiếu cho Bill Clinton.

Vào tháng 8 năm 1997, gần một năm sau khi Dự luật 215 được đa số phiếu thông qua, một cuộc thăm dò của LA Times cho thấy hơn 67% người dân California sẽ bỏ phiếu thuận – tăng 11% trong năm đầu tiên.

Vào tháng 2 năm 2007, một cuộc thăm dò của kênh CNN do Lou Dobbs thực hiện cho thấy 79% người Mỹ tin rằng cần sa nên được hợp pháp hóa. (20.146 lượt bỏ phiếu).

Một cuộc bỏ bình trực tiếp trên kênh MSNBC đã đặt ra câu hỏi vào tháng 4 năm 2007, “Bạn có tin rằng các hành động của Tổng thống Bush đáng bị đưa ra luận tội không?” 87% đã bình chọn đồng ý. Trong số những người dân California (425.127 đã bỏ phiếu) tận dụng được luật cần sa y tế mới bao gồm cả cảnh sát, ủy viên công tố quận và thị trưởng. Một số những người lúc trước đã từng bắt giữ và truy tố các công dân vì cần sa – dù vì mục đích y tế hay mục đích khác – thì giờ đây đang sử dụng cần sa cho bản thân hoặc cho gia đình của họ với số lượng ngày càng tăng.

Khi trở lại Hoa Kỳ từ Canada vào tháng 3 năm 1998, một công dân California là Kareem Abdul-Jabbar, cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp có thành tích cao nhất trong lịch sử, đã bị bắt vì tàng trữ một lượng nhỏ cần sa. Anh đã nộp phạt 500 dollar cho Hải quan Hoa Kỳ và giải thích trước báo chí rằng, với tư cách là một công dân California, anh đã được bác sĩ khuyến nghị sử dụng cần sa y tế.

Trên lý thuyết, các vận động viên chuyên nghiệp và thi đấu cho trường đại học đang sống ở California và được bác sĩ khuyến nghị sử dụng cần sa y tế sẽ không phải xét nghiệm nước tiểu để xác định có dương tính với cần sa hay không.

Tác giả Peter McWilliams, người bị AIDS và ung thư, đã cho biết rằng “Nếu không có những người bán cần sa bất hợp pháp (trước Dự luật 215), thì đã không có cần sa và tôi đã không sống đến ngày hôm nay. Cần sa làm dịu cơn buồn nôn và giúp tôi có thể chịu được các loại thức ăn và thuốc viên mà tôi phải nuốt xuống để chống lại bệnh tật của mình. Chính phủ liên bang khốn kiếp! Các bạn hãy sử dụng cần sa nếu bạn cần đến nó”. Sau đó ông đã bị DEA bắt giữ. Mẹ của ông đã phải dùng đến căn nhà của bà để bảo lãnh cho ông. DEA cho biết nếu McWilliams bị bắt vì sử dụng cần sa, mẹ của ông sẽ mất căn nhà. McWilliams đã ngừng sử dụng cần sa, từ đó sức khỏe của ông giảm sút nhanh chóng và ông qua đời vào tháng 6 năm 2000.

Sự bất công của RAP với gai dầu

Sau 20 năm nghiên cứu, Hội đồng Cố vấn Nghiên cứu California (RAP) vào năm 1989 đã chấm dứt mối quan hệ với Văn phòng Bộ trưởng Tư pháp tiểu bang, nơi mà trước đó họ từng làm việc cho, để rồi kêu gọi tái hợp pháp hóa cần sa.

“Không có lý do gì để tiếp tục các chính sách và luật pháp này, thứ rõ ràng đã không thể kiểm soát được những thiệt hại cho cá nhân và xã hội liên quan đến việc sử dụng ma túy,” Phó Chủ tịch, Bác sĩ Frederick Meyers tóm tắt trong một bức thư đi kèm với lời kêu gọi trên sau khi bị Bộ trưởng Tư pháp đàn áp các báo cáo và các thành viên của Hội đồng.

Đây là một sự quay ngoặt hoàn toàn của RAP sau một quá trình lịch sử dài chống lại việc sử dụng cần sa cho y tế. Tác động lâu dài của việc thay đổi này vẫn còn có thể thấy được vào thời điểm hiện nay.

Chủ tịch Edward P. O’Brien Con, được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Tư pháp, là người bất đồng với kết luận của Hội đồng, trong nhiều năm đã thống trị nhóm này, kiểm soát cứng nhắc những gì nghiên cứu có thể được thực hiện và hạn chế việc ứng dụng cần sa để kiểm soát buồn nôn và nôn mửa thứ phát do hóa trị điều trị ung thư.

Dưới trướng O’Brien, Hội đồng đã không thể thực hiện nhiệm vụ của mình, là cung cấp sự tiếp cận với cần sa y tế. Bất kỳ ứng dụng của cần sa nào, bao gồm giảm đau, rối loạn thần kinh co cứng… đã bị từ chối. Trước đó, cần sa từng là lựa chọn để điều trị đau nửa đầu. (Osier, 1916; O’Shaugnessey, 1839)

Cần sa có khả năng tác động đến lưu thông mạch máu của lớp bao phủ não – màng não. Đôi mắt đỏ của người sử dụng cần sa là kết quả của tác động này.

Mặc dù vậy, không như những thứ thuốc khác, cần sa có vẻ như không có tác động rõ rệt tới hệ tuần hoàn nói chung, ngoại trừ việc tăng nhẹ hoạt động của tim trong giai đoạn hiệu ứng bắt đầu có tác dụng.

RAP đã phản đối việc hút cần sa hay vì sử dụng viên nang Delta-9 THC tổng hợp, mặc dù các kết quả thu được đến từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ ủng hộ cần sa tự nhiên.

Điều này đã được báo cáo sai lệch một cách có chủ đích trong báo cáo của họ cho cơ quan lập pháp trong vụ NORML vs DEA. Hơn thế nữa, những tài liệu ủng hộ việc hút cần sa thay vì dùng THC tổng hợp đường miệng đã bị chôn vùi trong phụ lục của báo cáo của họ, và chỉ có mặt tại bốn địa điểm trên khắp tiểu bang California!

Vào ngày 30 tháng Chín năm 1989, chương trình cần sa y tế đã bị chấm dứt một cách thầm lặng, dựa theo đánh giá của các nhân viên rằng đã không có nhiều người sử dụng cần sa chữa bệnh để có thể tiếp tục chương trình đó.

— Bác sĩ Tod Mikuriya.  Berkeley, CA, 1990

Bài viết được xem nhiều nhất