Tổng quan về Terpene

TERPENE LÀ GÌ

GIẢI THÍCH ĐƠN GIẢN

Terpene là một nhóm lớn các hợp chất hữu cơ đa dạng, được tạo ra bởi nhiều loại thực vật. Terpene là thứ mang lại cho mỗi loài hoa, loại thảo mộc và trái cây những mùi hương và hương vị đặc trưng riêng. Hàng ngày, ở khắp mọi nơi bạn đặt chân đến, bạn sẽ bắt gặp terpene. Khi bạn cạo vỏ chanh, bạn sẽ ngửi thấy mùi terpene. Mở một lọ chứa đầy “thảo mộc”, thứ bạn đang ngửi thấy cũng là terpene. Bạn dừng chân lại để ngửi hương hoa hồng? Thực chất là bạn dừng lại để ngủi terpene.

Trong khi còn rất nhiều điều để tìm hiểu, tất cả những gì bạn cần biết là terpene là các hợp chất thơm. Khi hít vào, thoa lên da hoặc tiêu thụ, chúng nâng cao trải nghiệm của chúng ta và ảnh hưởng rất nhiều đến hương vị và mùi thơm mà chúng ta cảm nhận được.

NÂNG CAO THÊM MỘT CHÚT

Terpene là hydrocacbon có trong tinh dầu do thiên nhiên tạo ra. Có hơn 20.000 loại terpene đang tồn tại. Thực vật, động vật, vi sinh và nấm sản xuất terpene để thực hiện các chức năng sinh học cần thiết. Nhóm hợp chất đa dạng này đóng vai trò như vitamin, hormone, pheromone và là một phần của hệ thống miễn dịch.

Bạn có thể hình dung terpene thực vật như là các khối xây dựng do thực vật tạo ra. Các khối xây dựng này được pha trộn với các hợp chất thơm khác theo vô số cách để tạo ra các loại tinh dầu phức hợp, chẳng hạn như Oải hương, Hoa hồng, Gỗ đàn hương, v.v.

Ngoài hương thơm độc đáo, terpene đóng một vai trò quan trọng không kém trong việc ảnh hưởng đến cách chúng ta nếm, ngửi và cảm nhận khi tiêu thụ một loại thực vật, thảo mộc hoặc trái cây. Điều này xảy ra bởi vì terpene tương tác hiệp đồng với các hợp chất thực vật khác và hormone của con người để tạo ra một hiện tượng được gọi là “hiệu ứng cộng hưởng”, làm phóng đại lợi ích của các thành phần riêng lẻ của thực vật.

 

TERPENE ĐƯỢC SỬ DỤNG CHO MỤC ĐÍCH GÌ

GIẢI THÍCH ĐƠN GIẢN

Terpene có thể được thêm vào các sản phẩm (thực phẩm, đồ uống, nước ướp, chiết xuất, v.v.) để cải thiện mùi hương hoặc hương vị, đồng thời nâng cao trải nghiệm tổng thể.

NÂNG CAO THÊM MỘT CHÚT

Có nhiều ứng dụng đa dạng đối với terpene ở dạng cô lập và terpene trong hỗn hợp phức tạp. Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết rằng terpene được sử dụng trong việc phát triển hương liệu thực phẩm, nhang thơm, mỹ phẩm, sản phẩm làm vườn hữu cơ, chất tẩy rửa gia dụng, thuốc chữa bệnh tự nhiên và nước hoa.

Trong vài năm qua, các nhà phát triển sản phẩm đã sử dụng terpene cô lập để giả lập lại hồ sơ terpene của các loại thảo mộc phổ biến. Sự pha trộn này sau đó được đưa vào một công thức để bắt chước mùi hương và hương vị của thảo mộc.

 

TERPENE ĐẾN TỪ ĐÂU?

Phần lớn các terpene có nguồn gốc từ nhiều nguồn tự nhiên khác nhau. Có hơn 20.000 terpene trong tự nhiên và chúng không phải là duy nhất của một loài thực vật. Ví dụ, một số nguồn alpha-pinene tự nhiên bao gồm cây thông, các cây lá kim khác, bạch đàn, cây xô thơm, cây hương thảo, nhũ hương và cây ngải cứu. Cấu trúc của terpene luôn giống nhau bất kể việc chúng được phân lập từ loại thực vật nào. Nhiều người cho rằng nguồn gốc của terpene là quan trọng, nhưng điều đó không đúng. Khi các terpene cùng tên được phân lập từ bất kỳ loại thực vật nào, hầu như không hề có sự khác biệt nào giữa chúng.

Terpene của chúng tôi được chiết xuất thông qua phương pháp chưng cất hơi nước, ép lạnh hoặc chân không và được tinh chế phân đoạn.

 

SỬ DỤNG TERPENE NHƯ THẾ NÀO?

Từng chút một, terpene có thể được thêm vào hỗn hợp của liệu pháp mùi hương, các chất khuếch tán, kem dưỡng da, thuốc xịt, cồn thuốc, cocktail, chất tẩy rửa tự chế, thuốc đuổi côn trùng, hoặc các chiết xuất thực vật, v.v.

Terpene ở dạng chưa pha loãng là RẤT MẠNH và bạn tuyệt đối không bao giờ được tiêu thụ, hít hoặc bôi trực tiếp chúng lên da ở dạng này. Trong hầu hết các trường hợp, hãy cân nhắc việc pha loãng thành nồng độ 1-5% tính theo thể tích. Độ pha loãng có thể thay đổi tùy thuộc vào bản chất loại terpene được phân lập, sự pha trộn hoặc hương vị, kết quả mong muốn, hoặc kinh nghiệm cá nhân hay sở thích.

Terpene phải được xử lý cẩn thận. Luôn tham khảo SDS (Safety Data Sheet – Bảng dữ liệu an toàn) trước khi sử dụng và làm việc với terpene. SDS chứa tất cả thông tin bạn cần biết bao gồm thiết bị bảo vệ cá nhân, các tuyên bố về nguy hiểm và biện pháp phòng ngừa rủi ro, v.v.

 

HIỆU ỨNG CỘNG HƯỞNG LÀ GÌ

GIẢI THÍCH ĐƠN GIẢN

Mặc dù vẫn còn rất nhiều điều cần được khám phá và hiểu rõ, nhưng điều bạn nên biết là các terpene tương tác hiệp đồng để tạo ra thứ mà các nhà khoa học gọi là “hiệu ứng cộng hưởng”. Hiệu ứng này phóng đại lợi ích điều trị của các thành phần riêng lẻ trong cây để tác động y học của toàn bộ cây lớn hơn tổng của lợi ích điều trị của từng thành phần riêng lẻ đó.

NÂNG CAO THÊM MỘT CHÚT

Thuật ngữ “hiệu ứng cộng hưởng” đã trở thành một từ vựng quan trọng trong cộng đồng cần sa để mô tả mối quan hệ giữa terpene, cannabinoid và các hoạt chất có nguồn gốc thực vật khác chịu trách nhiệm cho tiềm năng điều trị lớn của cần sa .

Cho đến nay, hầu hết mọi người đã nghe nói về cannabinoid như THC và CBD. Mặc dù các hợp chất này có nhiều lợi ích về mặt y tế, nhưng chúng chỉ là một phần của tổ hợp yếu tố làm cho thuốc cần sa trở nên hiệu quả. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng cannabinoid riêng lẻ ít hiệu quả hơn so với khi kết hợp với các hoạt chất thực vật khác như terpene.

Cả cannabinoid và terpene đều ảnh hưởng đến các thụ thể trong hệ thống cannabinoid nội sinh. Các thụ thể này là thứ cho phép cần sa có tác động trị liệu lên cơ thể con người, và việc này trong một số trường hợp cũng tạo ra cảm giác “phê” quen thuộc với hầu hết những người dùng cần sa.

Chính các terpene trong cần sa giúp điều chỉnh (sửa đổi hoặc kiểm soát) các tác động của các cannabinoid trong mỗi mẫu cần sa lên người sử dụng. Đây là lý do tại sao các giống cần sa có tác dụng khác nhau đối với mỗi người dùng. Ví dụ: nếu bạn có 2 loại cần sa khác nhau và cả hai loại đều có 15% THC, nhưng một loại mang lại cho bạn tác dụng tràn đầy năng lượng còn một loại cung cấp cho bạn tác dụng an thần, thì điều này phần lớn là do cấu hình terpene khác nhau.

Terpene như Myrcene, Nerolidol và Terpinolene có tác dụng thư giãn, trong khi Alpha-Pinene được biết đến là có tác dụng nâng cao tinh thần. Cannabinoid và terpene có những tác dụng độc lập riêng, nhưng khi kết hợp lại sẽ cho hiệu quả hơn rất nhiều so với việc sử dụng đơn lẻ.

Để tìm hiểu thêm, hãy xem qua công việc của nhà nghiên cứu cần sa yêu thích của chúng tôi, Tiến sĩ Ethan Russo. Phiên bản hoàn chỉnh của bài báo đầu tiên của Tiến sĩ Ethan Russo về terpene “Thuần hóa THC: Sức mạnh tiềm năng của Cần sa và Hiệu ứng cộng hưởng Phytocannabinoid-Terpenoid” hiện có sẵn tại đây.

 

PHA LOÃNG TERPENE CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Sự pha loãng có mục đích là để giảm độ mạnh của một chất hoặc hỗn hợp mạnh.

Terpene loại phân lập cũng như các hỗn hợp pha trộn (blend) có nồng độ cao và có thể vô cùng nguy hiểm. Pha loãng chúng trước khi sử dụng là điều cần thiết. Terpene có thể được pha loãng với dầu nền, chiết xuất cô đặc, và đồ uống có cồn ở một mức độ nào đó.

Nếu bạn không quen sử dụng terpene, tốt nhất nên bắt đầu với nồng độ dưới 1% và tăng dần độ mạnh cho đến khi bạn hài lòng với sản phẩm mình làm ra. Chúng tôi không bao giờ khuyến khích bạn sử dụng nồng độ terpene quá 10% trong bất kỳ sản phẩm nào. Thông thường, bạn có thể chỉ cần sử dụng ít hơn 1% để đạt được hương vị và hiệu quả mong muốn.

 

ĐỘ HÒA TAN

Terpene là dầu. Và hầu hết mọi người đều biết rằng, dầu và nước không trộn lẫn với nhau. Điều này có nghĩa là các chất gốc nước như nước ép trái cây không thể hòa tan terpene và kết quả là, nếu không có sự hỗ trợ của chất nhũ hóa (chi tiết về điều này bên dưới), terpene sẽ tách khỏi chất lỏng gốc nước và tạo ra một lớp ở bên trên.

Chất cồn trong đồ uống như vodka, bia hoặc rượu vang sẽ hòa tan một lượng nhỏ terpene và làm nó lơ lửng trong dung dịch. Khi đạt đến một ngưỡng nhất định, terpene một lần nữa sẽ nổi trên bề mặt của đồ uống.

 

CHẤT NHŨ HÓA

Chất nhũ hóa là các chất có thể hòa tan trong cả dầu và nước, giúp dầu có thể lơ lửng đồng đều trong nước dưới dạng nhũ tương.

Chất nhũ hóa là một phân tử có đầu ưa nước (ưa nước) và đuôi kỵ nước (sợ nước), gắn vào cả dầu và nước cùng một lúc, tạo thành một dung dịch đồng nhất. Chất nhũ hóa bạn sử dụng sẽ khác nhau tùy thuộc vào kết quả mong muốn nhưng phổ biến nhất là lecithin. Cần lưu ý rằng lecithin không có màu trong và nếu thêm vào chất lỏng trong như nước, nó sẽ làm vẩn đục dung dịch.

Theo nguyên tắc chung, hãy nhớ rằng terpene (dưới dạng dầu) sẽ có thể trộn lẫn với các loại dầu và rượu khác.

 

KHÔNG THỂ PHA TRỘN

Nước – sẽ không trộn được với terpene nếu không có chất nhũ hóa.

VG – gốc nước, sẽ không trộn được với terpene.

HÒA TAN CÓ HẠN

Rượu / Rượu mạnh – pha trộn tối thiểu dựa trên tổng nồng độ cồn.

  • Đề xuất dưới 1 giọt cho mỗi ly
  • Thêm vào ly và khuấy nhẹ, sử dụng như một loại rượu pha chút đắng (rượu bitter), kết hợp với cồn thuốc chứa cồn

Rượu vang – pha trộn tối thiểu dựa trên tổng nồng độ cồn

  • Đề xuất dưới 1 giọt cho mỗi ly
  • Thêm vào ly và khuấy

Bia / Cider – pha trộn tối thiểu dựa trên tổng nồng độ cồn

  • Đề xuất dưới 1 giọt cho mỗi ly
  • Thêm vào ly và khuấy
  • Đối với nấu bia: 125uL mỗi 5 gallon hoặc 1mL mỗi 40 gallon. Thêm vào sau quá trình lên men

HÒA TAN HOÀN TOÀN

MCT – trộn rất tốt cho đến khi đạt tỉ lệ 1:1

Dầu ô liu – trộn rất tốt cho đến khi đạt tỉ lệ 1:1

Dầu Jojoba – trộn rất tốt cho đến khi đạt tỉ lệ 1:1

Dầu hạt gai dầu – trộn rất tốt cho đến khi đạt tỉ lệ 1:1

PG (Propylene Glycol) – Chúng tôi được cho biết tỉ lệ 1 giọt hoặc 275 uL terpene trên mỗi 1mL PG.

 

CHẤT MANG VÀ CHẤT PHA LOÃNG LÀ GÌ?

Điều quan trọng cần lưu ý là trong khi thuật ngữ “chất mang” và “chất pha loãng” có thể được sử dụng thay thế cho nhau trong các cuộc trò chuyện, chúng có ý nghĩa khác nhau rõ ràng.

GIẢI THÍCH ĐƠN GIẢN

Một chất pha loãng là chất được thêm vào một chất hoặc hỗn hợp mạnh để làm loãng nó. Chất pha loãng là phần nhỏ hơn của dung dịch. Mặt khác, chất mang là phần lớn hơn của dung dịch. Một chất mạnh, đậm đặc được thêm vào chất mang để giảm độ mạnh (nồng độ).

Một chất pha loãng sẽ khác hẳn với dầu mang, nhưng cả hai đều sẽ đều LÀM LOÃNG một chất.

Chất mang hoặc chất pha loãng bạn chọn sẽ được xác định dựa trên sản phẩm bạn định làm. Mỗi chất mang và chất pha loãng có đặc điểm riêng của nó, làm cho nó phù hợp với một số sản phẩm nhất định. Cuối cùng, tùy thuộc vào bạn để quyết định cái nào là tốt nhất cho sản phẩm của bạn. Dưới đây chúng tôi đã liệt kê các chất pha loãng và chất mang phổ biến nhất, bao gồm các trường hợp sử dụng được khuyến nghị.

Chất pha loãng: Một chất được kết hợp với một chất khác có thể tích lớn hơn để giảm độ mạnh của chất đó.

Chất mang: Một chất được kết hợp với một chất khác có thể tích nhỏ hơn để giảm độ mạnh của nó. Thuật ngữ chất mang có nguồn gốc từ mục đích của nó là mang các terpene. Một thuật ngữ khác cho chất mang là chất nền.

Terpene được pha loãng bằng cách trộn chúng vào chất mang. Dầu mang phải chiếm từ 90% đến 99%+ của hỗn hợp.

Sản phẩm Chất điều chỉnh độ nhớt chiết xuất (Viscosity Extract Modifier) của TrueTerpenes là một chất pha loãng. Đề xuất sử dụng là 1-3% tổng khối lượng hỗn hợp.

Terpene là một chất pha loãng khi được thêm vào chiết xuất hoặc dầu. Chất pha loãng phải nhỏ hơn 10% của dung dịch. Khi được thêm vào chiết xuất nền hoặc dầu, terpene làm giảm độ nhớt (độ keo) của chất nền và giảm độ mạnh của nó. Terpene cũng mang theo một hương thơm cũng như hương vị hoa và thảo mộc khác biệt.

 

VISCOSITY

(Viscosity là tên một sản phẩm của TrueTerpenes)

Sản phẩm Viscosity Extract Modifier là chất pha loãng được tạo ra từ sự kết hợp của các terpene không mùi với nhau, hầu như không có mùi hương hoặc hương vị. Nó có nguồn gốc từ thực vật và được thiết kế để hóa lỏng các chất chiết xuất ​​THC cô đặc đã trải qua đông hóa (winterization). Viscosity, cùng với tất cả các sản phẩm terpene khác sẽ không hóa lỏng CBD chưng cất hoặc CBD phân lập.

Sử dụng để: giảm độ nhớt của các chất chiết xuất có độ tinh khiết cao để làm cho chúng mềm dẻo hơn

Không sử dụng với: CBD, BHO, rosin, hoặc các dạng chiết xuất chưa được làm winterization.

 

DẦU DỪA

Được thu hoạch từ những trái dừa trưởng thành, dầu dừa là một loại dầu nền phổ biến được sử dụng để làm son dưỡng môi và kem bôi ngoài da. Dầu dừa cũng được dùng như một chất thay thế cho bơ để sử dụng trong các đồ ăn tẩm cần sa. Ở nhiệt độ phòng, dầu dừa là một hỗn hợp dạng kem (paste) đặc. Nó tan chảy và trở nên trong suốt ở nhiệt độ trên 76 độ F (24.4 độ C).

Tốt nhất cho: Đồ ăn tẩm cần sa, kem bôi, thuốc viên nang

Không sử dụng cho: Cartridge

 

MEDIUM-CHAIN TRIGLYCERIDE (MCT)

Được chiết xuất bằng cách chưng cất dầu dừa và dầu cọ, MCT là một loại dầu trong suốt, dạng lỏng ở nhiệt độ phòng. Do tạo cảm giác dễ chịu cho miệng và hương vị nhẹ nhàng, MCT thường được sử dụng làm chất nền cho cồn thuốc.

Tốt nhất cho: Cồn thuốc và đồ ăn tẩm cần sa

Không sử dụng cho: Cartridge

Khi bạn kết hợp terpene với MCT, chúng tôi đề xuất độ pha loãng là 99%

 

DẦU JOJOBA

Dầu Jojoba có nguồn gốc từ cây Phỉ hoang dã và có bản chất gần giống với các loại dầu được sản xuất tự nhiên trên da người. Dầu jojoba dễ dàng được hấp thụ, khả năng dưỡng ẩm cao và không để lại dư lượng dầu. Không nên ăn dầu jojoba vì nó chứa một chất hóa học thực vật (axit gondoic) không thể tiêu hóa được.

Tốt nhất cho: Thuốc bôi & Mỹ phẩm

Không sử dụng cho: Cartridge và đồ ăn

 

DẦU HẠT GAI DẦU

Được chiết xuất từ ​​hạt cây gai dầu, chất mang này được biết đến với một số lợi ích sức khỏe. Dầu hạt gai dầu rất giàu axit béo thiết yếu nên nó là một lựa chọn tuyệt vời cho cồn thuốc và thức ăn.

Tốt nhất cho: Đồ ăn, cồn thuốc và kem bôi

Không sử dụng cho: Cartridge

 

PROPYLENE GLYCOL (PG)

PG là một chất lỏng được sử dụng trong ngành công nghiệp thuốc lá điện tử như một chất mang hương liệu. PG là một phân tử bán cực có nghĩa là nó có thể hòa tan trong cả nước và dầu ở một mức độ nhất định. PG gây tranh cãi như một chất mang vì các chất hóa học giải phóng ra khi nó được làm nóng lên. Bạn nên nói chuyện với chuyên gia y tế của mình trước khi sử dụng PG để mang hoặc pha loãng các chất khác.

Nguồn: Tổng hợp từ trueterpenes.com

Công nghệ giải trình tự gen – từ canh tác cần sa cho tới dược phẩm cá nhân hóa

Trong những năm trở lại đây, khoa học đã có những bước đột phá lớn trong công nghệ giải trình tự gen. Quá trình giải trình tự gen ngày càng nhanh hơn, rẻ hơn và đã có nhiều ứng dụng to lớn trong các ngành công nghiệp khác nhau.

Vậy còn ngành công nghiệp cần sa và lĩnh vực cần sa y tế thì sao?

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về gen, công nghệ giải trình tự gen, và tiềm năng to lớn của nó trong vấn đề canh tác và dược phẩm cần sa.

Khải quát về gen

Di truyền

Đã bao giờ bạn tự hỏi, màu mắt của bạn là do đâu, chiều cao của bạn phụ thuộc những nhân tố quyết định nào?

Câu trả lời đơn giản là, có hai loại nhân tố quyết định bất kỳ đặc điểm nào trên cơ thể chúng ta: di truyền và môi trường. Chúng ta đều hiểu về nhân tố môi trường. Ví dụ, nếu bạn chơi thể thao đều đặn, bạn sẽ có thân hình thon gọn hơn và rất có thể sẽ cải thiện được chiều cao. Vậy còn di truyền là gì? Di truyền nghĩa là những đặc điểm mà bạn được truyền lại từ bố mẹ. Con cái giống với bố mẹ là do tính di truyền. Cây cối cũng giống động vật, cũng thừa hưởng các đặc tính của cây thế hệ trước đó.

Do vậy, mỗi đặc điểm trên cơ thể của bạn đều chịu ảnh hưởng của hai yếu tố đó. Nhưng, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đâu thì còn tùy thuộc. Có những đặc điểm, như màu mắt, chịu ảnh hưởng từ di truyền là chủ yếu, nhưng có những đặc điểm khác, như tính cách hay sự thông thạo một kỹ năng nào đó, thì môi trường có lẽ đóng vai trò quan trọng hơn.

Vậy, câu hỏi tiếp theo là, điều gì quyết định yếu tố di truyền?

Chính là gen, hay DNA

Gen là gì

Gen chính là đơn vị vật chất di truyền nhỏ bé, thường nằm gọn trong nhân tế bào, nhưng chứa đựng tất cả các thông tin cần thiết cho việc hình thành nên một cá thể và các hoạt động của cá thể đó.

Nói một cách đơn giản, thì tưởng tượng bạn là một ngôi nhà. Để xây được ngôi nhà, bạn sẽ cần một bản vẽ. Và rồi, từ bản vẽ này, bạn sẽ tạo được ra sàn nhà, tường nhà, mái nhà, theo đúng như những gì đã định sẵn!

Do đó, việc giải trình tự gen cũng giống hệt với việc bạn đọc bản vẽ của một căn nhà. Bạn có thể không nhìn thấy được ngôi nhà đó trông như thế nào, có thể do nó chưa được xây chẳng hạn, nhưng nhờ việc đọc bản vẽ đó mà bạn đã tự hình dung trước được.

Gen được cấu tạo như thế nào?

Một gen sẽ tương ứng với một đoạn DNA. Cơ thể người hay bất kỳ động vật nào đều được cấu tạo từ bốn nhóm đại phân tử: protein, carbonhydrate, lipid và nucleic acid. DNA thuộc nhóm nucleic acid, và sẽ hoạt động như một khuôn mẫu cho việc tổng hợp RNA và sau cùng là protein.

Protein chính là phân tử tham gia cấu tạo nên hầu như tất cả các cấu trúc tế bào, tham gia tất cả các quá trình sinh lý, sinh học trong cơ thể của sinh vật. Do vậy, khi có sự thay đổi về cấu trúc gen, hoặc mức độ biểu hiện gen, thì nhiều cấu trúc, đặc điểm cơ thể hoặc quá trình sinh lý trong cơ thể cũng sẽ thay đổi theo.

Gen, hoặc DNA, được cấu tạo từ 4 loại nucleotide khác nhau, có thể được gắn với 4 chữ cái A,T,G,C. Cũng như cách mà các chữ cái khác nhau trong bảng chữ cái sắp xếp lại thành các từ khác nhau, 4 loại chữ cái của bảng chữ cái di truyền này cũng sẽ sắp xếp để quy định các phân tử amino acid nào sẽ được tổng hợp, và sự sắp xếp của các phân tử này trong protein ra sao.

Quá trình từ DNA để tổng hợp ra protein thực chất còn khá phức tạp nữa, nhưng bạn chỉ cần hiểu được bản chất của nó:

Trình tự Gen/DNA -> Trình tự Protein -> Tính trạng/ đặc điểm/ hoạt động sinh lý.

Nhờ vậy, như đã nói ở phía trên, khi bạn biết được trình tự gen của cây cần sa, bạn sẽ có thể tiên đoán được các đặc điểm của cây đó lúc trưởng thành ngay từ khi nó còn là cây con.

Gen được giải trình tự như thế nào?

Một bộ gen hoàn chỉnh có thể bao gồm hàng tỉ nucleotide khác nhau. Đúng như cái tên đã định nghĩa, giải trình tự gen chính là việc đọc từng chữ cái một tương ứng với nucleotide đấy, và sắp xếp chúng sao cho đúng với cách mà chúng được sắp xếp trong hệ gen.

Để làm được điều này trên cây cần sa, các nhà khoa học sẽ đục một lỗ bé tí tẹo trên lá của cây cần sa để lấy mẫu mô. Điều này có thể được thực hiện ngay từ khi có lá mầm đầu tiên. Họ sau đó sẽ phải loại bỏ protein, lipid, carbohydrate để chỉ lấy nucleic acid.  Thêm một số bước xử lý nữa để loại bỏ tạp chất, tăng độ tinh khiết cho mẫu, rồi nhân bản các mẫu đó lên. Cuối cùng thì mẫu, giờ chỉ còn toàn là DNA, sẽ được đưa vào máy để giải trình tự.

Công nghệ giải trình tự gen và canh tác cần sa

Bạn đã biết những điều cơ bản về gen và việc giải trình tự gen. Vậy, nó có ứng dụng gì trong canh tác cần sa?

Xác định gen nào quy định tính trạng nào

Các nhà khoa học hiện đã giải được trình tự các gen mã hóa enzyme tham gia tổng hợp các cannabinoid, như THCA, CBDA, CBGA… (cannabinoid ở cây cần sa tồn tại dưới dạng acid). Họ cũng bắt đầu hiểu được một số biến đổi trong các gen này có thể gây ra hiện tượng gì. Ví dụ, biến đổi nhỏ trong gen của quá trình tổng hợp THC có thể làm tăng hoặc giảm, thậm chí bất hoạt sự tổng hợp THC của cây.

Ngoài cannabinoid ra, các gen khác được quan tâm là các gen tổng hợp terpene, flavonoid. Đối với cây gai dầu thì là hàm lượng protein, tốc độ phát triển, chống chịu, hoặc kích thước hạt.

Tiên đoán kiểu hình cây ngay từ khi bé

Bạn sẽ không cần phải đợi cây trưởng thành, ra hoa rồi mới biết là nó sẽ cho ra những búp cần sa như thế nào. Hàm lượng THC, CBD, mọi loại cannabinoid, thậm chí cả terpene và flavonoid đều có những gen quy định về sự tổng hợp chúng. Điều này là vô cùng có lợi cho grower, đặc biệt là những người lai giống cần sa đang muốn biết về thế hệ cây con của mình sẽ như thế nào. Họ sẽ không phải mất công trồng cây, rồi đợi một thời gian dài để cây trưởng thành mới có thể đánh giá.

Mặc dù chất lượng của hoa cần sa còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn như kỹ thuật trồng của bạn hay môi trường có thuận lợi hay không, nhưng việc biết trước được về thông tin di truyền của cây có thể giúp các grower, nhà lai tạo có những quyết định hợp lý hơn, khi biết được thứ mà họ mong đợi là gì.

Hỗ trợ cho việc sàng lọc và lai tạo

Bạn có một giống giàu THC, và giờ muốn đưa thêm một chút CBD vào? Hoặc bạn muốn cho thêm limonene hoặc pinene để tạo nên các mùi hương, hiệu ứng mà bạn mong muốn?

Các nhà lai giống về cơ bản là sẽ lai giữa những giống cây cần sa với các đặc điểm mong muốn để có được cây con mang đặc điểm tốt từ cả hai bố mẹ. Thế nhưng, vấn đề nằm ở chỗ, việc phân chia vật chất di truyền từ bố mẹ sang con là ngẫu nhiên. Ví dụ, người con muốn có đôi mắt giống bố, nhưng nhỡ đâu lại nhận được đôi mắt giống mẹ?

Tương tự, nhà lai giống sẽ phải trồng hàng trăm cây con, đợi chúng trưởng thành, rồi mới có thể đánh giá và tìm cây con hoàn hảo. Đây quả là một công đoạn tốn quá nhiều thời gian, tiền bạc lẫn công sức. Do vậy, nếu có sự hỗ trợ của công nghệ giải trình tự gen, họ sẽ rút ngắn được quá trình này đi rất nhiều!

Tạo ra những giống cây cần sa đặc biệt

Như đã đề cập ở trên, một số đột biến trong các gen quy định enzyme trong quá trình tổng hợp THCA, CBDA… có thể tăng cường hoặc làm giảm, hoặc tắt hoàn toàn các quá trình đó.

Do vậy, các nhà khoa học có thể nhân cơ hội đó mà tạo ra các biến đổi theo mong muốn. Ví dụ, bạn muốn một giống giàu CBD và không có THC? Đơn giản, hãy tăng cường gen quy định CBDA, và tắt gen quy định THCA,

Cung cấp thông tin về giống cần sa

Có hàng ngàn giống cần sa khác nhau, và các nhà lai tạo sẽ tạo ra hàng ngàn giống nữa. Thị trường cần sa từ trước đến nay đa phần hoạt động bất hợp pháp, với hình thức chợ đen. Điều này khiến cho việc quản lý và đánh giá chất lượng hạt giống gặp rất nhiều khó khăn.

Lấy một ví dụ, bạn mua hạt giống hoặc búp cần sa của giống cần sa Blueberry, một giống vô cùng nổi tiếng đã vô địch Cúp cần sa năm 2000 cho danh mục giống Indica tuyệt nhất. Hàng đã đến tay bạn. Nhưng, câu hỏi là, điều gì khiến bạn chắc chắn là bạn đang có trong tay Blueberry chứ không phải một giống cần sa nào khác? Hạt Blueberry bạn mua ở ngân hàng này có giống với hạt Blueberry bạn mua ở ngân hàng khác không? Bạn có thực sự có thể tin tưởng? Điều gì sẽ đảm bảo cho bạn?

Và điều quan trọng nhất, những tiêu chí nào khiến cho một hạt giống hoặc một búp cần sa được gọi là Blueberry?

Hơn thế nữa, nếu bạn là một bệnh nhân cần sa y tế, bạn sẽ muốn đảm bảo rằng thứ bạn có được chính xác là thứ bạn đang tìm.

Do vậy, công nghệ gen có thể là một giải pháp tuyệt vời cho vấn đề này. Hhoàn toàn có thể phân loại, nhóm và đặt tên các giống cần sa dựa vào trình tự gen thay vì bằng cách ước lượng như hiện nay. Một khi công nghệ giải trình tự gen trở nên nhanh và rẻ hơn, hoàn toàn có thể tiến hành điều này một cách đại trà. Do vậy, trong một tương lai không xa, bạn có thể sẽ nhận được hạt giống đi kèm với chứng nhận về trình tự gen mỗi khi mua hàng. Bạn sẽ hoàn toàn yên tâm về chất lượng, xuất xứ của nó.

Công nghệ giải trình tự gen và dược phẩm cá nhân hóa

Ở một khía cạnh khác, có thể ứng dụng công nghệ này không phải lên cây cần sa, mà lên chính người sử dụng. Biết được trình tự gen của bệnh nhân có thể là bước quan trọng cho quá trình trị liệu bằng cần sa.

Có quá nhiều thứ phải đoán

Sự đa dạng của cần sa là một điểm mạnh và cũng là một điểm yếu. Điểm mạnh ở chỗ bạn có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề một cách hiệu quả nếu bạn tìm được loại cần sa phù hợp với bạn. Nhưng, điểm yếu là, làm sao để tìm được loại cần sa phù hợp đó? Trong hàng ngàn hàng vạn lựa chọn về giống và liều lượng khác nhau?

Một trở ngại lớn trong việc sử dụng cần sa cho mục đích y tế là bạn phải thử nghiệm và thăm dò mọi thứ. Cần sa khác với đa phần các loại thuốc tân dược. Trong khi phản ứng của bạn và tôi với Aspirin là giống nhau, thì phản ứng với cần sa của bạn chắc chắn sẽ khác với phản ứng với cần sa của tôi. Hiệu ứng của giống cần sa nọ cũng chắc chắn khác giống cần sa kia. Liều lượng của bệnh nhân này chắc chắn cũng sẽ khác với bệnh nhân khác.

Giống cần sa, liều lượng, tỉ lệ THC:CBD, Indica hay Sativa, cách sử dụng… có quá nhiều nhân tố ngẫu nhiên trong bài toán chữa bệnh bằng cần sa của bạn. Chính vì lý do này, nhiều người không đạt được hiệu quả như mong muốn khi thử cần sa y tế. Không phải là cần sa không có tác dụng, mà là họ chưa thể tìm được đâu là loại thuốc phù hợp, và liều lượng bao nhiêu.

Trình tự gen là chìa khóa cho chữa lành

Trong cuộc phỏng vấn với Project CBD, Tiến sĩ McKernan đã đưa ra ví dụ về một số bệnh điển hình:

Đau mãn tính

Trong bệnh đau mãn tính, cơn đau của bạn có thể là do liên quan đến thụ thể TRP, còn cơn đau của tôi là do một biến thể gen TRAP1, khiến cho cơ thể không loại bỏ được gốc tự do. Bác sĩ kê đơn thuốc opiate cho cả bạn và tôi, những sẽ chỉ có bạn là opiate giải quyết được vấn đề, còn vấn đề về gốc tự do của tôi vẫn không được động tới. Đây là một trong những lý do gây nên đại nạn opioid ở Mỹ, khi mà việc sử dụng thuốc này bị lạm dụng quá mức. Nếu bác sĩ biết về những bệnh nhân nào đau mãn tính do biến thể gen TRAP1, họ có thể sẽ có hướng đi khác, sử dụng các chất chống oxy hóa thay vì chỉ cố gắng làm dịu triệu chứng đau. Thật vậy, cannabinoid là những chất chống oxy hóa mạnh mẽ, do đó nhiều người đã có được kết quả khả quan khi sử dụng thuốc cannabinoid thay cho opioid trong bệnh đau mãn tính.

Động kinh

Còn trong bệnh động kinh kháng trị ở trẻ em, việc sử dụng thuốc CBD tuy đã có nhiều kết quả khả quan, nhưng nhiều trường hợp thuốc không có hiệu quả, thậm chí bệnh tình còn nặng hơn! Tại sao lại vậy? Tiến sĩ Mc Kernan đã phát hiện ra khi giải trình tự gen các bệnh nhân động kinh trong các thử nghiệm lâm sàng rằng, có ít nhất bốn biến thể gen trong bệnh lý này. Một biến thể mã hóa gen tham gia sự chuyển hóa CBD, gọi là gen CYP2C9. Ba biến thể gen khác liên quan tới kênh sodium, nơi mà anandamide tác động tới. Do đó, đối với một loại biến thể, thứ các bé cần là CBD, nhưng một số khác, thứ cần dùng lại là THC. Đây có lẽ chính là lý do mà một số trẻ không có sự cải thiện khi dùng CBD, nhưng đã tốt hơn rất nhiều khi có THC thêm vào.

Đây chỉ là hai ví dụ điển hình của các biến thể gen khác nhau ảnh hưởng đến quá trình điều trị của cùng một bệnh. Tiến sĩ McKernan còn nhắc đến nhiều chứng bệnh khác nữa mà họ đang tìm hiểu. Rất có thể điều tương tự sẽ được áp dụng trong Alzheimer, Parkinson, tự kỷ, thậm chí là ung thư!

Do vậy, nếu chúng ta có thể thực hiện kết hợp hai lĩnh vực: giải trình tự hệ gen của bệnh nhân và giải trình tự gen cần sa, chúng ta sẽ hoàn toàn có thể thiết kế được một loại thuốc cần sa hoàn hảo cho một trường hợp bệnh nhất định. Điều này có nghĩa là, bạn sẽ chỉ cần lấy mẫu DNA rồi gửi đến phòng thí nghiệm, tiệm thuốc sẽ gửi lại bạn cần sa ngay trong ngày hôm sau. Đúng giống cần sa và tỉ lệ THC: CBD bạn cần, liều lượng phù hợp với bạn, không cần phải mất thời gian và công sức để dò tìm như bây giờ nữa.

Kết luận

Công nghệ giải trình tự gen thật có nhiều hứa hẹn. Chính vì những điều đã phân tích ở này, tôi tin rằng, công nghệ này kết hợp với ngành dược phẩm cần sa sẽ tạo nên một hệ thống y tế được cá nhân hóa, là một bước đột phá lớn trong ngành y tế của tương lai.

Tác giả: Express

Tổng kết khảo sát cần sa của Canada năm 2020

Như các bạn đã biết, vào năm 2018, Canada đã tiến hành hợp pháp hóa cần sa giải trí cho người trưởng thành trên toàn đất nước. Cả thế giới đều dõi theo sự kiện nổi bật này. Trong suốt quá trình tranh cử cũng như trước khi ban hành bộ luật mới, thủ tướng Canada đã nêu quan điểm ủng hộ hợp pháp hóa cần sa rằng nó là thiết yếu để bảo vệ người dân, đặc biệt là trẻ em, khỏi cần sa bất hợp pháp và các tệ nạn liên quan. Kèm theo đó, các chương trình giáo dục cộng đồng về cần sa cũng được đẩy mạnh.

Vì thế, năm 2021, hơn 2 năm sau khi hợp pháp hóa cần sa, cả thế giới đang rất cần số liệu từ Canada để đánh giá tác động của việc hợp pháp hóa trên toàn đất nước. Liệu cần sa hợp pháp có mang lại lợi ích? Hay sẽ đem lại những vấn đề mới? Người dân Canada hiện cảm nhận ra sao về việc sử dụng cần sa? Và thị trường cần sa của Canada hiện nay như thế nào so với thị trường chợ đen? Câu trả lời cho những câu hỏi vô cùng phức tạp đó hiện môt phần nằm trong bản báo cáo này, được dịch thuật bởi đội ngũ Vietgrowers.

Hy vọng rằng, khảo sát cần sa này của Canada sẽ đem lại cho bạn nhiều thông tin bổ ích, có giá trị cao để chúng ta cùng tham khảo khi hướng tới việc hợp pháp hóa cần sa tại Việt Nam.

 

Xem bản PDF:

Khảo_sát_cần_sa_ở_Canada_năm_2020

Dịch giả: Quỳnh Anh

 

 

 

 

Cannabidiol (CBD) và Covid 19 – Tổng quát.

Cannabidiol (CBD) và Covid 19

Trong bối cảnh đại dịch Covid 19 hoành hành, cần sa có thể là một trong những phương pháp giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị căn bệnh do virus này.

 

Tóm tắt

  • Cannabidiol có thể ngăn chặn việc xâm nhập của virus SARS-CoV-2 bằng cách điều hòa biểu hiện của enzyme chuyển đổi ACE2 trong mô tiếp xúc với virus.
  • Cannabidiol có khả năng chống viêm mạnh mẽ giúp góp phần chống lại cơn bão cytokine, nguyên nhân gây tử vong chính ở các bệnh nhân mắc Covid nặng.
  • Sử dụng cần sa có thể phần nào giảm nhẹ triệu chứng khó chịu khi mắc Covid và điều hòa các phản ứng miễn dịch.
  • Cannabidiol giúp chống lại căng thẳng, trầm cảm, rối loạn tâm lý và rối loạn hành vi sử dụng chất liên quan tới covid.
  • Tuy vậy, không nên sử dụng cần sa khi bạn đi tiêm vắc xin, vì cần sa có khả năng ức chế miễn dịch, khiến cho cơ thể khó tạo nên đáp ứng miễn dịch hơn.

 

Ngăn ngừa Covid – thụ thể ACE2

Với đại dịch COVID-19 hiện nay, do coronavirus 2 gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV-2), chúng ta rất cần một liệu pháp và chiến lược phòng ngừa mới có thể giúp hạn chế bệnh lây lan và giảm tỷ lệ tử vong.

SARS-CoV-2 sử dụng sự xâm nhập qua trung gian thụ thể vào vật chủ người thông qua enzyme chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2), được biểu hiện trong mô phổi cũng như niêm mạc miệng và mũi, thận, tinh hoàn và đường tiêu hóa. Việc điều chỉnh nồng độ ACE2 trong các mô cửa ngõ này có thể là một chiến lược hiệu quả để giảm tính nhạy cảm với bệnh.

Trong một nghiên cứu mới đây dưới sự cho phép của Bộ Y tế Canada, các nhà nghiên cứu đã phát triển hơn hơn 800 giống C. sativa mới và đưa ra giả thuyết rằng chất chiết xuất từ ​​C. sativa CBD cao có thể được sử dụng để điều chỉnh giảm biểu hiện ACE2 trong các mô cửa ngõ của COVID-19. Bằng cách sử dụng mô hình 3D nhân tạo của con người về mô miệng, đường thở và ruột, họ đã xác định được 13 chất chiết xuất cần sa có hàm lượng CBD cao làm giảm mức protein ACE2. Một số giống cần sa còn có thể ức chế sự tổng hợp serine protease TMPRSS2, một protein quan trọng khác cần thiết cho sự xâm nhập của SARS-CoV-2 vào tế bào vật chủ.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33221759/

Tuy vậy, lưu ý rằng nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trong môi trường phòng thí nghiệm với quy mô nhỏ. Chúng ta vẫn chưa biết được rằng liệu cơ chế này có thật sự hiệu quả khi áp dụng thực tế và trên quy mô lớn hay không. Tuy vâỵ, nó cũng đã mở ra một hướng đi đầy triển vọng trong nỗ lực đẩy lùi Covid – 19.

 

Chống viêm, điều hòa miễn dịch, dập tắt cơn bão cytokine

Trong trường hợp không có thuốc kháng vi-rút và vắc-xin hiệu quả, đại dịch COVID-19 vẫn là thách thức lớn nhất đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe của chúng ta trong nhiều thập kỷ. Cần có sự can thiệp điều trị dứt điểm khẩn cấp. Các báo cáo lâm sàng chỉ ra rằng cơn bão cytokine liên quan đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các trường hợp nghiêm trọng của một số bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, bao gồm cả COVID-19.

Trong những năm gần đây, cannabinoid đã được nghiên cứu rộng rãi do các tác dụng triển vọng của chúng đối với cơ thể con người. Trong số tất cả các cannabinoid, cannabidiol (CBD) đã được chứng minh tác dụng chống viêm mạnh mẽ trong nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau thông qua nhiều cơ chế khác nhau.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2828614/

Trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí Cannabis and Cannabinoid Research (Nghiên cứu cần sa và Cannabinoid), cannabidiol đã cho thấy khả năng chống viêm mạnh mẽ bằng cách giảm đáng kể nồng độ các cytokine gây viêm và cải thiện các triệu chứng lâm sàng do nó gây ra, giúp thiết lập lại sự cân bằng trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu sử dụng Poly (I: C), một chất tương tự tổng hợp của RNA sợi kép của virus, đưa vào mũi của chuột thí nghiệm để mô phỏng các triệu chứng của nhiễm virus nặng, là các dấu hiệu của ARDS và bão cytokine, chẳng hạn như xơ hóa, phì đại và phù phổi.

https://www.liebertpub.com/doi/full/10.1089/can.2020.0043

Một nghiên cứu khác trong môi trường in-vivo đăng trên tạp chí Scientific Reports cũng cho thấy cannabinoid thể hiện hoạt động chống viêm in vitro trong chứng viêm liên quan đến COVID-19 trong tế bào biểu mô phổi. Tuy nhiên, họ lại quan sát được hoạt động “ủng hộ viêm” của đại thực bào, là các tế bào chịu trách nhiệm cho phản ứng miễn dịch nhờ “ăn” các virus và tế bào vi khuẩn. Thú vị hơn nữa, khi các nhà nghiên cứu sử dụng chỉ riêng CBD phân lập, các tác dụng này chỉ được quan sát ở một nồng độ nhất định và xuất hiện đường đồ thị tác dụng có dạng hình chuông, tức là liều lượng quá thấp hoặc quá cao sẽ gây mất tác dụng của thuốc. Tuy nhiên, khi sử dụng chiết xuất CBD kết hợp với CBG và THCV, sẽ cho thấy đáp ứng ngày càng tăng khi nồng độ tăng. Điều này hé lộ rằng các chiết xuất cần sa toàn phần – chứa đầy đủ hợp chất cannabinoid cũng như tecpen – có thể hiệu quả hơn nhiều so với chỉ sử dụng CBD tinh khiết mà thôi.

https://www.nature.com/articles/s41598-021-81049-2

 

Chống căng thẳng và các rối loạn tâm lý liên quan tới covid -19

Các triệu chứng lo lắng và căng thẳng sau chấn thương sẽ phổ biến do hậu quả của đại dịch COVID-19, đặc biệt ở những người bị ảnh hưởng chặt chẽ nhất bởi căn bệnh này và ở những người có tình trạng lo lắng từ trước.

Không giống như CBD, các loại thuốc chống lo âu hiện tại có tác dụng phụ không mong muốn đáng kể và tác dụng chậm bắt đầu, hiệu quả hạn chế ở một số bệnh nhân, lệ thuộc thuốc mạnh và hội chứng cai thuốc.

Khác với THC, là chất gây phê trong cần sa, CBD không gây nên hiệu ứng này. Trong một bài báo cáo đăng trên tạp chí Cannabis and Cannabinoid Research (Nghiên cứu cần sa và Cannabinoid), tác giả đã review các nghiên cứu trước đó, đưa ra đánh giá và giả thiết rằng CBD có thể là một lựa chọn dược lý mới để điều trị các rối loạn lo âu liên quan đến COVID đáng được thử nghiệm thông qua các thử nghiệm lâm sàng được thiết kế tốt.

CBD có thể được ưa chuộng hơn so với một số loại thuốc hiện có về mức độ an toàn và hồ sơ tác dụng phụ của nó. Tuy vậy, cũng cần lưu ý về các tương tác thuốc có thể xảy ra.

https://www.liebertpub.com/doi/10.1089/CAN.2020.0102

 

Lưu ý về CBD khi tiêm vắc xin

Trong một lưu ý trên trang O’Shaughnessy’s và đã được trích dẫn trong tạp chí Cancers (các bệnh ung thư) năm 2020, Bác sĩ Joe D. Goldstrich đã chỉ ra rằng mặc dù cần sa có thể hữu ích trong việc chống lại tình trạng viêm và các triệu chứng do virus gây ra, nó có thể cũng chống lại việc cơ thể tạo nên đáp ứng miễn dịch khi chúng ta đến cơ sở y tế để tiêm vắc xin.

Lưu ý này được rút ra sau khi có nhiều trường hợp lâm sàng trong bệnh ung thư cho thấy cần sa có ảnh hưởng xấu tới các bệnh nhân ung thư dùng liệu pháp miễn dịch. Cần sa và liệu pháp miễn dịch không nên được dùng chung với nhau, khi các thống kê cho rằng những bệnh nhân ung thư sử dụng cần sa kết hợp với liệu pháp miễn dịch có tỉ lệ sống sót ít hơn những người không sử dụng.

https://beyondthc.com/covid-19-and-cannabis/

 

Tương tác thuốc: CBD và các thuốc tiềm năng điều trị Covid – 19.

Trong một nghiên cứu mới đây đăng trên Cannabis and Cannabinoid Research, các nhà khoa học nhận thấy rằng CBD có thể có tương tác với một số loại thuốc điều trị Covid. Trong số 28 tên thuốc được xem xét, 12 ít có khả năng tương tác, 8 trong số đó có khả năng tương tác thông qua tác động của cannabinoid lên họ enzyme CYP ở gan, và 15 trong số đó có khả năng tương tác do sự tăng nguy cơ gây tác dụng phụ. Các tác dụng phụ có thể có của THC/ CBD là tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, nhiễm trùng và tổn thương gan.

https://www.liebertpub.com/doi/full/10.1089/can.2020.0054

Trên thực tế, khả năng gây tương tác xấu của cannabinoid với các thuốc tân dược là ít khi xảy ra nếu bạn sử dụng liều thấp hoặc vừa phải. Mặc dù vậy, bạn vẫn nên trao đổi với bác sĩ của bạn về các tương tác thuốc tiềm ẩn này khi sử dụng kết hợp với THC/CBD.

 

Bệnh viên đang ứng dụng cần sa y tế trong điều trị Covid

Mới đây, một bệnh viên ở Áo đã thu hút sự chú ý khi sử dụng CBD để điều trị các bệnh nhân mắc Covid. Những người sử dụng CBD nhìn chung đã ít bị viêm hơn và có thời gian phục hồi nhanh hơn. Điều này là ví dụ thực tế mạnh mẽ chứng minh cho tác dụng chống viêm của CBD đối với Covid.

https://ilesol.com/austrian-hospital-uses-cbd-to-treat-patients-with-covid-19/

 

Kết luận

Cần sa nói chung và CBD nói riêng có tiềm năng lớn để trở thành một phương pháp ngăn ngừa, điều trị và hỗ trợ điều trị hiệu quả căn bệnh do virus SARS-CoV-2 gây nên, cũng như giảm thiểu các căng thẳng, sang chấn tâm lý hậu Covid thông qua nhiều cơ chế hoạt động khác nhau.

Tuy vậy, chúng ta vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định chắc chắn điều này. Ngoài ra, nếu bạn có ý định sử dụng cần sa hay CBD, nên cân nhắc theo dõi các tương tác thuốc có thể có với các thuốc bạn đang sử dụng. Đồng thời, tránh sử dụng CBD trong một khoảng thời gian nhất định khi bạn đi tiêm vắc xin.

 

Bài viết bởi Vietgrowers.

 

Tham gia khóa học cần sa y tế – Bác sĩ Dustin Sulak

TỔNG QUAN VỀ KHÓA HỌC

  • Được phát triển bác sĩ Dustin Sulak – Ông là chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực CBD và cần sa y tế
  • Khóa học online của Healer đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các chuyên gia y tế, những người đang trực tiếp giúp đỡ bệnh nhân và người tiêu dùng sử dụng CBD và cần sa để đạt được kết quả tốt nhất có thể
  • Sau khi tham gia khóa học, bạn sẽ nhận được Chứng chỉ của Healer để trở thành nhà tư vấn về CBD và cần sa đáng tin cậy
  • Đây là khóa học có uy tín, chính xác và thực tế dựa trên các phác đồ đã được chứng minh, các tài liệu peer-review và kinh nghiệm lâm sàng của chính bác sĩ Sulak sau khi điều trị cho hơn 10.000 bệnh nhân cũng như những kinh nghiệm trong đào tạo chuyên gia y tế

NỘI DUNG CỦA KHÓA HỌC

Khóa học chứng chỉ Healer được thiết kế đặc biệt dành cho cho các chuyên gia trong ngành, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như người tiêu dùng. Khoá học bao gồm:
  • Đào tạo qua mạng: Học về phác đồ liều lượng của Bác sĩ Sulak, các chiến lược trong việc điều trị bệnh, các tiến bộ khoa học mới nhất và các nghiên cứu mới nhất về lĩnh vực cần sa y tế
  • Hội thảo hàng tháng qua webinar: Giúp bạn cập nhật thông tin mới nhất về các nghiên cứu và đặt trực tiếp các câu hỏi cho Bác sĩ Sulak. Hội viên cũng sẽ có toàn quyền truy cập vào bản ghi hình của các cuộc webinar trước đây
  • Thư viện trực tuyến: Bao gồm các video, phác đồ liều lượng và tài liệu truyền thông mạng xã hội mà Healer cung cấp
  • Đào tạo chuyên sâu: Giúp cho tổ chức của bạn trở thành những người dẫn đầu trong lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân/ khách hàng với các khóa đào tạo chuyên sâu dành riêng cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tiệm kinh doanh cần sa, kinh doanh CBD cũng như các mô hình kinh doanh khác liên quan

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GỒM 3 PHẦN CHÍNH

Nền tảng của cần sa y tế:

  • Hệ thống Cannabinoid Nội sinh: Tại sao và bằng cách nào cần sa lại có hiệu quả?
  • Dược lý học của cần sa
  • Tất cả về Terpene
  • Các hiệu quả điều trị có thể có
  • Các tác dụng phụ của cần sa
  • Các dạng liều lượng của cần sa y tế
  • Hiểu về liều lượng và khả năng hấp thụ cần sa
  • Các tương tác thuốc và việc đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng
  • Các vấn đề rối loạn khi sử dụng chất

Phương pháp luận và hướng dẫn về liều lượng:

  • Các nguyên tắc khi tính liều lượng cần sa
  • Hiệu ứng phụ thuộc liều lượng và cửa sổ điều trị
  • Kết hợp THC với CBD và lựa chọn giống hợp lý
  • Các chiến lược điều trị bệnh
  • Các lợi ích của hiệu ứng tâm lý
  • Các chiến lược không gây ra hiệu ứng tâm lý
  • Hướng dẫn chung cho các loại bệnh nhân khác nhau
  • Phác đồ cụ thể cho từng bệnh và ví dụ ca lâm sàng cụ thể

Những điều thiết yếu và ứng dụng của CBD:

  • CBD là gì và cách hoạt động của nó là như thế nào?
  • Kênh receptor và ion, chất vận chuyển và enzyme, và cơ chế hoạt động của chúng
  • Các tác dụng y tế đã được chứng minh của CBD
  • Các ứng dụng khác của CBD: nghiện chất, chấn thương não, chấn thương xương khớp, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, các bệnh ngoài da, ung thư, và glaucoma
  • Các tác dụng phụ và tương tác thuốc của CBD
  • Các phương pháp căn liều lượng và sử dụng CBD
  • Cách thức lựa mua sản phẩm CBD uy tín

NGOÀI RA, CÒN CÓ CÁC WEBINAR TRỰC TUYẾN

  • Webinar trực tiếp với Bác sĩ Dustin Sulak để cập nhật các thông tin, nghiên cứu mới nhất
  • Quyền truy cập vào các thư viện webinar đã diễn ra

HỌC PHÍ

  • Học phí được Healer công bố tại đây.
  • Nếu bạn đăng ký đơn lẻ, học phí sẽ là $249 một năm. Còn nếu bạn học theo nhóm 20 người trở lên, học phí sẽ là $179.4 một năm. Nhóm Vietgrowers hiện đang cố gắng tổ chức khóa học nhiều người cùng tham gia, do vậy bạn sẽ chỉ phải trả mức học phí thấp hơn.

FAQ – HỎI ĐÁP THƯỜNG GẶP VỀ KHOÁ HỌC

Khóa học có tài liệu tiếng Việt không?

  • Phần lớn tài liệu có trong khóa học đã được nhóm Vietgrowers dịch sang tiếng Việt và các thành viên đều sẽ được cung cấp chúng. Nhóm Vietgrowers cũng sẵn sàng giúp đỡ bạn nếu bạn có bất kỳ yêu cầu giúp đỡ nào. Mặc dù vậy, bạn vẫn sẽ phải trả lời các câu hỏi trong đó sử dụng tiếng Anh. 

Nhóm Vietgrowers có thu lợi nhuận gì từ việc tổ chức khóa học này không?

  • Nhóm Vietgrowers hoàn toàn không hề thu lợi nhuận gì từ khóa học này. Mục đích của nhóm là cung cấp sự đào tạo và giáo dục tốt nhất về cần sa y tế cho cộng đồng. Bạn có thể tham khảo bảng giá thành viên tại trang web chính thức của Healer.

Khi đăng ký hội viên theo năm và tham gia lấy Chứng chỉ, những gì sẽ được bao gồm trong đó?

  • Bạn sẽ có toàn quyền truy cập vào các khóa học online và các khóa học mới, cập nhật tin tức, tham gia diễn đàn thảo luận, tham khảo phác đồ của Healer, tham gia webinar trực tuyến cũng như truy cập các bản ghi hình webinar trước đó, tham gia các buổi hỏi đáp với Bác sĩ Sulak, và quan trọng nhất là bạn sẽ có được Chứng chỉ Healer của mình.
  • Bác sĩ Sulak sẽ thường xuyên cập nhật thêm thông tin, tài liệu vào khóa học khi cần thiết.
  • Bạn có thể hủy việc gia hạn tư cách thành viên bất cứ lúc nào.

Đào tạo trực tuyến này có bao gồm cả CBD gai dầu hay không?

  • Có. Bác sĩ Sulak sẽ giảng sâu về CBD và CBD từ gai dầu trong khóa học của bạn. Bạn sẽ được học về khoa học CBD, các nghiên cứu mới nhất và quy trình căn liều lượng tối ưu.

Khi nào thì tôi nhận được chứng chỉ Healer?

  • Sau khi bạn hoàn thành xong chương trình 1 và 2, chứng chỉ của bạn sẽ được gửi qua email dưới dạng PDF có thể download được.

Khi nào khóa học bắt đầu?

  • Ngay sau khi bạn mua khóa học, bạn có thể bắt đầu bất kỳ lúc nào bạn muốn. Không có một khoảng thời gian cố định nào cả. Bạn có thể học theo tốc độ của riêng bạn từ máy tính, điện thoại di động hoặc máy tính bảng.

Khóa học này có cho tôi tín chỉ CME không?

  • Không, khóa học trực tuyến của Healer không cung cấp cho bạn tín chỉ CME.

VỀ BÁC SĨ DUSTIN SULAK

  • Hành nghề y học cần sa trong hơn 10 năm
  • Bác sĩ Sulak là người sáng lập Integr8 Health, một cơ sở y tế ở Maine chăm sóc hơn 8.000 bệnh nhân sử dụng cần sa y tế và đồng sáng lập của Healer.com, một chương trình giáo dục về cần sa y tế. Ông là người đi đầu trong lĩnh vực y học mới nổi là liệu pháp Cannabinoid.
  • Bác sĩ Dustin Sulak là một bác sĩ y học tích hợp và dẫn đầu trong lĩnh vực y học cannabinoid. Thực hành lâm sàng của ông tập trung vào việc điều trị các trường hợp bệnh kháng các phương pháp điều trị thông thường ở cả người lớn và trẻ em.
  • Người ủng hộ cần sa y tế quốc tế: Ông có mặt trong ban giám đốc của Hiệp hội Bác sĩ Cần sa (Society of Cannabis Clinicians) và giảng bài cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe quốc tế về khoa học và ứng dụng lâm sàng của cần sa.

HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ

  • Vui lòng gửi email về hòm thư nhatanh@cannabisvietnam.org. Trong thư bao gồm: họ và tên học viên, số điện thoại, địa chỉ email. Bạn cũng có thể viết kèm trong thư bất kỳ câu hỏi nào mà bạn có.
  • Hoặc, bạn có thể nhắn tin trực tiếp đến facebook Vietgrowers:  https://www.facebook.com/vietweeds

Chương 16 – Bộ quần áo mới của Hoàng đế

Những giải pháp thay thế sự cấm đoán

Tóm lại, chúng ta thấy rằng mọi lập luận chống cần sa của chính quyền đều được thêu dệt từ những lời dối trá trắng trợn. Trong chương này, chúng tôi sẽ đưa ra ánh sáng một số nghiên cứu mà chính quyền không muốn người dân biết tới. Kế đến, chúng tôi sẽ thảo luận một số giải pháp thay thế mang tính thực tiễn. Nhưng trước hết, một mẩu chuyện ngắn phỏng theo truyện cổ tích của Hans Christian Andersen:

Câu chuyện về bộ quần áo mới của Hoàng đế

Ngày xưa, có một vị hoàng đế tồi tệ và hết sức ưa thích sự phù phiếm. Hoàng đế áp những khoản thuế nặng nề lên người dân để chi trả cho những bộ quần áo thượng hảo hạng của ông ta, được may từ các loại vải đắt đỏ nhất.

Một ngày kia, có hai gã bịp bợm xuất hiện, tự xưng là những thợ may rất tài giỏi đến từ một nơi xa xôi. Chúng xin được yết kiến Hoàng đế và rồi nói về một loại vải mới lạ tuyệt vời mà chúng đã phát minh ra. Loại vải đó được dệt từ những sợi bằng vàng rất đắt tiền, mà chỉ có những người khôn ngoan nhất và thuần khiết nhất mới trông thấy được. Hoàng đế cảm thấy rất hứng thú và yêu cầu xem thử mẫu. Hai gã lấy ra một ống sợi trống rỗng và hỏi Hoàng đế: “Chao ôi, đẹp lắm phải không, thưa bệ hạ?”

Hoàng đế đồng ý, vì sợ phải thừa nhận rằng mình chẳng trông thấy gì cả; như thế khác nào thừa nhận mình là một kẻ ngu đần.

Thế rồi, Hoàng đế đã triệu kiến toàn bộ các quan đại thần đến để nghe ý kiến và để sát hạch họ. Khi đã được giải thích về năng lực của loại vải này, các quan đại thần đều đồng ý rằng đó quả thật là loại vải tinh tế và đẹp đẽ nhất trên thế giới.

Hoàng đế hạ lệnh đem phần lớn vàng trong quốc khố cho hai gã thợ may bịp bợm để chúng dệt thành sợi. Chúng bắt đầu công việc ngay lập tức, giả vờ như cắt may từ ngày này qua ngày khác, còn Hoàng đế và các quan đại thần lâu lâu lại tìm đến để ngưỡng mộ tác phẩm của chúng, và cũng để thanh toán những khoản tiền khổng lồ cứ chồng chất lên trong quá trình chúng “làm việc”.

Cuối cùng, ngày trọng đại cũng đến và toàn bộ người dân trên đất nước được lệnh tập hợp lại để xem bộ quần áo mới của Hoàng đế, thứ mà họ đã nghe nhắc đến nhiều và phải trả thật nhiều tiền cho nó.

Khi Hoàng đế trần truồng bước tới, tất cả người dân chỉ biết nhìn với một vẻ không thể tin nổi và không biết nói gì. Thế rồi họ bắt đầu cất lên những lời ca ngợi loại vải mới mẻ kì diệu này.

“Đó là tác phẩm đẹp đẽ nhất tôi từng thấy!”

“Thật tráng lệ!”

“Ước gì tôi cũng có được thứ vải đẹp đến thế!”

Họ đều reo mừng, vì sợ rằng nếu không làm vậy thì họ sẽ bị chỉ trích và gọi là kẻ ngu đần và ô uế.

Còn Hoàng đế kiêu hãnh diễu qua trước mặt thần dân, trong lòng lo sợ sẽ bị tước mất vương miện nếu như họ biết được rằng chính ông ta cũng không trông thấy thứ vải khoác lên thân thể mình.

Khi ông ta rẽ qua đám đông, một cậu bé ngồi trên vai cha chợt hô lên: “Nhưng Hoàng đế có mặc gì đâu!”

Người cha lên tiếng: “Hãy lắng nghe lời nói của trẻ con!”. Rồi từng người từng người thì thầm với nhau điều đứa trẻ vừa nói. Lời nói của cậu bé lan truyền khắp trong những người dân.

Thế rồi, ai nấy đều biết Hoàng đế và các quan đại thần của ông ta đã mắc lừa hai gã bịp bợm. Giờ đây, từ đám lính cận vệ và đại thần cho đến người dân đều nhận ra rằng những kẻ bịp bợm đã không chỉ lừa Hoàng đế, mà ông ta còn đã tiêu phí hết số tiền thuế họ nộp vào trò lố lăng này. Hoàng đế nghe thấy tiếng cười và thì thầm từ những người dân. Ông ta biết rằng họ đúng, nhưng ông ta cũng quá kiêu hãnh để thừa nhận rằng mình đã sai và đã bị biến thành trò hề. Vậy là ông ta ngạo nghễ ưỡn ngực lên và nhìn chằm chằm xuống đám lính cận vệ, cho đến khi một người lính bắt gặp ánh mắt của Hoàng đế.

Nhìn quanh đầy lo lắng khi nhận ra rằng vị Hoàng đế phù phiếm này có thể bỏ tù hay thậm chí chặt đầu mình, người lính cận vệ này cúi mắt nhìn xuống đất. Thế rồi một lính cận vệ khác, khi thấy đồng ngũ của mình không còn cười nữa, cũng hoảng sợ và đưa mắt nhìn xuống đất. Chẳng mấy chốc, toàn bộ lính cận vệ, quan đại thần và cả những đứa trẻ đang giả vờ nâng đuôi áo vô hình cũng đều dán mắt xuống đất.

Thấy các quan và lính vừa rồi còn cười cợt Hoàng đế nhưng giờ đây lại đang run sợ nhìn xuống đất, dân chúng cũng ngừng cười và nhanh chóng cúi gằm mặt xuống.

Thằng bé lúc đầu hô lên rằng Hoàng đế trần truồng, khi thấy mọi người lớn xung quanh và cả cha nó hoàn toàn sợ sệt và cam chịu khuất phục, cũng cúi đầu trong sự sợ hãi!

Thế rồi Hoàng đế một lần nữa ngạo nghễ ưỡn ngực và phán với thần dân, trong lúc ông ta kiêu hãnh diễu khắp đất nước: “Kẻ nào dám cả gan nói rằng đây không phải bộ quần áo đẹp nhất thế gian?”

Bài học rút ra là…

Chúng ta không thể cứ vậy mà hạch tội Hoàng đế (chính phủ Hoa Kỳ) vì những hành động dối lừa và thao túng sự thật của ông ta (họ) được. Đám cận vệ (FBI, CIA, DEA, v.v.) có sức mạnh quá áp đảo. Nỗi sợ bị phơi bày trong sự hổ thẹn quá lớn nên Hoàng đế (chính phủ Hoa Kỳ) không ngừng sử dụng quyền lực của mình (thông qua việc cấp phần lớn kinh phí cho Liên Hợp Quốc và các chiến dịch chống ma túy toàn cầu) để mua chuộc sự trung thành bằng những hối lộ và đe dọa (viện trợ nước ngoài, doanh số vũ khí, v.v.).

Những công dân Hoa Kỳ dám lên tiếng chống lại sự chuyên chế này thường bị quy chụp là “bọn nghiện” hay “bọn ngáo” và có nguy cơ đánh mất công việc, thu nhập, gia đình và tài sản. Để giành được chiến thắng, chúng ta phải đánh trúng tâm điểm những dối trá (của chính phủ Hoa Kỳ/của DEA); phải dùng những thực tế và lập luận vững chắc để giáng cho chúng những đòn không khoan nhượng hết lần này đến lần khác – từ đó đánh bại sự tàn ác của Hoàng đế lòng dạ chai sạn này (những luật lệ bất công về cần sa) và thậm chí bỏ tù những thủ phạm nếu cần thiết, để đem lại tự do cho người dân!

Phép loại suy logic

Chúng tôi tín chắc rằng luật về gai dầu/cần sa của Hoa Kỳ giống như bộ quần áo của Hoàng đế vậy! Giống như những bạo chúa và những kẻ chủ trương cấm đoán trong quá khứ, Hoàng đế này cũng dựa trên vũ lực, sự đe dọa, nỗi sợ hãi và một chế độ tương tự cảnh sát trị để duy trì triều đại độc đoán bạo ngược của ông ta trong khi rút cạn ngân sách liên bang, dỡ bỏ những vết tích của Tuyên ngôn nhân quyền và bỏ tù những người vô tội!

Đất nước vĩ đại này đã được xây dựng trên nguyên tắc rằng mỗi người đều có “những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc” và mỗi người đều có trách nhiệm bảo toàn những quyền này bằng cách bỏ phiếu của cá nhân mình.

Việc các quan chức hoặc ủy viên hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ dùng tiền thuế của dân để chỉ đạo hoặc âm mưu thực hiện một chiến dịch cố ý đưa thông tin sai lệch, bỏ sót dữ liệu và nói dối trắng trợn chính là một hành vi phạm tội.

Trong chủ đề cần sa, Ronald Reagan, George Bush và cả Bill Clinton hiện nay đóng vai Hoàng đế. Cũng nên thêm rằng Nancy Reagan đã đóng vai Hoàng hậu Q Cơ độc ác và tàn nhẫn trong truyện Alice ở xứ thần tiên của Lewis Carroll – nhân vật đã hạ lệnh “Kết án trước, xét xử sau!”

Carlton Turner, William Bennett, Bill Martinez, Lee Brown, Barry McCaffrey và hiện nay là John Walters đóng vai các quan đại thần của Hoàng đế – những kẻ đã đề cao sự ngụy biện về “thứ vải thuần khiết mà chỉ những đôi mắt thuần khiết nhất mới trông thấy” được thêu dệt cho họ bởi Anslinger, DuPont, Hearst và những thuộc cấp hiểm ác của các quan chức này. Giờ đây, sự ngụy biện này đang được các công ty rượu bia, dược phẩm và năng lượng, các chuyên viên cai nghiện, người xét nghiệm ma túy, cảnh sát, quản giáo và cai thầu xây nhà tù cùng nhau duy trì – toàn cả đều bị thúc đẩy bởi những lợi nhuận tài chính khổng lồ và những động cơ của một chế độ cảnh sát trị.

Khi những đại diện của chính phủ Hoa Kỳ chủ tâm mưu tính và hành động như vậy – dù là Tổng thống, Phó Tổng thống, Trùm Dược phẩm, Giám đốc của các cơ quan DEA, FBI hay CIA – bọn họ đều đáng bị bỏ tù. Và trong một xã hội Mỹ chân thật, những người này còn phải chịu trách nhiệm về tổng cộng 16 triệu năm tù họ đã kết án biết bao nhiêu người Mỹ vì các “tội” liên quan đến cần sa.

Chính quyền liên bang quan liêu và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đang nhanh chóng đục khoét những quyền tự do đã được nêu trong Tuyên ngôn nhân quyền (được viết trên giấy gai dầu) của chúng ta. Gai dầu/cần sa đã trở thành cái cớ hàng đầu họ viện ra để tước đoạt những quyền được đảm bảo theo Hiến pháp của chúng ta – với mức độ khủng khiếp hơn toàn bộ những tội ác, hành động chính trị, nổi loạn, đình công, khởi nghĩa và chiến tranh cộng lại trong 200 năm qua! Và sự mất mát những quyền tự do cơ bản này tại những quốc gia vệ tinh thuộc vùng Nam và Trung Mỹ, nơi các nhà lãnh đạo đều hành động theo mệnh lệnh của Hoa Kỳ, thậm chí còn tồi tệ hơn nữa.

Sự che giấu những sự thật về cần sa/gai dầu của Viện Smithsonian

Một điều đáng lưu ý là mặc dù 50-80% trong tổng số các loại sợi làm giấy và vải được trưng bày của họ trong các triển lãm “Cuộc sống ở Mỹ: Từ những năm 1780 đến những năm 1800” và “Triển lãm Hàng hải châu Mỹ, giai đoạn 1492-1850” có nguồn gốc từ gai dầu, Viện Smithsonian đã loại bỏ mọi lời đề cập đến gai dầu những khi nó được sử dụng để làm giấy, sợi dệt, dây thừng và buồm. Họ chỉ dùng cụm từ “các loại sợi khác” để nhắc đến gai dầu, trong khi các loại sợi bông, len, lanh, sisal, đay, gai dầu Manila, v.v đều được nêu tên cụ thể. Trước năm 1800, sợi bông chiếm dưới 1%, còn sợi gai dầu chiếm khoảng 80% trong tổng số các loại sợi.

[Gai dầu Manila: Được dịch từ “Manila hemp”, là một loài chuối bản địa của Philipines, còn có tên gọi khác là abacá. Ngoại trừ một phần tên gọi trong tiếng Anh giống nhau (hemp), gai dầu và gai dầu Manila/abacá là hai loài cây hoàn toàn khác nhau. – N.D]

Người phụ trách bảo tàng có tên là Arkadero đã trả lời khi bị chất vấn về chủ đề này: “Bọn trẻ giờ đây không còn cần biết đến gai dầu nữa, điều đó chỉ gây lẫn lộn cho chúng”. Còn Giám đốc Viện Smithsonian thì nói rằng mặc dù gai dầu là loại sợi hàng đầu, nhưng “chúng tôi không phải một viện bảo tàng về các loại sợi”.

Ông ấy đã không nhắc đến chuyện họ đã làm thế nào để xác định được rằng bọn trẻ quả thật cần biết đến các loài cây cho sợi thứ yếu trong lịch sử châu Mỹ/đất nước Hoa Kỳ.

Phải chăng những câu hỏi hồn nhiên của bọn trẻ về gai dầu và cần sa đang khiến các hướng dẫn viên của Viện Smithsonian cảm thấy không thoải mái?

Và trong một bức thư đề ngày 20 tháng 6 năm 1989, Tổng thư ký của Viện là Robert McCormick Adams đã viết: “Chúng tôi không coi một tuyển tập các loại sợi tại Mỹ thời thuộc địa là một phần trong nhiệm vụ của chúng tôi” khi trưng bày những hạng mục triển lãm này.

“Đôi lúc, sự tập trung các hạng mục như vậy có thể khiến người phụ trách nhắc đến các loại vải như vải lanh, vải len và các loại vải khác”.

Ông đã trả lại các ấn bản cuốn sách này và bộ phim Hemp for Victory do chính phủ Hoa Kỳ thực hiện vào năm 1942, có vẻ như đã không hề xem xét bất kỳ một thông tin nào trong đó.

Sự thật – Những hậu quả từ sự cấm đoán

Khi công ty DuPont nói với các bạn rằng họ đem lại “Lối sống tốt hơn nhờ hóa học”, họ không nói với các bạn rằng điều đó chỉ diễn ra trong vòng 100 năm, sau đó toàn bộ hành tinh sẽ chết cho lợi nhuận của họ.

Anh và Hà Lan đã học được cách đối xử với những người nghiện chất như con người đúng nghĩa – cung cấp cho họ đủ lượng thuốc với mức giá phải chăng để họ không gây phiền toái cho hoạt động của người khác. Những chính sách cho phép người nghiện chất có được cuộc sống có ích và bình thường như vậy giờ đây đã được thiết lập vững chắc, hiệu quả và phố biến tại những đất nước này. Vào giữa những năm 1990, Thụy Sĩ đã bắt đầu thử nghiệm của riêng họ về việc thể hiện sự khoan dung dành cho hoạt động sử dụng chất công khai tại một số địa điểm nhất định.

Khi chính phủ Thụy Sĩ tìm cách tái hình sự hóa cần sa vào năm 1997 thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, họ đã thất bại với kết quả 79% phiếu chống!

Vậy tại sao những người trồng và sử dụng gai dầu/cần sa ôn hòa lại bị bắt bớ và bị liệt vào hạng tội phạm mãn đời trong khi 35% số vụ cướp và trộm cắp được thực hiện bởi những người nghiện rượu và heroin, 40-55% số vụ giết người, hiếp dâm và tai nạn chết người trên đường cao tốc có liên quan đến rượu*, và heroin còn dễ mua trong tù hơn ngoài đường phố. Ngoài ra, theo thống kê, tỷ lệ phạm tội và bạo lực ở nhóm người sử dụng cần sa là tương đương, thậm chí thấp hơn so với nhóm dân số không sử dụng cần sa nói chung.

*Thống kê của FBI, 2005.

Trên thực tế, không tính đến việc sử dụng cần sa, nếu hoạt động buôn bán heroin và các loại ma túy khác của những băng đảng tội phạm được ngăn chặn, số vụ phạm tội không liên quan đến rượu sẽ giảm tới 80%. Một ví dụ trực tiếp, suốt những năm 1920 khi Hoa Kỳ áp dụng lệnh cấm rượu, số vụ giết người đã không ngừng tăng lên và rồi giảm mạnh trong 10 năm liên tiếp sau khi lệnh cấm rượu được bãi bỏ vào năm 1933*
*Thống kê của FBI.

Đã đến lúc phải tìm ra một cách thức khác để giải quyết vấn đề kiểm soát sử dụng ma túy, nếu không tự do của chúng ta sẽ tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng, bao gồm những quyền về thể hiện bản thân, tranh luận công khai và một nền báo chí tự do.

Hãy chấp nhận thực tế rằng gần như mọi tội phạm liên quan đến ma túy sẽ chấm dứt nếu chúng ta coi người sử dụng và người nghiện ma túy là những bệnh nhân cần điều trị thay vì gạt bỏ họ khỏi xã hội. Hãy giúp đỡ, giáo dục và khích lệ để họ có được khả năng chủ động về tài chính.

Năm 2006, chính phủ Hoa Kỳ, DEA và phần lớn Đảng Cộng hòa đặt ưu tiên hàng đầu vào việc tìm cách ban hành những luật lệ mà trong đó sẽ nghiễm nhiên tước đoạt mọi quyền của công dân về riêng tư và miễn trừ khám xét vô căn cứ – như thể cuộc chiến chống ma túy là một tình trạng khẩn cấp đang thực sự hiện hữu vậy – nhằm tiến xa hơn nữa trong mưu đồ phát xít, cai trị bằng cảnh sát và nhà tù của bọn họ.

Sự áp chế thời công nghệ cao

Để cần sa hoàn toàn biến mất khỏi Hoa Kỳ, mọi công dân – dù là người sử dụng hay không sử dụng cần sa – sẽ phải từ bỏ Tuyên ngôn Nhân quyền của họ…vĩnh viễn! Các bạn sẽ phải phục tùng hạng người như Lyndon LaRouche, Jerry Falwell, Nancy Reagan, Edwin Meese, William Bennett, Barry McCaffrey, John Walters và những kẻ có bộ óc thích áp chế và lố bịch tương tự. Từng kẻ trong đám ngạo nghễ ngu xuẩn ấy đều góp phần vào việc đầu độc dai dẳng đối với trái đất trong khi bọn họ vận dụng hết khả năng của bản thân để cố gắng hoàn toàn hủy diệt thứ duy nhất có thể cứu được chúng ta: Gai Dầu!

Thật trớ trêu khi mà máy tính vốn là một lợi ích vĩ đại của nhân loại cũng sẽ giúp cho cảnh sát ngày nay hoàn thành được công việc mà Tòa án Dị giáo Roma đã khởi xướng (xem Chương 10) bởi Giáo hội đã không chịu đựng nổi việc bị những thường dân cười nhạo, hay việc chính những thường dân đó biết được nhiều điều bí mật, trong đó có những hiểu biết về vệ sinh, thiên văn và cây gai dầu. Nhờ có máy tính, những cảnh sát chống cần sa có thể nhòm ngó gia cảnh, biên lai bán hàng, thuế thu nhập, v.v. của một cá nhân nào đó. Họ sử dụng những thông tin thu thập được để gạ gẫm bằng cách đe dọa và/hoặc hối lộ các công dân Hoa Kỳ; ngoài ra còn để hủy hoại sự nghiệp của các yếu nhân (bao gồm chính khách, thẩm phán, v.v.) bằng cách tiết lộ những vấn đề riêng tư liên quan đến đời sống tình dục hoặc sử dụng ma túy của họ.

Đơn cử như trường hợp người con trai của cựu Tổng Y sĩ Joycelyn Elders dưới thời Tổng thống Clinton. Kevin (tên người con trai của Elders) đã bị một người bạn đeo bám một cách có hệ thống trong sáu tháng liên tục, với mục đích dẫn dụ Kevin mua một lượng nhỏ cocain về để tự sử dụng. Người bạn này trước đó đã bị DEA bắt giữ và ép buộc làm chỉ điểm, cụ thể là gài bẫy con trai của Tổng Y sĩ Elders. Là một người chưa từng bị ghi nhận có liên quan đến chuyện mua bán ma túy, Kevin ban đầu đã kiên quyết từ chối, nhưng sau cùng vẫn bị thuyết phục bởi sự thúc ép triền miên từ người bạn.

Chính quyền đã không tiết lộ vụ giao dịch này với bất kỳ ai trong sáu tháng tiếp theo, cho đến khi họ có thể dùng đến thông tin này để trực tiếp gây áp lực khiến Tổng Y sĩ Elders từ bỏ lập trường mềm mỏng của bà trong vấn đề cần sa y tế. Thay vì chấp nhận bị bịt miệng, Elders đã từ chức. Bằng những thủ đoạn ám muội trơ tráo như vậy, DEA đang mỗi ngày đưa chúng ta đến gần hơn với cơn ác mộng trong tiểu thuyết 1984 của Orwell.

Lãng phí tiền thuế của dân

Xấp xỉ 50% tổng số tiền dành cho các hoạt động chống ma túy (từ cấp liên bang đến tiểu bang) trong 70 năm qua là nhằm vào cần sa!

Nếu là 60 hay 70 năm về trước, khoảng 70-80% những người hiện nay đang thụ án trong các nhà tù của Hoa Kỳ chắc hẳn sẽ không bị quy kết là tội phạm và bị giam giữ như vậy. Nói cách khác, bằng sự thiếu hiểu biết và định kiến (do ảnh hưởng từ Anslinger và Hearst), chúng ta đã tống khoảng 1,2 triệu trong tổng số 1,8 triệu người vào các nhà tù (thời điểm năm 2005) vì những tội danh vốn chỉ bị xem là những thói xấu vặt vãnh – cho đến khi Đạo luật Harrison năm 1914 được ban hành (theo đó, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vào năm 1924 lần đầu tiên đã phán quyết rằng người nghiện ma túy không đơn thuần là những người mắc bệnh, mà họ chính là những tội phạm đê hèn).

80% trong số những nạn nhân từ “Cuộc chiến chống ma túy” của chính phủ không phạm tội buôn bán. Họ đã bị bỏ tù chỉ vì hành vi tàng trữ ma túy. Và đó là chưa tính đến một phần tư triệu người khác bị nhốt trong các trại tạm giam cấp hạt.

Hãy nhớ rằng cách đây mới 29 năm, vào năm 1978, trước khi diễn ra “Cuộc chiến chống ma túy”, chỉ có 300.000 người bị giam giữ trong các nhà tù của Hoa Kỳ, bao gồm tất cả các loại tội danh.

Trên sóng phát thanh và truyền hình, một số nhà thuyết giáo đã góp thêm vào tình trạng cuồng loạn này bằng cách rao giảng rằng nhạc rock thuộc về “quỷ dữ và voodoo”, là thứ gắn liền với văn hóa ma túy. Bọn họ muốn cấm nhạc rock, đốt các băng đĩa và sách báo, và tống giam tất cả những ai bất đồng ý kiến. Carlton Turner cũng vậy. Lyndon LaRouche cũng vậy. William Bennett cũng vậy. Barry McCaffrey cũng vậy. John Walters cũng vậy.

Suốt quãng thời gian ba thế hệ trở lại đây, người dân Mỹ đã không ngừng bị nhồi sọ bằng những lời tuyên truyền dối trá của Hearst và Anslinger như thể đó là chân lý không thể chối cãi – dẫn đến những khoản tiền khổng lồ đã bị bòn rút từ thuế của dân để đổ vào việc xây dựng nên cỗ máy chống ma túy cho chính quyền.

Gần như khắp các tiểu bang đều đang diễn ra một sự mở rộng quy mô nhà tù chưa từng thấy trong lịch sử Hoa Kỳ và cả thế giới. Đám kền kền chính trị, không có mối bận tâm nào khác ngoài sự khuếch trương những chuyện làm ăn liên quan đến nhà tù và sự ổn định chức nghiệp của bản thân, ráo riết đòi xây dựng thêm nhà tù và tăng thu thuế trong một sự điên cuồng nhân danh “pháp luật và trật tự” nhằm chống lại những gì trước đó không lâu chỉ là tội ít nghiêm trọng hay thậm chí là thứ tội không hề tồn tại.

Những tiêu chuẩn kép

Vào những năm 1980, khi Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ William Rehnquist “gà gật” trong phòng xử án – và tống những người nghiện khác vào tù vì thói quen của họ – ông cũng phải thỏa mãn thói quen sử dụng thuốc Placidyl của mình, với 8 viên mỗi ngày. Xét về tiền bạc, “độ phê” và ảnh hưởng tâm thần, điều này tương đương với một người nghiện ngoài đường phố sử dụng 70-125 đô la heroin mỗi ngày.

Placidyl, một loại thuốc cùng họ với Quaalude, được ưa chuộng vì mang lại một cảm giác rất êm dịu cho người sử dụng.

Sự lệ thuộc về thể chất và những ảnh hưởng tâm thần do sử dụng các loại thuốc hợp pháp Placidyl, Dilaudid, Quaalude, v.v. gần như giống hệt các loại thuốc barbiturat, thuốc phiện, morphine và heroin bị nguyền rủa. Về bản chất, chúng đều gây xáo trộn cân bằng endorphin (những thụ thể có chức năng ức chế cảm giác đau) trong cơ thể.

Rehnquist, người được cho là đã sử dụng Placidyl vượt xa những giới hạn thông thường, không phải đi cướp những cửa hàng rượu, hành hung người dân, hay thực hiện bất kỳ hành vi phản xã hội nào khác thường được gán cho “bọn xì ke”.

Thói quen của Rehnquist dễ dàng được duy trì bởi vì Placidyl được mua bán hợp pháp và nằm trong mức thu nhập thường xuyên của ông. Placidyl còn được ghi nhãn chi tiết về độ tinh khiết và chế độ liều lượng, trong khi những người nghiện chất cấm phải xoay xở với một “tép heroin 10 đô la” mà không thể biết độ tinh khiết của nó là 5% hay 95%. Hầu hết các trường hợp quá liều chính là do yếu tố này của độ tinh khiết: không nhãn, không kiểm soát và không xác định.

Chính phủ biết rõ có thể tránh được 90% (hoặc nhiều hơn) trường hợp quá liều chất cấm nếu có những nhãn thuốc và cảnh báo sử dụng thỏa đáng.

Những chính sách dựa trên sự thiếu hiểu biết

33 năm qua, trong khi khảo cứu cho cuốn sách này, chúng tôi đã trò chuyện và đặt câu hỏi với các thượng nghị sĩ, nhà lập pháp, thẩm phán, cảnh sát, ủy viên công tố, nhà khoa học, nhà sử học, người đoạt giải Nobel, nha sĩ và bác sĩ. Họ đều biết những mẩu thông tin nhỏ nhặt về lịch sử và công dụng của cần sa, nhưng hầu như không ai có kiến thức chuyên sâu và bao quát về nó, ngoại trừ một số nhà nghiên cứu y học lâu năm như Ungerlieder, Mikuriya, và các tác giả như Ed Rosenthal, Dean Latimer và Tiến sĩ Michael Aldrich.

Ví dụ, 24 năm trước, trong một buổi gây quỹ lớn của NORML tại California vào tháng 2 năm 1983, chúng tôi đã nói chuyện riêng với Phó lãnh tụ đa số lúc bấy giờ là Thượng nghị sĩ Tom Rutherford của New Mexico. Ông là một trong những chính khách ủng hộ cần sa hàng đầu trong hơn một thập kỷ; và có lẽ vào thời điểm đó, ông là đại biểu dân cử am hiểu nhất về chủ đề cần sa tại Hoa Kỳ. Chúng tôi hỏi ông ấy tại sao chính phủ không thẳng thắn hợp pháp hóa cần sa, nhất là với tất cả những gì chúng ta đã biết về nó, từ các góc độ y tế, kinh tế và lịch sử.

Chúng tôi đã sửng sốt khi ông trả lời rằng mình không biết có một lý lẽ nào thỏa đáng để ủng hộ hợp pháp hóa cần sa, ngoại trừ chỉ để chấm dứt tình trạng hình sự hóa điên rồ đối với những điều bất quá chỉ là một vi phạm không đáng kể.

Vậy là chúng tôi đã trình bày một cách nhiệt tình những dữ kiện và toàn bộ lịch sử cần sa/gai dầu, đoán chừng ông hẳn đã biết đôi chút về điều này từ trước. Ông ấy đã ngồi đó, sững sờ trước những gì lần đầu tiên được nghe. Khi chúng tôi ngừng lời, ông đã nói: “Nếu những kiến thức đó được trình bày và có tài liệu chứng minh đúng như các vị vừa kể, sẽ không có chuyện chính phủ, cảnh sát và hệ thống tư pháp rình rập cần sa nữa”.

“Nhưng có thật là như vậy không?” – ông hỏi thêm.

Đó là vào tháng 2 năm 1983 – khi mà những chính khách ủng hộ cần sa hàng đầu của Hoa Kỳ cũng không có đủ hiểu biết về cần sa/gai dầu để ghi kín một trang sách; và một số người đã rời khỏi nhiệm sở trong giai đoạn “Hãy nói không” dưới thời Reagan, trước khi có đủ hiểu biết để công khai ủng hộ cần sa/gai dầu.

Nhưng giờ đây, nhiều người đã biết rõ rằng gai dầu có thể là loại cây trồng hàng đầu của trái đất, rằng những điều luật hiện tại là hoàn toàn vô lý, và rằng quan điểm của chính phủ đối với cần sa là tuyệt đối sai trái và đơn thuần là một sự chối bỏ sự thật.

Luật là gì?

“Mọi điều luật có thể bị vi phạm mà không gây tổn hại đến ai đều đáng bị cười cợt”. (Spinoza, khoảng năm 1660.)

Kiểm soát cần sa chính là từ bỏ các quyền tự do của chúng ta – đối với chính chúng ta, con cái chúng ta, và con cái của chúng – vĩnh viễn.

Và điều đó, thưa các bạn, chính là chủ nghĩa phát xít; và nói một cách giản dị, nếu các điều luật về cần sa không bị đảo ngược, và nếu các hoạt động mang tính hủy diệt trái đất như khai thác dải [một hình thức khai thác mỏ lộ thiên], khoan dầu, khai thác trắng [chặt toàn bộ cây trong một khu vực], xả chất thải công nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ không được chấm dứt, hành tinh của chúng ta chẳng bao lâu sẽ chết dưới tay của những chính khách ngu dốt (thiếu hiểu biết và/hoặc độc ác) – những kẻ nghĩ rằng bọn họ có quyền thông qua những điều luật ngày một hà khắc để tống những công dân lương thiện của đất nước vào các nhà tù ngày một tăng lên cả về diện tích lẫn số lượng. Những chính khách này khắc họa bản thân là những người hành động theo sự thúc giục đơn thuần từ mối quan tâm đến thế hệ trẻ. Trong khi đó, bọn họ cũng đang đẩy mạnh những hoạt động đầu độc môi trường trên diện rộng mà chính thế hệ trẻ đó phải hứng chịu mỗi ngày! Nhưng để thật sự hiểu vì sao hàng chục triệu người Mỹ khiếp sợ cần sa sau 70 năm thông tin sai lệch vẫn đang diễn ra đến ngày nay, hãy xem xét não trạng và tính cách của Daryl Gates – Cảnh sát trưởng Los Angeles trong thời gian 1978-1992 – người thừa nhận đã giúp chỉ đạo một chương trình vùi dập những thông tin chính xác về gai dầu, và đã ra lệnh quấy rối, bắt giữ những nhà hoạt động trong Sáng kiến Cần sa California trong khi họ chỉ thực hiện đúng quyền công dân và Hiến pháp để thu thập chữ ký cho thỉnh nguyện đơn.

Tháng 9 năm 1983, trên truyền hình và thông qua một phát ngôn viên cảnh sát, Gates đã phán rằng những người đề xướng cải cách luật gai dầu “có ý định tốt nhưng hết sức ngờ ngệch và thực sự không có bao nhiêu hiểu biết trong vấn đề cần sa”.

Tháng 1 năm 1984, Gates nhận được câu hỏi từ một phụ huynh tại trường công của San Fernando Valley, California: “Tôi có thể làm gì nếu phát hiện con mình đã sử dụng cần sa?” Ông ta trả lời: “Quá muộn rồi. Khi chúng đã hút dù chỉ một điếu cần sa, chúng ta xem như đã vĩnh viễn đánh mất chúng”.

Những lời này cũng đã được Ủy viên công tố Ira Reiner của hạt Los Angeles sử dụng nguyên văn trong chiến dịch tranh cử chức Tổng chưởng lý tiểu bang California năm 1990. Ông ta đã thất bại.

Một vài tháng sau, Tổng chưởng lý California khi đó là John Van de Kamp đã bưng bít bản báo cáo ngày 17 tháng 8 năm 1990 do chính ban cố vấn của ông ta thực hiện với nội dung kêu gọi tái hợp pháp hóa gai dầu. Gates đã chứng thực trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện Hoa Kỳ vào ngày 5 tháng 9 năm 1990 rằng “những kẻ sử dụng ma túy không thường xuyên cũng đáng bị lôi ra bắn bỏ”. Ông ta giữ quan điểm này gần một tuần lễ, cho đến khi công chúng lên tiếng phản đối kịch liệt và đòi ông ta từ chức, sau đó ông ta buộc phải sửa lời nhận xét của mình thành một lời kêu gọi áp dụng những hình phạt nghiêm khắc hơn. Cựu Trùm Dược phẩm William Bennett đã nói: “Tôi không thấy có vấn đề gì về đạo đức trong việc chăt đầu những kẻ sử dụng cần sa; chỉ có khó khăn về pháp lý”. Một nhà lập pháp Mississippi vào năm 1998 đã nói rằng các hình phạt liên quan đến cần sa nên bao gồm cả việc chặt chân tay kẻ phạm tội. (nghiêm túc chứ?!)

Ngày 3 tháng 3 năm 1991, ai nấy đều bàng hoàng khi biết rằng các sĩ quan cảnh sát của Gates thật sự dám thực hiện những hành vi tàn bạo và ghê tởm như vậy khi một video được công bố, cho thấy các cảnh sát Los Angeles đánh đập dã man Rodney King (bị cáo buộc vượt quá tốc độ và trốn tránh bắt giữ). Một xét nghiệm nước tiểu của King có kết quả dương tính với THC được trưng ra. Gates tiếp tục chống lưng cho hành vi đánh đập của các sĩ quan cảnh sát trong suốt thời gian diễn ra các vụ bạo loạn bùng phát từ sự kiện này.

Tháng 7 năm 1998, trong một sứ mệnh “tìm kiếm sự thật” tới châu Âu, Trùm Dược phẩm Barry McCaffrey – như thể sự ngu dốt của ông ta còn chưa đủ tồi tệ – đã tuyên bố trước khán giả Stockholm: “Tỷ lệ giết người tại Hà Lan (nơi ma túy dạng nhẹ được đối xử như một sản phẩm hợp pháp) cao gấp đôi tại Hoa Kỳ… Ma túy là vậy đó”. Thật ra, tỷ lệ giết người tại Hà Lan là 1,7 (tính trên 100.000 dân), chưa bằng ¼ tỷ lệ giết người tại Hoa Kỳ.

Đây chỉ là một chi tiết gần đây nhất trong chuỗi liên tục những thông tin sai lệch đến lố bịch của McCaffrey. Ví dụ, vào tháng 12 năm 1996, truyền thông đã dẫn lời ông ta: “Không có lấy nổi một mẩu bằng chứng rằng cần sa có giá trị dược liệu…”.

Kết luận

Căn cứ trên những thông tin được đưa ra trong cuốn sách này, chúng tôi đòi hỏi chấm dứt thi hành những điều luật cấm. Mọi điều luật liên quan đến việc trồng cây cần sa phải được loại khỏi các văn kiện, bao gồm cả Công ước thống nhất của LHQ năm 1961 mà trong đó Anslinger đã đại diện cho Hoa Kỳ. Mặc dù ông ta đã bị buộc phải về hưu trong sự tức giận của Tổng thống Kennedy vì nhiều lý do, trong đó có trò hề của ông ta tại Công ước, di sản dối trá và lừa gạt của Anslinger vẫn tiếp tục tồn tại trong năm 2007.

Chính phủ Hoa Kỳ nợ một lời xin lỗi đối với tất cả những người đã phải ra hầu tòa, bị tạm giam hoặc chấp hành án tù vì cần sa (tổng cộng là 16 triệu năm tính nay) – họ đã bị lấy mất cơ hội học hành, công việc và gia đình; đã phải chứng kiến của cải, sức khỏe và cuộc sống của bản thân bị hủy hoại.

Phần mình, chúng tôi cũng nợ một lời xin lỗi đối với những thẩm phán, cảnh sát và giáo viên trung thực nhưng kém hiểu biết bởi chúng tôi đã không đủ can đảm để lên tiếng truyền đạt những thông tin và kiến thức cho họ. Nhưng tuyệt đối không có lời xin lỗi nào cho những lãnh đạo trong chính quyền và các tập đoàn chỉ biết nghĩ đến lợi nhuận – những kẻ đã hành động phi pháp để kiểm duyệt và bài bác sự thật không thể chối cãi về gai dầu.

Những đòi hỏi của công lý

Mọi hình phạt (hình sự và dân sự) và mọi hạn chế đối với việc canh tác và sử dụng loài cây phi thường bậc nhất này của chúng ta phải bị bãi bỏ.

Những tù nhân đang bị giam giữ do đã tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc canh tác gai dầu/cần sa trong sự ôn hòa, bất bạo động phải được phóng thích ngay lập tức. Tiền bạc và tài sản đã bị tịch thu phải được hoàn trả. Quyết định ân xá phải được công bố, án tích phải được xóa sạch, và phải có những hình thức bồi thường cho thời gian thụ án. Những tù nhân cần sa này là nạn nhân thật sự của tội ác khủng khiếp chống lại loài người được gọi là “Cuộc chiến chống ma túy”.

Sau cùng, những biện pháp nửa vời sẽ không được chấp nhận.

Từ đây cho đến khi những đòi hỏi của công lý được thực thi, chúng ta phải bắt đầu bằng cách đạt được một lệnh hoãn thi hành các điều luật cấm cần sa/gai dầu. Và chúng ta phải hành động nhanh chóng để khôi phục, mở rộng những tài liệu lưu trữ quốc gia và những ghi chép lịch sử về gai dầu cùng với vô vàn công dụng của nó.

Điều các bạn có thể làm

Chúng tôi nghĩ rằng, giờ đây khi các bạn đã có được một cái nhìn kỹ lưỡng từ góc độ của chúng ta và góc độ của chính phủ trong câu chuyện này (cả theo cách chúng ta nhìn nhận lẫn theo cách truyền thông phản ánh), các bạn sẽ muốn tham gia cùng chúng tôi để đưa vấn đề này tới những cuộc bỏ phiếu của tiểu bang và những cơ quan lập pháp của đất nước, nơi mọi người có thể bày tỏ ý kiến của bản thân bằng cách đăng ký và bỏ phiếu theo một cách thức minh bạch được nêu rõ trong các hiến pháp tiểu bang và cũng như Hiến pháp Hoa Kỳ.

Hãy truyền đạt kiến thức về gai dầu với mọi người; hãy nói về nó mọi lúc. Hãy tìm kiếm, yêu cầu và mua các sản phẩm từ gai dầu. Hãy bảo vệ gai dầu. Và hãy sử dụng những thông tin và gợi ý về hoạt động chính trị và kinh doanh liên quan đến gai dầu trong phần Phụ lục ở cuối cuốn sách này.

Mặc dù điều này đã được đề cập trong sách, chúng tôi xin một lần nữa tuyên bố bằng những lời nồng nhiệt nhất, rằng gai dầu/cần sa – cũng chính là loài cây mà chúng ta bôi xấu bằng cách dùng từ lóng “marijuana” để gọi tên – sẽ được những thế hệ tương lai biết đến, như đã được những thế hệ trong quá khứ biết đến qua hàng nghìn năm, là loài cây bậc nhất với khả năng tái tạo hàng năm, hoàn toàn bền vững, không cần đến thuốc trừ sâu, đồng thời là nguồn cung cấp giấy/sợi/thực phẩm/thuốc dồi dào nhất trên trái đất, và tất nhiên có nhiều công dụng tổng thể hơn bất kỳ loài cây nào khác từng được biết đến.

Nói cách khác, gai dầu/cần sa là loài cây vĩ đại nhất trên trái đất!

Hãy viết thư để gửi tới các quan chức do dân bầu của bạn và tới các phương tiện truyền thông tin tức, để góp phần tạo nên một sự lãnh đạo chính trị sáng suốt hơn và một hoạt động đưa tin có thiện chí hơn trong chủ đề cần sa và gai dầu. Hãy tán thưởng những tin tức và biểu quyết đúng đắn; và hãy chê trách những tin tức và biểu quyết sai trái. Hãy đăng ký, tham gia tranh cử, và hãy luôn luôn bỏ phiếu!!

Hãy lên tiếng đòi hỏi sự phóng thích, bồi thường và vinh danh cho những từ nhân lương tâm của chúng ta. Họ xứng đáng được chào đón trở về như những anh hùng và như những tù binh trong “Cuộc chiến chống ma túy” này. Chính họ mới xứng đáng được nhận những quyền và lợi ích của cựu chiến binh, chứ không phải DEA hay cảnh sát.

Hãy nghĩ về điều này…

Giả sử những công dân “ngoài vòng pháp luật” này đã không phản kháng chính quyền và bảo tồn hạt giống gai dầu, có lẽ chính phủ Hoa Kỳ cũng đã xóa sổ xong loài cây này khỏi trái đất của chúng ta.

Vì vậy, những anh hùng trong cuộc chiến này không phải là William Bennett, Nancy Reagan, Bill Clinton, George Bush (Con), lực lượng DEA, hay chương trình D.A.R.E, mà là những người đã chống lại bọn họ. Phải trả lại tài sản và cuộc sống cho những anh hùng này. Với hành động phản kháng của họ trước những điều luật bạo ngược ấy, mỗi người trong chúng ta sẽ phải mãi mãi nhớ đến họ. Bởi vì họ đã cứu được loại hạt giống mà sau này sẽ cứu cả hành tinh!

Gai dầu vì chiến thắng!

Hãy để người dân được tự do. Hãy để người dân được canh tác. Và đừng bao giờ cho phép các chính khách một lần nữa áp đặt những luật cấm điên cuồng như vậy lên bất kỳ một hợp chất tự nhiên nào trong hình thức tự nhiên của nó.

Một nền dân chủ không bao giờ có thể vận hành – trừ phi nó có được sự chân thật.

Và nếu sự áp chế gai dầu chỉ là một trong nhiều điều dối trá mà những cảnh sát/quan chức do bổ nhiệm của Hoa Kỳ đã dùng vào mục đích dọa dẫm và/hoặc mua chuộc những chủ nhân trên lý thuyết của bọn họ – công chúng và những chính khách do bầu cử – vậy thì chúng ta gặp phải một rắc rối lớn!

Chúng tôi đã xem xét “cuộc chiến chống ma túy” nhắm đến gai dầu/cần sa/marijuana một cách thấu đáo nhất có thể; những điều đã phát hiện cũng khiến chúng tôi vô cùng chán ngán. Và với cánh cửa nhận thức đã được dọn sạch, chỉ những ai nắm được kiến thức này về gai dầu mới có thể đá văng những kẻ cặn bã (những tội phạm thực sự) khỏi vị trị quyền lực của chúng và đòi lại quyền tự do của chúng ta, hành tinh của chúng ta.

Vì lẽ đó, chúng tôi đồng tình với cậu bé trong câu chuyện của Hans Christian Andersen, trong lúc ngắm nhìn đoàn diễu hành đi qua, cậu bé đã cất lên tiếng nói hồn nhiên quả cảm:

“HOÀNG ĐẾ KHÔNG MẶC QUẦN ÁO!”

CHÍNH MẮT BẠN ĐÃ THẤY ĐIỀU GÌ?

BẠN SẼ LÀM GÌ VỚI ĐIỀU ĐÃ THẤY ĐƯỢC?!

ĐÔNG HÓA CHIẾT XUẤT CẦN SA (WINTERIZATION) – ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM

TÓM TẮT

  • Winterization là kỹ thuật tinh chế dầu giúp loại bỏ tạp chất.
  • Dầu trải qua winterization sẽ có màu sắc sáng hơn, độ mạnh cao hơn do nhiều cannabinoid hơn, nhưng lại mất đi mùi thơm và một số giá trị y tế do tecpen bị loại bỏ mất.

ĐÔNG HÓA CHIẾT XUẤT CẦN SA (WINTERIZATION)

Sản xuất dầu cần sa/ gai dầu tại nhà không phải là một công việc khó khăn. Tuy nhiên, việc chiết xuất cannabidiol và điều chế dầu CBD chất lượng cao từ cây Cannabis sativa là một thách thức lớn và chúng ta phải cân nhắc những thuận lợi và khó khăn của các kỹ thuật khác nhau có thể được sử dụng cho mục đích này.

Tùy thuộc vào phương pháp được sử dụng, quy trình chiết xuất có thể để lại các sản phẩm phụ không tốt cho sức khỏe và không mong muốn trong dầu cuối cùng. Vì lý do này, cần phải trải qua một bước bổ sung để làm sạch sản phẩm: loại bỏ sáp, chất béo và dung môi còn sót lại từ quá trình chiết xuất. Một trong những kỹ thuật tinh chế hiệu quả nhất là đông hóa chiết xuất cần sa (winterization), bao gồm ngâm chiết xuất cần sa trong rượu và làm đông lạnh để tách các tạp chất còn sót lại.

CÁCH WINTERIZATION ĐƯỢC THỰC HIỆN

Chiết xuất cây cần sa Winterization, còn được gọi là rửa rượu, được thực hiện sau quy trình chiết xuất ban đầu. Những quy trình ban đầu đó có thể sử dụng CO2, nitơ, butan hoặc các dung môi khác. Tất cả những điều này dẫn đến việc tách cannabinoid và tecpen khỏi cây cần sa, và tạo ra các chất không mong muốn ở mức tối thiểu, như sáp thực vật, chất béo và chất diệp lục.

Khi CO2 được sử dụng cho bước đầu tiên, dịch chiết thô được đặt trong etanol, sau đó được đun nóng và cuối cùng là đông lạnh để lọc ra các sản phẩm phụ không mong muốn. Dung dịch etanol được làm ấm đến khoảng 120 độ F, và nó sẽ không bị đóng băng cho đến khi tất cả dung môi bay hơi hết. Để đông lạnh thích hợp, dung dịch nên được đông lạnh ít nhất 24 giờ ở nhiệt độ tối thiểu 32 độ F, hoặc trong 48 giờ ở 13-5 độ F.

Sau bước này, dung dịch cồn cần được lọc để loại bỏ sáp. Các bước chiết xuất và tinh chế có thể được lặp lại nhiều lần, cho đến khi thu được dầu nguyên chất. Bây giờ, xin lưu ý rằng có thể cho sản phẩm cuối cùng, có màu tối và có độ đặc giống như xi-rô cây phong, và có màu xanh lục.

Màu xanh lá cây được tạo ra bởi chất diệp lục và có thể được loại bỏ thông qua nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như rửa chiết xuất cần sa bằng cồn ethanol, hoặc để nó tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc bức xạ tia cực tím. Trong khi các quy trình này có thể loại bỏ chất diệp lục, trong hầu hết các trường hợp, một phần của cannabinoid cũng bị phá hủy; điều này xảy ra với tốc độ chậm hơn, nhưng nó vẫn ảnh hưởng đến nồng độ cuối cùng của cannabinoid.

ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA WINTERIZATION

Khi nói đến chiết xuất cannabinoids từ cây Cannabis sativa, không có phương pháp hoàn hảo nào và tất cả các quy trình đều có nhược điểm của chúng. Nhược điểm có thể nằm ở các sản phẩm phụ, chi phí hay thời gian cần thiết.

Winterization có những nhược điểm của nó. Sản phẩm CBD cuối cùng chứa ít tecpen hơn, vì vậy nó ít hương vị và thơm hơn so với các loại dầu thu được thông qua các phương pháp khác. Mặt khác, dầu CBD được cô đặc lại mạnh hơn, vì vậy nếu bạn đang tìm kiếm một sản phẩm mạnh thay vì dầu có mùi thơm, thì chắc chắn bạn nên tìm kiếm các sản phẩm có được thông qua kỹ thuật này.

Sau đó, một số người nói rằng việc loại bỏ một phần tecpen cũng làm giảm lợi ích sức khỏe của dầu CBD. Người ta tin rằng một số tecpen có tác dụng có lợi cho sức khỏe, và việc đông lạnh có thể làm giảm hiệu quả của dầu; nhưng nếu bạn nghĩ lại rằng nồng độ cuối cùng của cannabidiol cao hơn và tác dụng có lợi của CBD đã được chứng minh bởi một số nghiên cứu, thì bạn nên tìm kiếm một loại dầu có nhiều CBD hơn là có nồng độ tecpen cao hơn.

Nguồn: Elixinol: WINTERIZATION OF CANNABIS EXTRACTS – PROS AND CONS

[Phim tài liệu] Gai dầu vì chiến thắng – Hemp For Victory (1942)

Hemp for Victory là một bộ phim đen trắng của chính phủ Hoa Kỳ được thực hiện trong Thế chiến thứ hai và phát hành vào năm 1942, giải thích về công dụng của cây gai dầu, khuyến khích nông dân trồng càng nhiều gai dầu càng tốt. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Đạo luật Thuế Marihuana năm 1937 đã được dỡ bỏ một thời gian ngắn để cho phép sản xuất sợi gai dầu để làm dây thừng cho Hải quân Hoa Kỳ nhưng sau chiến tranh, sợi gai dầu trở lại trạng thái bất hợp pháp trên thực tế.

Bộ phim được thực hiện để khuyến khích nông dân trồng cây gai dầu cho nhu cầu chiến tranh vì các loại sợi công nghiệp khác thường được nhập khẩu từ nước ngoài và đang thiếu hụt. Bộ phim cho thấy lịch sử của cây gai dầu và các sản phẩm từ cây gai dầu, cách cây gai dầu được trồng và cách cây gai dầu được chế biến thành dây thừng, vải, và các sản phẩm khác.

Trước năm 1989, bộ phim tương đối được ít người biết đến. Chính phủ Hoa Kỳ phủ nhận đã từng làm một bộ phim như vậy. Thư viện Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Thư viện Quốc hội Mỹ đã nói với tất cả các bên quan tâm rằng không có bộ phim nào như vậy được thực hiện bởi USDA hoặc bất kỳ nhánh nào của chính phủ Hoa Kỳ. Hai bản sao VHS đã được Maria Farrow, Carl Packard và Jack Herer thu hồi và tặng cho Thư viện Quốc hội vào ngày 19 tháng 5 năm 1989.

Hemp for Victory do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ sản xuất và có các cảnh trong bộ phim câm Old Ironsides năm 1926. Nó là miền công cộng và có sẵn miễn phí để tải xuống từ Kho lưu trữ Internet.
Bộ phim, cũng như các clip được chiếu, được đề cập đến trong một tập phim tài liệu lịch sử nước Mỹ, phim “10 điều bạn chưa biết” về cần sa và lịch sử của nó.

Nguồn: Wikipedia
https://en.wikipedia.org/wiki/Hemp_for_Victory

Vietnamese subtitle by Cần Sa Y Tế – Medical Cannabis Vietnam
© Video copyrights belong to: HISTORY, United States Department of Agriculture (USDA)

Chương 14: Hơn sáu mươi năm đàn áp

Năm 1937

Gai dầu đã bị cấm. Theo ước tính, chỉ có khoảng 60.000 người dân Hoa Kỳ hút “cần sa”, nhưng nhờ vào chiến dịch truyền bá thông tin sai lệch của Hearst và Anslinger, hầu như tất cả mọi người dân trên cả nước đều biết đến nó.

Năm 1945

Newsweek báo cáo rằng có hơn 100.000 người hiện đang hút cần sa.

Năm 1967

Hàng triệu người dân Hoa Kỳ thường xuyên và công khai hút lá và hoa của cây gai dầu.

Năm 1977

Hàng chục triệu người hút cần sa một cách thường xuyên, trong đó có nhiều người tự trồng.

Năm 2007

Một phần ba người Mỹ, khoảng hơn 100 triệu dân, có thử qua ít nhất một lần và khoảng 10-20% (25-50 triệu người Mỹ) vẫn chọn mua và hút cần sa một cách thường xuyên, bất chấp việc xét nghiệm nước tiểu và những bộ luật hà khắc hơn.

Trong xuyên suốt lịch sử, người Mỹ đã giữ truyền thống pháp luật rằng không ai có quyền từ bỏ các quyền hợp hiến của một người – và nếu ai đó bị tước đi những biện pháp bảo vệ này, thì người đó đang trở thành một nạn nhân.

Tuy nhiên, vào năm 1989, nếu bạn đăng ký tham gia vào một hoạt động ngoại khóa tại trường hay xin việc làm với mức lương tối thiểu, bạn có thể bị yêu cầu từ bỏ đi quyền riêng tư, bảo vệ khỏi sự tự buộc tội, những yêu cầu theo hiến pháp về cơ sở hợp lý để khám xét và tịch thu, được coi là vô tội cho cho đến khi bị kết tội bởi những người đồng nghiệp của mình, và quyền cơ bản nhất của tất cả mọi người: trách nhiệm của từng cá nhân đối với cuộc sống và ý thức của chính mình.

Đến năm 1995, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố rằng những hành vi xâm phạm quyền riêng tư cá nhân này là đúng theo hiến pháp!.

Vào tháng 11 năm 1996, như đã đề cập trước đó, California đã thông qua đề xuất của người dân trên toàn tiểu bang, giành thắng lợi với 56% số phiếu bầu và đã hợp pháp hóa cần sa y tế tại tiểu bang. Cũng vào thời điểm này, Arizona đã thông qua đề xuất trên toàn tiểu bang (với 65% số phiếu bầu) về cần sa y tế. Tuy nhiên, không giống như luật pháp tại bang California, cơ quan lập pháp và thống đốc của bang Arizona (hiện đã bị luận tội) có thể và đã bác bỏ luật này. Đây là lần đầu tiên cơ quan lập pháp và thống đốc của bang Arizona bác bỏ đề xuất của toàn bang trong suốt 90 năm!

Lực lượng Vũ trang & Nền công nghiệp

Lực lượng Vũ trang cũng như nhiều nhà máy dân sự sẽ cho bạn thôi việc nếu bạn hút cần sa; thậm chí là khi bạn có hút nó 30 ngày trước khi xét nghiệm và ngoài giờ làm việc. Các xét nghiệm này được thực hiện một cách ngẫu nhiên và thường không bao gồm rượu bia, thuốc an thần hay những loại thuốc giảm đau khác. Tuy nhiên, theo OSHA và kết quả bảo hiểm thực tế, cùng với AFL-ClO, rượu chính là thứ có liên quan đến 90-95% các vụ tai nạn xảy ra tại nhà máy, xưởng sản xuất.

Trên thực tế, nhiều cuộc thử nghiệm của Quân đội Hoa Kỳ về tác động của cần sa đối với những binh lính (trong những năm 1950 – 1960) tại Edgewood Arsenal, Maryland và các nơi khác đã cho thấy không hề có sự mất đi động lực hay hiệu suất làm việc sau hai năm hút cần sa (do quân đội tài trợ) với tần suất và liều lượng nặng.

Nghiên cứu này đã được quân đội lặp lại thêm 6 lần nữa và hàng chục lần khác bởi các trường đại học, và đều cho kết quả tương tự (British Indian Hemp Report, Panama/Siler study; Jamaican study, et al.)

Các mỏ đào vàng và kim cương ở Nam Phi đã cho phép và thậm chí là khuyến khích người da đen sử dụng cần sa/ dagga để khiến họ làm việc một cách chăm chỉ hơn.

(U.S. Government Reports, 1956-58-61-63-68-69-70-76.)

Riêng tư cũng là một quyền cơ bản

Nhiều nhóm như NORML, HEMP, ACLU, BACH và Đảng Tự do (chẳng hạn) thấy rằng miễn là quân nhân hay công nhân không hút cần sa trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc trong khoảng thời gian từ 4-6 tiếng trước khi làm nhiệm vụ, đó là việc riêng của họ. Điều này thống nhất với những kết luận của Ủy ban Siler (1933) và Ủy ban Shafer (1972) của Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như báo cáo của LaGuardia (1944), Nghiên cứu Chính phủ Canada (1972), Ủy ban Bang Alaska (1989), Ban cố vấn Nghiên cứu California (1989), tất cả đều cho rằng không nên áp dụng bất kỳ hình phạt nào đối với việc sử dụng cần sa.

Sự không chính xác của xét nghiệm nước tiểu

Xét nghiệm nước tiểu của quân nhân và công nhân nhà máy về việc sử dụng cần sa chỉ chính xác một phần và không cho biết mức độ phê của họ. Chúng chỉ cho bạn biết bạn có hút hay tiếp xúc với khói cần sa hay đã từng sử dụng dầu hạt gai dầu hay bất kỳ thực phẩm nào từ gai dầu trong 30 ngày qua. Cho dù bạn đã hút hay ăn nó trong một giờ trước hay 30 ngày trước – kết quả xét nghiệm đều như nhau: dương tính.

Bác sĩ John P. Morgan đã nói trên Tạp chí High Times vào tháng 2 năm 1989 (và đến 2006 ông vẫn giữ quan điểm như thế), “Những xét nghiệm này còn lâu mới đáng tin cậy”. Tỷ lệ dương tính giả, âm tính giả cao, v.v. là xảy ra một cách phổ biến. và hơn hết là những công ty xét nghiệm này không dựa theo tiêu chuẩn nào ngoài tiêu chuẩn của riêng họ”.

Với 20-50 nanogam (phần tỷ gam) trên mỗi mililit THC Carboxy Acid (chất chuyển hóa của THC), các xét nghiệm này có thể đưa ra kết quả dương tính hoặc âm tính – nhưng kết quả đo được từ phần này của thang đo được coi là vô nghĩa. Đối với những con mắt của người chưa qua đào tạo, bất kỳ dấu hiệu dương tính nào cũng sẽ đưa ra kết quả cảnh báo. Hầu hết những người thực hiện xét nghiệm đều chưa được đào tạo và chứng nhận. Tuy nhiên, quyết định thuê người, sa thải, giam giữ, xét nghiệm lại hay bắt đầu điều trị chứng lạm dụng cần sa được đưa ra ngay lúc đó.

“Tôi tin rằng xu hướng đọc kết quả xét nghiệm EMIT [xét nghiệm nước tiểu cho các chất chuyển hóa THC] dưới giới hạn phát hiện là một trong những lý do quan trọng khiến xét nghiệm này thường không được chấp nhận trong các bài báo cáo đã được xuất bản”, Tiến sĩ Morgan cho biết.

Năm 1985, lần đầu tiên tại Milton, Wisconsin, học sinh trung học được yêu cầu phải thực hiện xét nghiệm nước tiểu hàng tuần để kiểm tra xem chúng có hút cần hay không. Những tổ chức địa phương “Gia đình chống cần sa” đã yêu cầu xét nghiệm này, nhưng không xét nghiệm cho rượu bia, thuốc giảm đau hay các loại thuốc độc hại khác.

Hàng trăm cộng đồng và trường trung học trong cả nước đang chờ đợi kết quả của những thách thức hiến pháp tại Milton vào năm 1988 trước khi thực hiện các chương trình xét nghiệm tương tự tại những trường học trong các quận của chính họ. Do quyết định này có lợi cho Milton, việc thực hiện xét nghiệm đối với những học sinh trung học tham gia hoạt động ngoại khóa đã được áp dụng rộng rãi và tiếp tục trên khắp Hoa Kỳ vào năm 2007.

Chẳng hạn, ở Oregon, việc xét nghiệm đối với các vận động viên trung học đã lan rộng theo yêu cầu của tòa án cho bất kỳ các hoạt động ngoại khóa nào. Các thành viên trong ban nhạc và những thiếu nữ “majorette” – thậm chí là các thành viên trong nhóm tranh luận cần sa – hiện tại cũng có thể bị kiểm tra theo ý muốn tại tất cả các bang ngoại trừ California, nơi mà học sinh trung học, kể từ năm 1996, được bác sĩ khuyến nghị và thừa nhận việc sử dụng cần sa y tế.

(NORML reports, High Times, ABC, NBC, CBS News, and L.A. Times, 1981-1998, Oregonian, October 23, 1989.)

Bóng chày & Babe

Cựu ủy viên Bóng chày Peter V. Ueberroth lần đầu ra lệnh cho tất cả nhân viên vào năm 1985, ngoại trừ các tuyển thủ liên hiệp, đều phải nộp kết quả xét nghiệm nước tiểu này. Từ người chủ cho đến những người bán đậu phộng quanh các sự kiện thể thao cho tới những đứa trẻ trông coi vợt và các dụng cụ bóng chày khác, là điều bắt buộc để được tuyển dụng. Đến năm 1990, nó đã được đưa vào trong tất cả các hợp đồng, bao gồm cả những tuyển thủ bóng chày.

Giờ đây, kể từ tháng 11 năm 1996, một tuyển thủ bóng chày chuyên nghiệp (hay bất kỳ tuyển thủ thể thao nào khác) tại California có thể tận dụng cần sa như một loại thuốc/ dược phẩm và vẫn có thể tiếp tục thi đấu chuyên nghiệp.

Cho dù bạn có hút cần sa cách đây 1 giờ hay 30 ngày trước, thì kết quả xét nghiệm nước tiểu đều như nhau: dương tính.

Ngoài những câu hỏi về quyền tự do dân sự được nêu lên, có vẻ như người ta đã quên rằng Babe Ruth thường xuyên mời các phóng viên đi cùng với anh trong khi anh ấy uống 12 chai bia trước thềm trận đấu, trong khoảng thời gian cấm rượu bia.

Nhiều tổ chức “tán thành luật cấm rượu bia” và thậm chí cả ủy viên liên đoàn khẩn cầu anh ấy hãy nghĩ tới những đứa trẻ thần tượng anh và dừng việc đó lại, nhưng Babe đã từ chối.

Nếu Peter Ueberroth hay những người cộng sự ông tham gia quản lý bóng chày trong thời kỳ cấm, thì “Sultan của Swat” sẽ bị sa thải trong sự hổ thẹn và hàng triệu trẻ em sẽ không được chơi một cách đáng tự hào trong “Babe Ruth Little Leagues”.

Hàng chục triệu người dân Hoa Kỳ ở độ tuổi trung niên chọn sử dụng cần sa như một loại thuốc tự điều trị hay để thư giãn trong thời gian nghỉ giải lao, và do đó, họ có nguy cơ bị phạt hình sự. Hiệu quả công việc nên là tiêu chí để đánh giá đối với tất cả nhân viên, chứ không phải là những lựa chọn lối sống của từng cá nhân.

Babe Ruths trong lĩnh vực thể thao, Henry Fords trong lĩnh vực công nghiệp, Pink Floyds, Picassos và Louis Armstrongs trong lĩnh vực nghệ thuật, và 1/10 người dân Hoa Kỳ đã trở thành tội phạm – và hàng nghìn người thất nghiệp – vì hút cần sa, thậm chí chỉ đơn thuần là sự giải trí trong không gian riêng tư của chính họ.

Sự nghiệp điện ảnh của Robert Mitchum gần như bị hủy hoại bởi vụ bắt giữ những người sử dụng cần sa (xem trang 102). Thẩm phán Liên bang Douglas Ginsburg đang trên đà được bổ nhiệm vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vào năm 1987 được bị tiết lộ là đã từng hút cỏ trong khi còn là một giáo sư tại trường đại học và tên của ông đã bị rút khỏi đề cử. Tuy nhiên, Thẩm phán Tòa án Tối cao dưới thời George Bush, năm 1991, Clarence Thomas thừa nhận rằng ông đã từng hút cần sa tại trường đại học và đây không phải là vấn đề trong sự xác nhận gây tranh cãi của ông.

Chia cắt cộng đồng… & chia rẽ gia đình

Một bảng quảng cáo ở Ventura, California hiển thị: “Help a friend, send him to jail” – tạm dịch: “Giúp một người bạn bằng cách đưa họ vào ngục tù”. Đây là một ví dụ về những chiến thuật truyền bá thông tin đến người khác trong chiến dịch “không khoan nhượng”, được sử dụng nhằm thực thi đạo luật chống lại những tội phạm hút cần sa mà “không có nạn nhân bị hại”.

Dưới đây là một ví dụ khác trên TV: “Nếu bạn biết ai đó phạm tội, bạn có thể kiếm được tới 1000 đô la”. Người tố cáo sẽ được ẩn danh và không bị yêu cầu ra tòa đối chứng”.* Một người đàn ông trong tù nhận được tấm bưu thiếp nói rằng “Người cung cấp thông tin cho chúng tôi đã nhận được $600 vì đã đưa bạn vào đây”. Crimestoppers”.

*(Crimestoppers, Ventura, California)

Kiểm soát & Tịch thu

Ở vùng nông thôn California – nơi mà việc canh tác cần sa được ủng hộ trong toàn cộng đồng, lực lượng vũ trang CAMP được trang bị kỹ càng, đã tiến vào một khu rừng rậm và phát hiện ra những cây cần sa tầm 8 tháng tuổi tươi tốt, cao 15 foot (4,6 m). Chúng bị đốn hạ, chất thành đống và bị tẩm xăng cùng với lốp cao su. Không được lưu hóa, chúng cháy một cách chậm rãi.

Ở một nơi khác, một phi công lái trực thăng bay vòng qua một khu phố, hướng chiếc camera cảm biến nhiệt vào một ngôi nhà. Anh ấy nói một cách đơn giản rằng “Chúng tôi đang tìm kiếm ánh dương trong nhà”.

“Chúng tôi chỉ nhắm đến những mục tiêu cụ thể”, những ngôi nhà mua đèn trồng trọt hay một số dựa vào một số căn cứ hữu hình khác để nghi ngờ phạm tội “sản xuất chất cấm”.

“Nhìn này, có ánh đèn từ những ngôi nhà kia”. Màn hình cảm ứng nhiệt của anh ta cho thấy nhiệt đang bị rò rỉ từ dưới mái hiên của ngôi nhà.

Tiếp đến, họ nhận được lệnh khám xét, chiếm giữ ngôi nhà theo thủ tục tố tụng dân sự và truy tố người dân theo luật hình sự.

(48 Hrs., CBS television, “Marijuana Growing in California,” October 12, 1989.)

Chính sách chống Mỹ & Tống tiền chính trị

Richard Nixon đã ra lệnh cho FBI giám sát một cách trái phép John Lennon 24 tiếng một ngày trong 6 tháng ròng rã vào năm 1971 chỉ vì Lennon đã tổ chức một buổi hòa nhạc tại Michigan để giải thoát cho một sinh viên (John Sinclair) khỏi 5 năm tù giam vì tội sở hữu hai điếu cần sa.

(L.A. Times, August, 1983.)

Các công ty sản xuất thuốc, dầu, giấy, rượu bia muốn cần sa mãi mãi không được hợp pháp hóa, bất kể có xâm phạm quyền của con người hay chúng ta phải ngồi tù bao nhiêu năm để đảm bảo lợi nhuận cho chính họ.

Những chính trị gia theo chủ nghĩa tự do đã bị điều tra, và chúng tôi tin rằng, đã bị uy hiếp để giữ kín miệng về vấn đề nhạy cảm, hay có nguy cơ bị phanh phui một số hành vi thiếu thận trọng trong quá khứ của chính họ hay các thành viên khác trong gia đình – có thể liên quan đến bê bối tình dục hay ma túy.

Cảnh sát, Bí mật & Uy hiếp

Một vài năm trước, Cảnh sát trưởng của Los Angeles khi đó là Daryl Gates (1978–1992) đã ra lệnh giám sát Nghị viên thành phố Zev Yarslovsky, Luật sư thành phố John Van DeKamp và Thị trưởng Tom Bradley, cùng những người khác. Ông ấy đã theo dõi đời sống tình dục riêng tư của họ trong hơn một năm.

“Somebody spoke and I went into a dream” – tác giả của bài hát này – McCartney, người lên tiếng ủng hộ việc hợp pháp hóa cần sa, đã nhiều lần bị bắt giữ và giam cầm 10 ngày trong chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản. Chính phủ đã hủy bỏ chuyến lưu diễn của ông và cấm ông trình diễn ở quốc gia này, khiến ông mất đi hàng triệu đô la. Dựa vào danh tiếng của mình, ông đã tiếp tục lên tiếng bảo vệ những người hút cần sa.

(L.A. Times, August, 1983.)

  1. Edgar Hoover với tư cách là Giám đốc của FBI, đã làm điều này trong 5 năm với Martin Luther King, Jr. và trong tình trạng “ốm yếu” nhất, đã cố tình đẩy nữ diễn viên Jean Seburg tìm đến sự tự sát bằng những bức thư liên bang khủng khiếp và thông tin cung cấp cho các tờ báo lá cải: những lần mang thai và những cuộc hẹn hò riêng tư với người da đen. Trên thực tế, bằng cách sử dụng FBI, Hoover đã quấy rối các mục tiêu đã được lựa chọn trong 20 năm chỉ vì quyền công dân của họ. Cựu Giám đốc FBI và cũng là người giám sát trực tiếp của DEA, William Webster đã trả lời các câu hỏi vào năm 1985 về việc phung phí 50% (500 triệu đô la) số tiền của Cục phòng chống Ma túy Liên bang để đối phó với cần sa theo cách này: “Oh, cần sa là một chất cực kỳ nguy hiểm và bằng chứng sẽ được gửi đến [đề cập đến các nghiên cứu về não và chất chuyển hóa hoàn toàn không có uy tín của Health, Nahas].

Sau đó Webster đã yêu cầu ngân sách nhiều hơn và nhiều quyền hạn hơn để ngăn chặn cần sa. (“Nightwatch,” CBS, January 1, 1985.) Và tất cả những người kế nhiệm của DEA và người đứng đầu của Văn phòng Quốc gia về Chống ma túy (Drug Czar) đều yêu cầu gia tăng ngân sách cho đến tận năm 2007.

Năm 2006, ngân sách của DEA là gần 2,5 tỷ đô la và vẫn đang tăng lên.

Sự sỉ nhục công cộng

Những nghệ sĩ giải trí bị bắt gặp sử dụng cần sa phải chối bay chối biến kiểu “Galileo” để tránh bị đi tù hay giữ lại các hợp đồng truyền hình, chuyển nhượng, hay các hợp đồng hộp đêm, v.v. Một số đã phải lên truyền hình và phản bác cần sa để được ra tù (chẳng hạn như Paul và Mary, David Crosby, và nữ diễn viên Linda Carter). Tòa án và những nhà lập pháp của chúng ta đã bán rẻ Tuyên ngôn “đảm bảo” Nhân quyền của chúng ta để duy trì một thế giới không có cần sa.

“Đừng nghi ngờ hàng xóm của bạn, hãy đưa họ vào tròng”. Bất kỳ tin đồn nào đều sẽ được ghi nhận. Điều đó khiến chúng tôi nổi loạn như những đứa trẻ – Bóng ma ám ảnh của Đức Quốc xã và Quân đội yêu cầu tất cả mọi người theo dõi và tố giác lẫn nhau; Cảnh sát ngầm của Stalin bắt người dân đi trong đêm để tiêm thuốc gây mê và điều tra thông tin; một chính phủ truyền bá những lời dối trá và tạo ra một nhà nước cảnh sát – giờ đây đã trở thành hiện thực ngày thường của người dân Hoa Kỳ.

Và những ai dám chống đối lại làn sóng đàn áp sẽ phải đối mặt với viễn cảnh tài chính điêu tàn.

Tịch thu: Luật & Trật tự phong kiến

Khi chính phủ liên bang tịch thu hàng loạt xe ô tô, tàu thuyền, tiền bạc, bất động sản và các tài sản cá nhân khác, các thủ tục tố tụng sẽ được thực hiện dựa trên các luật có nguồn gốc từ sự mê tín thời Trung Cổ.

Thông luật Anh quốc thời Trung Cổ quy định về việc tịch thu bất kỳ thứ gì có thể gây ra cái chết cho một người. Được biết đến như “vật bị tước đoạt”, chẳng hạn như một loại vũ khí hay kéo xe bò, bị nhân cách hóa và bị tuyên bố là vật ô uế hay xấu xa, và bị tước đoạt cho nhà Vua.

Những thủ tục tịch thu tài sản hiện nay (đối với đồ vật hơn là con người) là những vụ kiện tụng dân sự đối với chính tài sản của họ. Dựa trên sự tương tự như “vật bị tước đoạt”, một sự “hư cấu nhân cách hóa” hợp pháp, tuyên bố tài sản là bị cáo. Nó bị coi là có tội và bị lên án, như thể nó mang một nhân cách – và việc phạm tội hay vô tội của chủ sở hữu là không có liên quan.

Bằng cách gắn mác dân sự cho những thủ tục tố tụng tịch thu, chính phủ đã bỏ qua gần như tất cả các quyền bảo vệ mà Hiến pháp đề ra dành cho người dân. Không có sự đảm bảo về quyền nào có luật sư biện hộ trong Tu chính án thứ 6. Sự vô tội chỉ được chứng minh cho đến khi phán quyết có tội bị đảo ngược. Mỗi một vi phạm quyền hiến pháp được sử dụng sau đó để làm cơ sở cho việc xóa bỏ đi một quyền khác.

Việc vi phạm tiêu chuẩn của quy trình tố tụng “vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội” trong Tu chính án thứ 5 được sử dụng để hủy bỏ lệnh cấm bất trùng khả tố. Ngay cả việc miễn tố cho các cáo buộc hình sự mà việc tịch thu dựa vào cũng không ngăn cản được việc xét xử lại các tình tiết tương tự, bởi vì, mặc dù chính phủ không thể chứng minh là ai đó phạm tội, nhưng tại phiên tòa thứ hai, bị cáo buộc phải cung cấp bằng chứng vô tội của mình.

Tòa án Tối cao cho rằng việc tịch thu tài sản từ một người hoàn toàn vô tội và không sử dụng cẩu thả tài sản của mình là đúng với hiến pháp. Những tòa án cấp dưới chấp nhận lập luận của các công tố viên rằng nếu có thể chấp nhận việc tịch thu tài sản, thì các biện pháp bảo vệ hợp hiến có thể không được áp dụng cho bất kỳ ai phạm tội dù chỉ là một tội nhẹ về ma túy.

Không giống với các vụ kiện tụng dân sự giữa các cá nhân, chính phủ có quyền miễn nhiễm với các vụ tố tụng ngược. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực vô hạn của mình để liên tục hối thúc bồi thẩm viên rằng bị cáo không đưa ra được chứng cứ có lợi cho mình.

Luật lệ tịch thu do Vương Quyền Anh áp đặt đã khiến cho những nhà sáng lập quốc gia của chúng tôi ngăn cấm lệnh tước quyền công dân và và tịch thu tài sản trong điều đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ. Nội dung chính của Hiến pháp cũng cấm việc tịch thu tài sản đối với tội phản quốc. Quốc hội đầu tiên đã thông qua quy chế, và vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay (luật) nêu rõ rằng “Không có sự tuyên án hay phán quyết nào có thể tham nhũng trên xương máu hay tài sản bị tịch thu”. Tuy nhiên, những người Hoa Kỳ sơ khai đã thực hiện các thủ tục chiếm giữ theo luật Hải quân và Hàng hải để bắt giữ tàu thuyền của kẻ thù trên biển và thực thi nghĩa vụ nộp thuế hải quan.

Mãi cho đến khi cuộc Nội chiến bùng nổ, các thủ tục hải quan này mới được thay đổi một cách hoàn toàn. Đạo luật Tịch thu ngày 17 tháng 7 năm 1862 tuyên bố tất cả tài sản thuộc về các sĩ quan (thuộc phe ly khai với Hoa Kỳ gây ra cuộc nội chiến) hay những người viện trợ cho phe nổi loạn có thể bị thu hồi lại. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ cho rằng nếu đây là hành động thực thi Đạo luật War Powers của Chính phủ và chỉ được áp dụng đối với kẻ thù, thì nó được cho phép theo hiến pháp để đảm bảo việc chấm dứt chiến tranh một cách nhanh chóng.

Hiện nay, niềm khao khát của “Cuộc chiến chống ma túy” đã khiến Quốc hội một lần nữa sử dụng các thủ tục tố tụng tịch thu tài sản để đưa ra hình phạt mà không phạm tới các biện pháp bảo vệ theo Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền. Vickie Linker – người có chồng bị phạt 2 năm tù giam vì tội sử dụng cần sa, nói rằng: “Chúng ta phải cứu lấy Hiến pháp của chính mình. Chúng tôi nắm giữ sự thật”.

Sự đánh bẫy, Sự không khoan nhượng & Thiếu hiểu biết

Khi dường như không đủ lượng người phạm tội, DEA và các trụ sở cảnh sát thường sử dụng các biện pháp dụ dỗ để khiến những người không bị tình nghi hay phạm tội cũng trở thành tội phạm. Các đặc vụ của Chính phủ bị bắt gặp hết lần này đến lần khác có hành động khiêu khích và tham gia buôn lậu và buôn bán ma túy.*

*High Witness News department, High Times magazine; “Inside the DEA,” Dale Geiringer, Reason magazine, December 1986; Christic Institute “La Penca” lawsuit; DeLorean cocaine trial testimony and verdict of innocence; Playboy magazine, etc.

Nỗi sợ hãi ngày càng gia tăng của công chúng đã khiến cho ngân sách của “Cuộc chiến chống ma túy” tăng lên (một cách nói để chỉ cuộc chiến chống lại những người lựa chọn sử dụng một số chất cấm) và sức ép chính trị cho phép sử dụng những phương thức trái với hiến pháp để thực thi luật pháp một cách hà khắc hơn.

Trong một phát biểu vào tháng 10 năm 1989, tại thành phố Louisville, KY, kẻ cuồng loạn chống Ma túy, một kẻ nghiện rượu và thuốc lá là William Bennett* đã nói với cảnh sát trưởng của tiểu bang  rằng hút cần sa khiến người ta trở nên ngu muội.

*Đây cũng chính là người đã giúp xây dựng khoản tài trợ trị giá 2,9 triệu đô la cho Vệ binh Quốc gia Texas để các đặc vụ ngụy trang thành xương rồng để thực hiện tuần tra biên giới Mexico. Chính những đặc vụ trong đơn vị Vệ binh Quốc gia này sau đó đã bắn chết một người chăn cừu Mexico gốc Mỹ trẻ tuổi khi cho rằng anh ấy là một người nhập cư bất hợp pháp.

Ông ấy đã không đưa ra bất kỳ chứng cứ nào, và mặc dù ma túy đá không phải là một vấn đề to tát tại Kentucky, nhưng tuyên bố rằng cần có nhiều ngân sách hơn cho cuộc chiến chống ma túy vì mối nguy hiểm mới từ cần sa – là một sự ngu dốt!

Bennett lấy tinh thần bằng một ly rượu gin tonic vào một buổi sáng muộn vào tháng 12 năm 1989, khi ông cố truyền bá thông điệp tương tự về chống cần sa cho các đại diện của ngành công nghiệp truyền thông và điện ảnh tại Beverly Hills, CA.

(High Times, February, 1990. See “Booze Brunch” in Appendix.)

PDFA: Những lời nói dối bị che đậy sau bộ mặt hào nhoáng

Gần đây là sự xuất hiện của tổ chức PDFA (Partnership for a Drug Free America, hay tổ chức Đồng hành cho một nước Mỹ không Ma túy) trên các phương tiện truyền thông. PDFA, với sự tài trợ chủ yếu từ các công ty quảng cáo và truyền thông, cung cấp (miễn phí trên tất cả các phương tiện truyền thông và báo chí) những dịch vụ quảng cáo công cộng bắt mắt chủ yếu để chống lại cần sa.

Ngoài việc tung ra những câu chuyện vô nghĩa, họ còn làm những quảng cáo chẳng hạn như có hình hiển thị một chiếc chảo (“Đây là ma túy”) mà trên đó có một quả trứng đang rán (“Đây là não của bạn. Hiểu chứ?”). PDFA đã nói dối một cách trắng trợn trên các quảng cáo của họ.

Trong một quảng cáo khác, những mảnh tàu tỏa vỡ vụn được hiển thị. Giờ đây, tất cả mọi người đều đồng ý rằng không một ai nên cố gắng điều khiển tàu hỏa khi đang sử dụng cần sa. Rồi một giọng nói vang lên rằng bất kỳ ai nói với bạn rằng “cần sa là vô hại” đều đang nói dối, bởi vì vợ của anh ấy đã chết trong một vụ tai nạn tàu hỏa do cần sa gây ra. Điều này mâu thuẫn với lời khai trực tiếp của một kỹ sư chịu trách nhiệm về thảm họa này rằng: “tai nạn này không phải do cần sa gây nên”. Và họ cố tình phớt lờ việc anh ấy thừa nhận có uống rượu, ăn uống, xem tivi, nói chung là không chú tâm vào công việc của mình để rồi làm kẹt thiết bị an toàn của tàu trước khi tai nạn xảy ra. Tuy nhiên, trong nhiều năm, PDFA đã mô tả vụ tai nạn tàu hỏa này là do cần sa, mặc dù người kỹ sư này đã say rượu một cách hợp pháp và đã bị tước mất giấy phép lái xe ô tô sáu lần, bao gồm cả 1 lần vĩnh viễn vì tội lái xe trong tình trạng say xỉn vào ba năm trước đó.

Trong một quảng cáo khác, hình ảnh buồn bã của một cặp vợ chồng nghĩ rằng họ không thể con vì người chồng thường xuyên hút cần sa. Đây là một sự mâu thuẫn trực tiếp đến cả những bằng chứng lâm sàng được nghiên cứu về cần sa trong gần một thế kỷ cùng với kinh nghiệm cá nhân của hàng triệu người dân Hoa Kỳ đã từng hút cần sa và sinh ra những đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh.

Và trong một quảng cáo khác nữa, nhóm này đã quá ngạo mạn trong việc đưa ra những lời nói dối nên cuối cùng đã gặp rắc rối. Quảng cáo hiển thị hai điện não đồ và được cho là điện não đồ của một đứa bé 14 tuổi có “sử dụng cần sa”.

Như bị xúc phạm, Nhà nghiên cứu – Tiến sĩ Donald Blum từ Trung tâm Nghiên cứu Thần kinh học tại UCLA đã giận dữ nói với kênh truyền hình KABC-TV (Los Angeles) vào ngày 2 tháng 11 năm 1989 rằng thực tế đó là điện não đồ của một người đang ngủ sâu – hoặc đang bị hôn mê.

Ông ấy nói rằng ông ấy và những nhà nghiên cứu khác trước đây đã từng phàn nàn với PDFA và nói thêm rằng điện não đồ của người sử dụng cần sa rất khác biệt và có tính đặc trưng riêng, nhờ vào nhiều năm nghiên cứu tác động của cần sa lên não bộ.

Thậm chí sau những lời bác bỏ công khai này, kênh KABC-TV và PDFA mất nhiều tuần để giải quyết vấn đề và chưa hề có lời xin lỗi hay động thái rút lại những hành vi dối trá này. Mặc dù đã bị tòa án yêu cầu chấm dứt, nhưng PDFA vẫn hiển thị quảng cáo này trên hàng trăm kênh truyền hình trên khắp Hoa Kỳ trong một thập kỷ qua.*

*Các nhóm bao gồm American Hemp Council, the Family Council on Drug Awareness and Help End Marijuana Prohibition (HEMP) đã quyết định gia tăng sức ép của họ để vạch trần những lời nói dối của PDFA và loại bỏ những lời xuyên tạc của họ trên sóng truyền hình hoặc tốt hơn hết là thay thế chúng bằng những thông tin chính xác về việc sử dụng gai dầu trong y tế, xã hội và thương mại.

Có lẽ một quảng cáo thích hợp hơn để PDFA truyền bá và các kênh truyền thông sẽ chạy hiển thị là một cái chảo (“Đây là PDFA”) và một quả trứng rán (“Còn đây là sự thật”).

DARE: Cảnh sát tuyên truyền

Chương trình DARE (Drug Abuse Resistance Education, hay Giáo dục về lạm dụng Ma túy), một chương trình tầm cỡ quốc gia được khởi xướng vào năm 1983 bởi Cảnh sát trưởng của Los Angeles – Daryl Gates, đã trở thành một công cụ để tẩy não công chúng về cây gai dầu.

Thông thường, phát ngôn viên của sở cảnh sát sẽ thực hiện một khóa học kéo dài 17 tuần tại một trường tiểu học ở địa phương để thúc đẩy hành vi cá nhân mang tính trách nhiệm của những người trẻ tuổi trong khi cung cấp cho họ những thông tin xuyên tạc và những lời nói dối trắng trợn về cần sa.

Hầu hết các khóa học không liên quan đến vấn đề ma túy, mà là đưa ra sự lựa chọn về cách hành động khi có cơ hội và gây áp lực đối với các hành vi uống rượu bia, ăn cắp, nói dối, vi phạm pháp luật, v.v. Tuy nhiên, bản chất tốt đẹp của chương trình để hướng tới những hành động tốt đẹp đã bị phá hoại bởi sự dối trá và lời nói bóng gió về tác động của cần sa và người sử dụng chúng.*

*Trong một cuộc phỏng vấn, người hướng dẫn chính của chương trình DARE tại bang L.A., Sgt. Domagalski, đã cung cấp thông tin về chương trình và đưa ra những tuyên bố vô căn cứ – và không đúng sự thật – khi nói rằng cần sa dẫn đến heroin, “Chàng trai ở bên kia đường hay nhà bên đã và đang hút cần sa trong nhiều năm và dường như không có tác động xấu nào đối với anh ấy cả. Nhưng thật sự thì có thứ gì đó không đúng, mặc dù nó có thể không được rõ ràng”. Và nữa: “Những người ở thập niên 60 từng hút cần sa và nghĩ rằng không có gì sai trái cả. Bây giờ thì cần sa bị phun thuốc – và họ cũng không quan tâm đến việc chúng bị phun thuốc gì nữa. Nhưng những bậc phụ huynh lại không biết điều này. Họ có tất cả thông tin của chúng vào những năm 60 và họ không quan tâm đến thông tin mới mẻ này.”

(Downtown News, July 10, 1989. Xem chương 15, “Debunking” for the facts on his “new information.”)

Vào năm 2007, DARE vẫn còn có ý định tuyên truyền những lời nói dối này cho con em chúng ta và đe dọa bất kỳ cộng động nào dám yêu cầu DARE ngừng hay chấm dứt hoạt động ở những trường học thuộc quận của họ. Tuy nhiên, vào năm 1977, thành phố Oakland, California đã rút khỏi chương trình DARE và cho đến nay không phải chịu hậu quả gì.

Là thế này, theo các giáo viên tham gia buổi học,* viên cảnh sát sẽ nhấn mạnh “Tôi không thể nói với bạn rằng hút cần sa sẽ gây tổn thương đến não bộ, bởi vì bạn biết đấy, những người hút cần trông có vẻ khá bình thường. Nhưng tổn thương não bộ chính là những gì mà nó gây ra. Chỉ là bạn chưa thể thấy điều đó mà thôi”.

*Một số giáo viên mà chúng tôi trò chuyện cảm thấy không thoải mái khi chính họ biết kết quả thực tế là thế nào, hoặc đã từng sử dụng cần sa và biết ảnh hưởng của nó, nhưng không thể công khai nói lên trường hợp của họ vì sợ sẽ bị xét nghiệm nước tiểu hoặc bị sa thải.

Không có bằng chứng hỗ trợ nào được đưa ra sau đó, và các tài liệu được gửi về nhà cho những đứa trẻ (và có khả năng được các bậc phụ huynh có hiểu biết về cần sa xem qua) có xu hướng cân bằng hơn, mặc dù nó cũng đề cập tới “những nghiên cứu” bí ẩn cho thấy sự nguy hiểm của cần sa.

Nhưng xuyên suốt khóa học, viên cảnh sát đều đề cập đến những tổn thương phổi, tổn thương não bộ, vô sinh và những tuyên bố vô căn cứ khác về ảnh hưởng và tác hại chết người của cần sa.

Hay họ báo cáo các nghiên cứu về nguy cơ tim-phổi của việc sử dụng chất cocaine, sau đó đề cập đến việc hút cần sa – không có gì liên quan ngoại trừ ngữ cảnh. Hay viên cảnh sát “có thiện chí” kể về những giai thoại của những người mà anh ta biết “đã bắt đầu” sử dụng cần sa và cuối cùng đã hủy hoại cuộc đời họ bằng ma túy dạng nặng, phạm tội và suy đồi; sau đó trộn lẫn cần sa với những loại ma túy nguy hiểm và mô tả cách thức các thanh niên thiếu niên hoặc cảnh sát viên bị giết chết bởi những tên tội phạm tuyệt vọng, nghiện ma túy này.

Sau đó viên cảnh sát khuyến khích các học sinh “giúp đỡ” bạn bè và những thành viên trong gia đình đang sử dụng cần sa bằng cách trở thành người cung cấp thông tin cho cảnh sát. Những lời nói dối gián tiếp bóng gió và mang đầy ngụ ý này được đưa được ra một cách có tính toán nhằm để lại ấn tượng mạnh mẽ và hằn sâu trong tiềm thức mà không dựa vào bất kỳ nghiên cứu nào hay các nguồn thông tin khách quan khác – chỉ là một hình ảnh không rõ ràng và kéo dài hằn trong tâm trí.

Điều khiến cho chương trình DARE trở nên đặc biệt nguy hiểm là nó cung cấp một số thông tin chính xác và có giá trị thực tiễn cho giới trẻ, nhưng lại làm giảm đi sự hiệu quả của chính chương trình này và văn khố quốc gia bằng cách sử dụng những chiến thuật thiếu trách nhiệm và bẩn thỉu này.

Nếu những người đứng đầu của DARE muốn những học sinh này có hành vi có trách nhiệm, thì họ cũng phải hành động một cách có trách nhiệm. Nếu họ có những thông tin về cần sa bị che giấu đối với công chúng, hãy để họ xem chúng. Nhưng, tính đến hiện nay, chưa có tổ chức DARE nào dám đứng ra tranh luận với bất kỳ nhóm vận động hợp pháp hóa cần sa* cũng như đưa tài liệu của họ vào trong chương trình này.

*Kể từ năm 1989, Tổ chức Help End Marijuana Prohibition (HEMP) và Business Alliance for Commerce in Hemp (BACH) đã đưa ra những thách thức dài hạn để tranh luận một cách công khai với bất kỳ đại diện nào của tổ chức DARE tại khu vực Los Angeles. Những nhóm này cũng đã đề nghị cung cấp tư liệu miễn phí và chính xác về cần sa cho DARE sử dụng vào tháng 7 năm 1998 nhưng không nhận được phản hồi.

Truyền thông vô cảm

Mặc dù các phương tiện truyền thông đã đưa ra lý do và thực tế vào cuộc tranh luận về cần sa một cách mạnh mẽ vào những năm 1960 và 1970, nhưng phương tiện truyền thông quốc gia hầu như không phân biệt được lệnh cấm cần sa với “cuộc chiến chống ma túy” điên loạn.

Các nhà hoạt động vì cây gai dầu đã bị phớt lờ. Các sự kiện của họ bị kiểm duyệt và loại khỏi danh sách – thậm chí ngay cả các quảng cáo về sự kiện (có trả tiền) hay các sản phẩm hợp pháp không phải dạng hút từ gai dầu cũng đã bị các kênh tin tức từ chối. Điều gì đã xảy ra với việc kiểm chứng thực tế?

Thay vì đóng vai trò là cơ quan giám sát của chính phủ và người giữ lòng tin của công chúng, các nhóm doanh nghiệp này tự xem mình là công cụ tạo có lợi để tạo ra “sự đồng thuận” về chính sách quốc gia.

Theo các nhóm như Fairness and Accuracy In Reporting (FAIR) và các nhà nghiên cứu Ben Bakdikian và Michael Parenti, các nhóm doanh nghiệp này xác định bảo vệ “lợi ích quốc gia” – thường được hiểu là những lợi ích về tài chính và chương trình nghị sự về chính trị của riêng họ. Nên nhớ rằng nhiều nhà xuất bản lớn nhất quốc gia có cổ phần trực tiếp trong các công ty sản xuất giấy, dược phẩm và hóa dầu, v.v. là một trong những công ty quảng cáo chủ chốt trong giới truyền thông.

Trong một bài báo được đăng trên Tạp chí L.A. Times vào ngày 7 tháng 5 năm 1989 với tiêu đề “Nothing Works” (và được lặp lại trên hàng trăm tạp chí, bao gồm cả Time và Newsweek), Stanley Meiseler than vãn về vấn đề mà các trường học phải đối mặt trong các chương trình giáo dục về ma túy và vô tình lộ ra những giả định và thành kiến của các phương tiện truyền thông này:

“Các nhà phê bình tin rằng một số chương trình giáo dục đã bị tê liệt do phóng đại thái quá sự nguy hiểm của ma túy. Các hiệu trưởng và giáo viên, bị các cơ quan thành phố theo dõi một cách chặt chẽ, cảm thấy bị áp lực khi không dạy học sinh rằng cần sa mặc dù có hại,* nhưng ít gây nghiện hơn thuốc lá…

Việc không thừa nhận những thông tin đó có thể khiến cho các chương trình của trường học mất đi uy tín. Nhưng nhiều chương trình mang tính trung thực hơn có thể còn có hại hơn (được nhấn mạnh thêm).

Tác hại mà Meiseler dự đoán là sự gia tăng về việc tiêu thụ cần sa khi mọi người biết được những lợi ích về sức khỏe và việc thiếu đi bằng chứng chứng minh những rủi ro về thể chất và tâm lý mà nó mang lại. Nhiều người nói rằng họ thích cần sa (dường như không cần quảng cáo) hơn rượu bia và thuốc lá, những thứ mà đã được chi rất nhiều tiền cho việc quảng cáo.

*Không có nghiên cứu cụ thể nào cho thấy tác hại của cần sa được trích dẫn trong bài báo. Trên thực tế, cần sa gần như không được đề cập tới ngoại trừ tài liệu tham khảo này và có nhiều doanh nghiệp báo cáo một số thành công trong việc “phá vỡ sự thuộc vào cần sa và rượu bia dạng nhẹ”.

Sự bất công vẫn tiếp diễn

“Hình phạt đối với việc sở hữu ma túy không được gây tổn hại nhiều hơn so với việc sử dụng ma túy”.

—Tổng Thống Jimmy Carter, Ngày 2 tháng 8 năm 1977.

Tổng thống Jimmy Carter đã phát biểu trước Quốc hội về một loại tác hại khác do lệnh cấm cần sa và ma túy gây ra, vào ngày 2 tháng 8 năm 1977 rằng “Hình phạt đối với việc sở hữu ma túy không được gây tổn hại nhiều hơn so với việc sử dụng ma túy”.

“Do đó, tôi ủng hộ việc sửa đổi luật pháp liên bang để loại bỏ tất cả hình phạt hình sự đối với việc sở hữu một ounce (~28,3 g) cần sa”.

Tuy nhiên, những nỗ lực của ông để áp dụng một chút lý luận này vào Đạo luật về cần sa của Hoa Kỳ cách đây 30 năm đã bị chệch hướng bởi một Quốc hội rất cứng rắn đối với tội phạm, bất kể hành động đó có là hành vi phạm tội hay gây ra bất kỳ mối đe dọa thực sự nào đối với xã hội hay không, và bất kể có bao nhiêu người bị tổn hại trong quá trình này.

Và thái độ không khoan nhượng và đàn áp này đã leo thang vào những năm sau nhiệm kỳ của Carter.

Đến năm 1990, khoảng 30 tiểu bang đã thành lập nên các trại “Tống giam đặc biệt” (Special Alternative Incarceration – SAI) hay còn gọi là các “trại huấn luyện”, nơi những tội phạm sử dụng ma túy lần đầu tiên bị giam giữ trong một nơi giống như trại huấn luyện, bị hành hạ bằng lời nói và bào mòn tâm lý để phá vỡ thái độ bất đồng chính kiến của họ đối với việc sử dụng ma túy. Giờ đây, vào năm 1998, có 42 tiểu bang có các trại giam giữ đặc biệt để thực hiện những chương trình tương tự.

Các tù nhân được xử lý với sự chính xác của robot và những người không tuân theo quy định sẽ bị giam giữ tại nhà tù của tiểu bang. Hầu hết những người phạm tội trẻ tuổi này đều vì cần sa. Thậm chí nhiều tiểu bang đang cân nhắc triển khai các chương trình tương tự.*

* Tạp Chí In These Times, “Gulag for drug users,” ngày 20 tháng 12, năm 1989, trang 4.

Cái cớ nào để đã được sử dụng để hợp thức hóa cho chính sách chống Mỹ này? Một số ít báo cáo và nghiên cứu chính thức của Chính phủ được DEA, các chính trị gia và truyền thông tích cực quảng bá để chỉ ra rằng cần sa thực sự “gây hại đến một cá nhân”.

Tiếp đến, chúng ta sẽ xem qua một số nghiên cứu tai tiếng này…

 

Chương 15 – CÂU CHUYỆN CHÍNH THỨC: PHƠI BÀY “KHOA HỌC CỐNG RÃNH”

Sau 15 ngày tiếp nhận chứng thực và hơn một năm thảo luận pháp lý, thẩm phán luật hành chính Francis L. Young đã chính thức thúc giục DEA cho phép bác sĩ kê đơn thuốc cần sa. Trong một phán quyết vào tháng 9 năm 1988, ông đã tuyên bố: “Bằng chứng trong hồ sơ này rõ ràng chỉ ra rằng cần sa đã được công nhận có hiệu quả giảm nhẹ sự thống khổ của một số lượng lớn những người mắc bệnh rất nặng, và hiệu quả đó được phát huy một cách an toàn dưới sự giám sát y tế… Sẽ thật vô lý, độc đoán và tùy hứng nếu DEA tiếp tục ngăn cản họ tiếp cận với những lợi ích của hợp chất này khi đã có những bằng chứng rõ ràng trong hồ sơ này. Xét nghiêm túc từ góc độ y tế, cần sa an toàn hơn nhiều so với nhiều loại thực phẩm chúng ta thường sử dụng… Cần sa ở dạng tự nhiên là một trong những hoạt chất trị liệu an toàn nhất mà con người từng biết đến”.

Thế nhưng, cựu Giám đốc DEA John Lawn, người kế vị ông ta là Robert Bonner và Giám đốc DEA đương nhiệm Constantine – đều không phải bác sĩ! – đã từ chối tuân thủ và tiếp tục tùy ý tước đoạt quyền tiếp cận cần sa y tế của người dân.

Lãng phí phời gian, Lãng phí sinh mạng

Hơn 100 năm đã trôi qua kể từ khi nghiên cứu về những người hút hashish tại Ấn Độ trong thời Raj thuộc Anh năm 1894 đã cho biết rằng hoạt động sử dụng cần sa là vô hại và thậm chí có tác dụng tốt. Rất nhiều nghiên cứu về sau cũng đồng tình, nổi bật nhất trong số đó là các nghiên cứu của Ủy ban Siler, Ủy ban LaGuardia, Ủy ban Shafer do Nixon chỉ định, Ủy ban Le Dain của Cannada và Hội đồng Cố vấn Nghiên cứu California.

Trong quãng thời gian đó, các tổng thống Hoa Kỳ cũng đã ngợi ca gai dầu, USDA đã thu thập được những khối lượng lớn dữ liệu cho thấy giá trị của gai dầu từ góc độ một tài nguyên tự nhiên và vào năm 1942, chính quyền của tổng thống Roosevelt còn thực hiện bộ phim Hemp for Victory (Gai dầu vì chiến thắng) để vinh danh những người nông dân yêu nước đang canh tác gai dầu. Trong cùng năm, nước Đức cũng xuất bản The Humorous Hemp Primer [Nguyên bản tiếng Đức: Die Lustige Hanffibel. Tạm dịch: Dẫn nhập vui nhộn về gai dầu] – một sách hướng dẫn theo thể văn vần có hình minh họa để tán tụng những phẩm chất của cây gai dầu.

Thế nhưng ngay cả việc sử dụng gai dầu vì mục đích nhân đạo là làm thuốc trị bệnh hiện nay cũng bị từ chối. Khi được hỏi vào cuối năm 1989 về việc DEA đã không thi hành phán quyết của ông như được trích dẫn ở đoạn trên, Thẩm phán Young trả lời rằng Giám đốc John Lawn khi đó đã được cho chuẩn bị thời gian để tuân thủ.

Hơn một năm sau quyết định đó, Lawn đã chính thức từ chối xếp loại lại cần sa, tiếp tục xếp nó vào các loại chất ma túy “nguy hiểm” thuộc Danh mục I, nghĩa là thậm chí còn không được sử dụng làm thuốc trị bệnh.

Kịch liệt phản đối chính sách gây nên sự đau khổ không đáng có này đối với những người dân Mỹ không biết trông cậy vào đâu, Tổ chức Quốc gia về Cải cách Luật Cần sa (NORML) và Hội đồng Gia đình về Nhận thức Ma túy đã nhanh chóng đòi hỏi Lawn từ chức. Những người kế nhiệm của ông ta, Bonner và hiện nay là Constantine, đều giữ nguyên chính sách đó.

Thói đạo đức giả nào cho phép các công chức cười nhạo những dữ kiện thực tế và phủ nhận sự thật? Họ làm thế nào để lý giải cho những sai trái ghê gớm của bản thân?

Làm thế nào ư? Họ dựng nên những chuyên gia của riêng họ!

Lối nói nước đôi của chính quyền

Từ năm 1976, chính quyền liên bang Hoa Kỳ (như NIDA, NIH, DEA* và Cơ quan Action), các nhóm được cảnh sát bảo trợ (như D.A.R.E*) và các nhóm lợi ích đặc biệt (như PDFA*) đã tuyên bố trước công chúng, báo chí và các nhóm phụ huynh rằng họ có “bằng chứng tuyệt đối” về những tác dụng tiêu cực kinh hoàng của việc hút cần sa.

* Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy (NIDA), Viện Y tế Quốc gia (NIH), Lực lượng Chống Ma túy (DEA), Giáo dục Chống Lạm dụng Ma túy (D.A.R.E), Đối tác vì một Hoa Kỳ không Ma túy (PDFA). Tất cả những nhà nghiên cứu về sau đều đánh giá các phát hiện về cần sa của Heath là vô giá trị, bởi vì ngộ độc cacbon monoxit và các yếu tố khác đã hoàn toàn bị bỏ qua.

Khi các nghiên cứu được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ trước năm 1976 chỉ ra rằng cần sa vô hại hay cần sa có tác dụng tốt, phương pháp luận của mỗi nghiên cứu đều được trình bày chi tiết trong các báo cáo; ví dụ: hãy đọc The Therapeutic Potential of Marijuana (1976) [Tiềm năng Trị liệu của Cần sa] và bạn sẽ thấy chính xác phương pháp luận của một nghiên cứu y học là gì.

Tuy nhiên, khi các quan chức chính phủ của chúng ta chủ tâm tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cần sa theo hướng tiêu cực, hết lần này đến lần khác Tạp chí Playboy, NORML, Tạp chí High Times, v.v. đã phải khởi kiện theo Đạo luật Tự do Thông tin để tìm ra phương pháp phòng thí nghiệm mà các “cuộc thí nghiệm” này thực sự đã áp dụng.

Điều họ tìm được thật kinh hoàng.

Nghiên cứu Tulane/Tiến sĩ Heath, năm 1974

Sự cường điệu: Tổn thương não & Những con khỉ chết

Năm 1974, Thống đốc bang California khi đó là Ronald Reagan đã được hỏi về vấn đề phi hình sự hóa cần sa.

Sau khi đưa ra nghiên cứu Heath/Đại học Tulane, chính khách được gọi là “Nhà truyền đạt vĩ đại” này đã tuyên bố: “Các nguồn khoa học đáng tin cậy nhất nói rằng tổn thương não vĩnh viễn là một trong những kết quả tất yếu của việc sử dụng ma túy”. (L.A. Times)

Báo cáo của Tiến sĩ Heath đã kết luận rằng những con khỉ vàng, hút lượng cần sa chỉ tương đương 30 điếu mỗi ngày, đã bắt đầu suy mòn và chết sau 90 ngày.

Và kể từ đó, những tế bào não chết được tìm thấy trong những con khỉ bị ép hút cần sa đã được rêu rao hết mức nhằm gieo rắc sợ hãi trong các tờ rơi liên bang và các tài liệu tuyên truyền chống cần sa do chính phủ tài trợ.

Thượng nghị sĩ Eastland của bang Mississippi đã dùng đến nghiên cứu này trong mấy năm giữa thập kỷ 70 để khiến các nhà lập pháp thấy ghê sợ và ngừng ủng hộ những dự luật phi hình sự hóa của NORML tại Quốc hội, hầu hết trong số đó nhận được sự bảo trợ của Thượng nghị sĩ quá cố Senator Jacob Javitts của bang New York.

Các báo cáo của nghiên cứu này cũng đã được những người làm việc trong hệ thống cai nghiện ma túy phát tán, góp phần vào sự lý giải dựa trên những nghiên cứu được cho là mang tính khoa học của họ về mong muốn giúp các thanh thiếu niên thoát khỏi cần sa. Nội dung này được sử dụng để gây khiếp sợ cho các nhóm phụ huynh, các tổ chức giáo hội, v.v. – những người sẽ tiếp tục phát tán sâu rộng hơn nữa những gì họ đã được nghe.

Heath giết những con khỉ đang ngắc ngoải, mở não chúng, đếm các tế bào não chết, và kế đến là bắt những con khỉ không hút cần sa trong nhóm đối chứng, giết nốt chúng, và đếm các tế bào não của chúng. Những con khỉ hút cần sa có số lượng tế bào não chết rất lớn so với những con khỉ “tỉnh táo”.

Tuyên bố của Ronald Reagan có lẽ dựa trên thực tế rằng việc hút cần sa là khác biệt duy nhất trong hai nhóm khỉ thí nghiệm. Có thể Reagan đã tin rằng nghiên cứu liên bang này là thật và chính xác. Có thể ông ta đã có những động cơ khác.

Bất kể lý do của họ là gì, đó là điều đã được chính quyền đã làm rùm beng lên với báo chí và Hội Phụ huynh-Giáo viên – những người hoàn toàn tin tưởng chính quyền.

Năm 1980, sau sáu năm yêu cầu và kiện chính quyền, cuối cùng Tạp chí Playboy và NORML cũng nhận được bản hạch toán chính xác về những quy trình nghiên cứu được tiến hành trong báo cáo tai tiếng này:

Khi NORML/Playboy thuê các nhà nghiên cứu để kiểm tra các kết quả nghiên cứu bằng phương pháp luận thực sự, họ đã bật cười.

Thực tế: Những con vật trong nghiên cứu bị gây ngạt!

Như được đăng trên Tạp chí Playboy, phương pháp luận trong nghiên cứu quái đản của Heath bao gồm việc dùng dây đai để thắt cố định những con khỉ vàng vào một chiếc ghế tựa và bơm cho chúng một lượng tương đương 63 điếu cần sa Colombia trong “5 phút, qua mặt nạ phòng độc”, không mất đi chút khói nào. Playboy phát hiện rằng Heath đã cho những con khỉ mỗi ngày hút hết 63 điếu cần sa sau 5 phút trong khoảng thời gian vẻn vẹn 3 tháng thay vì cho chúng hút 30 điếu mỗi ngày trong thời gian một năm như ban đầu ông ta báo cáo. Thì ra Heath đã làm vậy để tránh phải trả tiền công mỗi ngày cho một phụ tá trong cả một năm.

Những con khỉ đã bị ngạt thở! Thiếu ôxy từ 3 đến 5 phút gây tổn thương não – các tế bào não chết (Hướng dẫn về an toàn dưới nước và cứu hộ của Hội Chữ Thập Đỏ). Với nồng độ khói được sử dụng, những con khỉ phần nào giống như một người ở trong ga ra khóa kín và cho một động cơ xe hơi hoạt động trong 5, 10, 15 phút mỗi ngày vậy!

Nghiên cứu này của Heath thật ra là một nghiên cứu về sự ngạt thở và ngộ độc cacbon monoxit ở động vật.

Ngoài những vấn đề khác, Heath đã hoàn toàn (do cố ý, hay do năng lực kém?) bỏ qua những tranh luận về khí cacbon monoxit những con khỉ đã hít phải.

Cacbon monoxit, một loại khí độc hủy diệt các tế bào não, được sinh ra từ bất kỳ vật thể nào đang cháy. Với nồng độ khói như vậy, những con khỉ quả thật giống như một người hàng ngày đều bị khóa trong ga ra với một động cơ xe hơi đang hoạt động trong 5, 10, 15 phút mỗi lượt!

Tất cả những nhà nghiên cứu về sau đều thống nhất rằng các phát hiện trong thí nghiệm của Heath về cần sa là vô giá trị, bởi vì sự ngộ độc cacbon monoxit và các yếu tố khác đã hoàn toàn bị bỏ qua và trước đó cũng chưa từng được xem xét trong báo cáo. Nghiên cứu này và các nghiên cứu khác, như loạt nghiên cứu năm 1970 của Tiến sĩ Gabriel Nahas, đều tìm cách liên hệ những chất chuyển hóa THC thường thấy trong não, cơ quan sinh dục và các vùng cơ thể chứa mỡ khác của con người với những tế bào não chết của những con khỉ bị chết ngạt.

Giờ đây, năm 1999, 17 đã trôi qua mà không một từ nào trong các nghiên cứu của Tiến sĩ Heath hay Tiến sĩ Nahas từng được xác thực! Nhưng các nghiên cứu của họ vẫn được lôi ra bởi PDFA, DEA, các cơ quan phòng chống ma túy cấp thành phố và tiểu bang cộng thêm các chính khách. Hầu như trong mọi cơ quan công quyền, chúng vẫn được coi như bằng chứng khoa học về sự nguy hiểm của cần sa.

Đây là sự tuyên truyền và thông tin sai lệch của chính phủ Hoa Kỳ ở mức độ tồi tệ nhất! Người dân đã trả tiền cho các nghiên cứu này và có quyền yêu cầu giảng dạy thông tin chính xác và lịch sử chân thực trong những ngôi trường hoạt động nhờ kinh phí từ những người nộp thuế.

Năm 1996, ở Pháp, Gabriel Nahas đã kiện Mishka, người dịch cuốn sách này sang tiếng Pháp với nhan đề L’empereur est nu, để đòi tiền bồi thường. Mishka đã viết rằng các nghiên cứu của Nahas bị cả thế giới xem là rác rưởi. Tòa án của Pháp, khi nghe hết những lời khai của Nahas, và sau khi Nahas đã bỏ ra số tiền tương đương hàng chục nghìn đô la Mỹ để trả các khoản phí pháp lý, đã thưởng cho ông ta sự sỉ nhục cao nhất của họ: một franc là khoản bồi thường cho ông ta, tương đương khoảng 15 cent tiền Mỹ, các khoản phí pháp lý thì tự chịu!

Đơn thuốc Nahas kê cho tình trạng phình trướng của ngân sách cảnh sát

Thật khó tin khi một nghiên cứu nổi tiếng với phát hiện tác dụng làm giảm khối u của cần sa (xem Chương 7) đã được chính phủ liên bang chỉ thị tiến hành, căn cứ trên tiền đề ban đầu rằng cần sa hẳn phải gây tổn hại cho hệ miễn dịch. Phỏng đoán này dựa vào các nghiên cứu kiểu “Reefer Madness” đã được thực hiện bởi vị tiến sĩ tai tiếng Gabriel Nahas của Đại học Columbia vào năm 1972.

Cũng chính Tiến sĩ Nahas này đã quả quyết rằng các nghiên cứu của ông ta cho thấy cần sa gây nên những tổn thương nhiễm sắc thể và testosterone (nội tiết tố nam), cũng như vô số tác động kinh khủng khiến cho người ta phải nghĩ tới sự sụp đổ của hệ miễn dịch. Nahas một thành viên của OSS/CIA và sau này là Liên Hợp Quốc, nơi ông ta đã cộng tác chặt chẽ với Lyndon LaRouche và Kurt Waldheim.

Năm 1998, Nahas vẫn còn là “con cưng” của DEA và NIDA nhưng không một nghiên cứu chống cần sa nào của ông ta từng lặp lại được kết quả trong vô số nỗ lực nghiên cứu khác. Đại học Columbia đã tuyên bố dứt khoát từ chối mọi liên hệ với các nghiên cứu về cần sa của Nahas trong một cuộc họp báo được triệu tập đặc biệt vào năm 1975!

Các nghiên cứu cũ rích, không đáng tin cậy của Nahas hiện nay vẫn được DEA trưng ra và chủ tâm cung cấp cho các nhóm hội phụ huynh, giáo viên và nhà thờ thiếu hiểu biết thấu đáo như thể đó là sự phát hiện xác đáng về  những tai hại của cần sa.

Sự gieo rắc những câu chuyện kinh dị và nguy hiểm này của Nahas* được trả công bằng tiền thuế các bạn đã nộp, thậm chí trong nhiều năm sau khi NIH vào năm 1976 đã dứt khoát ngăn cấm Nahas nhận thêm một xu nào từ những khoản tiền tiền chính phủ Hoa Kỳ cấp cho các nghiên cứu về cần sa do những nghiên cứu đáng hổ thẹn của ông ta từ đầu những năm 1970.

* Nahas, vào tháng 12 năm 1983, dưới sự chế giễu của các đồng nghiệp và quyết định chấm dứt tài trợ từ NIDA, đã tuyên bố từ bỏ toàn bộ những suy đoán, kết luận và nghiên cứu trước đó của ông ta về sự tích tụ các chất chuyển hóa THC, cũng như về tổn thương mô và nhiễm sắc thể trên đĩa Petri.

Tuy vậy, DEA, NIDA, VISTA, “Cuộc chiến chống ma túy” và tác giả đã qua đời Peggy Mann (trong các bài đăng trên Tạp chí Reader’s Digest và cuốn sách Marijuana Alert của bà được đệ nhất phu nhân Nancy Reagan đề tựa) đã mang những nghiên cứu không đáng tin cậy này đến các nhóm/hội phụ huynh như National Federal of Parents for Drug Free Youth [Liên đoàn quốc gia của phụ huynh vì giới trẻ không ma túy], v.v., thường cùng với Nahas trong vai trò một diễn giả khách mời được trả thù lao hậu hĩ, mà không hề hỏi lấy một lời xem các nghiên cứu của ông ta thật ra được đồng nghiệp nhìn nhận như thế nào.

Điều này, theo giả định của chúng tôi, được thực hiện để gây hoang mang cho các phụ huynh, giáo viên, nhà lập pháp và thẩm phán, bằng cách dùng đến các thống kê phi lâm sàng và thuật ngữ khoa học giả mạo, sau cùng là nhắm đến việc bán ra được nhiều xét nghiệm nước tiểu hơn nữa. Hệ quả từ đó là thêm nhiều lợi nhuận được tạo ra cho các cơ sở cai nghiện ma túy và biên chế nhân sự của họ. Như vậy cũng có nghĩa là ngân sách cấp cho cảnh sát, tòa án, nhà tù và các khoản chi tương tự sẽ được chính phủ duy trì liên tục bằng tiền rút từ ngân sách liên bang. Nói cách khác, chính phủ có thể duy trì liên tục việc chiếm dụng tiền thuế của dân để chi tiêu cho những gì phục vụ lợi ích của một chế độ cảnh sát trị.

“Cuộc chiến chống ma túy” là một đống tiền kếch xù, vì vậy những thỉnh cầu vô liêm sỉ đòi tăng số lượng cảnh sát và nhà tù tiếp tục diễn ra. Và chúng ta vẫn có hàng nghìn thẩm phán, nhà lập pháp, cảnh sát, độc giả Reader’s Digest và các bậc phụ huynh. Nhiều năm qua, họ đã sử dụng và trích dẫn các nghiên cứu của Nahas, xem chúng như là những lý do hàng đầu để tiếp tục những điều luật bất công này và để bỏ tù hàng triệu người Mỹ trong cả thập kỷ vừa qua.

Sau sự từ bỏ lập lờ năm 1983 của Nahas, DEA tiếp tục sử dụng các nghiên cứu của ông ta một cách chủ tâm và sai trái để gây chia rẽ trong những thẩm phán, chính khách, báo chí và các nhóm hội phụ huynh – những người không hề biết rằng sự dối trá của Nahas đã bị vạch trần. Các nhóm hội phụ huynh tin tưởng chính phủ sẽ cho họ biết sự thật mà họ đáng được nhận lại từ tiền thuế đã nộp. Phần lớn các nhà bình luận truyền hình và báo chí vẫn sử dụng các nghiên cứu không thể lặp lại kết quả từ những năm 1970 của Nahas như thể chúng là chân lý, và rất nhiều giai thoại hoang đường đáng sợ được bọn trẻ truyền tai nhau nơi sân trường đều xuất phát từ công trình dối trá của “nhà khoa học” này.

Mặc dù không bao giờ được lặp lại và đã bị bác bỏ, những kết quả nghiên cứu đó vẫn được rao giảng. Trong khi đó, những nhà nghiên cứu trung thực có nguy cơ bị bỏ tù nếu họ tìm cách thử nghiệm những ý tưởng của mình về công dụng y tế của cần sa.

Trên thực tế, bằng cách sử dụng những nghiên cứu không thể lặp lại và đã bị bác bỏ của Nahas về tác động đối với hệ miễn dịch của chất THC tổng hợp trên đĩa Petri, các hiệp hội cuồng loạn như National Family Partnership hoặc các tổ chức hình thành từ chiến dịch “Just Say No” thậm chí đã khiến giới báo chí lên tiếng rằng cần sa có thể gây ra AIDS – một điều không có chút căn cứ nào, nhưng báo chí vẫn tung tin một cách hùng hồn, làm tăng thêm mức độ trầm trọng của hiện tượng Reefer Madness!

Năm 1998, Gabriel Nahas lúc này đang sinh sống tại Paris và thường đem những lời dối trá cũ rích của ông ta đi rao giảng như thể chúng là phúc âm cho người dân các nước châu Âu còn kém hiểu biết về cần sa hơn cả công chúng Hoa Kỳ. Khi được mời tranh luận với chúng tôi (H.E.M.P.) về cần sa trước sự chứng kiến của báo chí thế giới vào ngày 18 tháng 6 năm 1993 tại Paris, ban đầu ông ta đã chấp nhận rất nhiệt tình. Thế rồi khi nhận ra rằng chúng tôi sẽ đề cập đến nọi khía cạnh của cây gai dầu (như giấy, sợi, nhiên liệu, thuốc trị bệnh), Nahas đã từ chối tranh luận, mặc dù chúng tôi đã đáp ứng mọi yêu cầu của ông ta.

Các chất chuyển hóa THC vẫn đọng lại

Sự cường điệu: Chúng tồn tại trong cơ thể 30 ngày

Chính quyền cũng đã quả quyết rằng chỉ hút một điếu cần sa thôi cũng rất nguy hiểm bởi “các chất chuyển hóa THC” tồn tại trong các tế bào mỡ của cơ thể tới 30 ngày; ngụ ý rằng chẳng thể nào hình dung nổi các chất chuyển hóa THC này có thể sẽ gây ra tác động gì đối với nhân loại về lâu dài, rồi thêm mấy lời nước đôi ngụy khoa học khác nữa (với những từ ngữ “có thể”, “có thể nghĩa là”, “có khả năng”, “có lẽ”, v.v.)*

* “‘Có thể’, ‘có khi’, ‘có lẽ’, ‘có khả năng’ không phải là những kết luận khoa học”. – Tiến sĩ, Bác sĩ Fred Oerther đã nói vào tháng 9 năm 1986.

Thực tế: Các chuyên gia của chính quyền nói rằng các chất chuyển hóa THC là dư lượng vô hại, không gây độc

Chúng tôi đã phỏng vấn ba bác sĩ có danh tiếng trên toàn quốc hiện đang làm việc (hoặc đã từ làm việc) cho nghiên cứu về cần sa của chính phủ Hoa Kỳ:

– Tiến sĩ, Bác sĩ Thomas Ungerlieder của UCLA, đã được Richard Nixon bổ nhiệm vào Ủy ban Lâm thời của Tổng thống về Cần sa năm 1969, được tái bổ nhiệm bởi các tổng thống Ford, Carter, và Reagan; hiện nay là chủ nhiệm của Chương trình Y tế về Cần sa của California.

– Tiến sĩ, Bác sĩ Donald Tashkin của UCLA, là nhà nghiên cứu hàng đầu của thế giới và chính phủ Hoa Kỳ trong 29 năm qua về tác động của cần sa đối với các chức năng phổi.

– Tiến sĩ, Bác sĩ Tod Mikuriya, từng giữ vị trí quản lý và phân phối nguồn tài trợ trong các chương trình nghiên cứu cần sa của chính phủ Hoa Kỳ cuối những  năm 1960.

Những bác sĩ này cho biết rằng các thành phần có hoạt tính của THC đã được hấp thu hết trong lần thứ nhất hoặc thứ hai đi qua gan. Các chất chuyển hóa THC còn lại tự gắn vào các mảng mỡ tích tụ để được cơ thể loại bỏ sau. Đây là một quá trình an toàn và hoàn toàn tự nhiên.

Nhiều hợp chất từ các loại thức ăn, thảo dược và thuốc chữa bệnh cũng vẫn luôn trải qua cùng một quá trình như vậy. Đa số không gây nguy hiểm, và các chất chuyển hóa THC có ít khả năng gây độc* hơn so với gần như bất kỳ loại chất chuyển hóa nào khác đã biết trong cơ thể chúng ta!

* Chính phủ Hoa Kỳ từ năm 1946 đã biết rằng liều lượng cần sa dùng qua đường miệng cần thiết để giết một con chuột cao gấp 40.000 lần liều lượng cần thiết để tạo ra các triệu chứng say cần sa điển hình. (Mikuriya, Tod, Marijuana Medical Papers, 1976; Loewe, Journal of Pharmacological and Experimental Therapeutics, October, 1946.)

Các chất chuyển hóa THC trong cơ thể có thể được so sánh với tro tàn của một điếu cần sa: thành phần trơ còn lại khi các hoạt chất cannabinoid đã được cơ thể hấp thụ. Các chất chuyển hóa trơ này là kết quả hiển thị trong những xét nghiệm nước tiểu được thực hiện để sa thải quân nhân, công nhân hoặc vận động viên vì sử dụng cần sa hoặc có sự hiện diện của cần sa trong nước tiểu trong vòng 30 ngày trước xét nghiệm.

Các nghiên cứu về tổn thương phổi

Sự cường điệu: Độc hại hơn thuốc lá

Theo Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, các bệnh tật liên quan đến thuốc lá giết chết hơn 430.000 người Mỹ mỗi năm. Có 50 triệu người Mỹ hút thuốc lá, và mỗi ngày có thêm 3.000 thanh thiếu niên bắt đầu hút. Các nghiên cứu về tàn thuốc chứa chất gây ung thư của Phòng thí nghiệm quốc gia Berkeley cuối những năm 1970 đã kết luận rằng “cần sa có khả năng gây ung thư cao gấp rưỡi thuốc lá”.

Thực tế: Không có một ca ung thư nào được ghi nhận

Các chất gây kích ứng phổi có trong mọi loại khói. Khói cần sa gây kích ứng nhẹ đối với phế quản. Các triệu chứng biến mất khi ngừng hút cần sa.

Tuy nhiên, khác với khói thuốc lá, khói cần sa không gây bất kỳ biến đổi nào trong các tiểu phế quản – khu vực mà khói thuốc lá gây tổn thương lâu dài và vĩnh viễn. Ngoài ra, người hút thuốc lá thường hút từ 20 đến 60 điếu mỗi ngày, trong khi người hút nhiều cần sa thường cũng chỉ hút từ 5 đến 7 điếu mỗi ngày, thậm chí còn ít hơn nếu có được búp hoa cần sa loại nặng chất lượng cao.

Mặc dù có hàng triệu người Mỹ hút cần sa thường xuyên, cần sa chưa từ gây một ca ung thư nào được ghi nhận tính đến tháng 12 năm 1997, theo Tiến sĩ Donald Tashkin của UCLA – chuyên gia hàng đầu về phổi của Hoa Kỳ. Ông xem nguy cơ lớn nhất đối với phổi là nếu một người tối thiểu phải hút 16 điếu cần sa loại lớn (spliff) mỗi ngày, gây nên sự giảm ôxy huyết do quá nhiều khói và không đủ ôxy.

Tashkin thấy rằng không có gì đáng lo lắng về nguy cơ gây khí phế thũng “theo bất kỳ hình thức nào” từ việc sử dụng cần sa – hoàn toàn trái ngược với thuốc lá.

Cần sa là một loài cây phức tạp, tiến hóa ở mức cao. Có khoảng 400 hợp chất trong khói cần sa. Trong số đó, 60 hợp chất hiện nay được biết llaf có giá trị trị liệu.

Người sử dụng cũng có thể ăn cần sa thay vì hút, tránh được hoàn toàn những kích ứng do khói. Tuy nhiên, các thành phần hoạt tính được cơ thể người hấp thu khi hút cao gấp bốn lần so với khi ăn, xét cùng một lượng cần sa. Và việc giá cần sa chợ đen bị thổi lên do sự cấm đoán cùng với các hình phạt khắc nghiệt đối với hoạt động canh tác khiến cho hầu hết mọi người không có khả năng chi trả cho một cách sử dụng xa xỉ dù lành mạnh hơn nhưng kém hiệu quả hơn.

Các nghiên cứu của phòng thí nghiệm không phản ánh đúng thực tế

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng nhiều chất gây ung thư có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng một ống điếu được lọc bằng nước. Chính phủ của chúng ta đã bỏ qua thông tin này và tầm quan trọng của nó khi phát biểu trước báo chí. Cùng lúc, các chính khách cũng cấm mua bán các loại ống điếu, gán nhãn cho chúng là những “dụng cụ sử dụng ma túy”.

Các tin đồn đã bắt đầu như thế nào?

Năm 1976, Tiến sĩ Tashkin của UCLA đã gửi một báo cáo thành văn tới Tiến sĩ Gabriel Nahas tại Hội nghị “Những Nguy cơ Y tế từ Cần sa” đang diễn ra tại Rheims, Pháp. Báo cáo đó lại thành ra câu chuyện giật gân nhất được lan truyền từ hộ nghị thế giới đầy tính tiêu cực đối với cần sa này.

Điều này đã gây ngạc nhiên cho Tiến sĩ Tashkin, người ban đầu đã không có dự tính gửi báo cáo đó đến Hội nghị Rheims.

Điều Tashkin đã báo cáo với Hội nghị Rheims là: Trong số 29 khu vực của phổi người đã được nghiên cứu, ông chỉ tìm thấy duy nhất một khu vực mà cần sa gây kích ứng cao hơn (15 lần) so với thuốc lá, và đó là phế quản. Tuy nhiên, con số này không đáng kể, vì Tashkin cũng lưu ý rằng thuốc là thuốc lá gần như không có tác động gì đến khu vực phổi này. Như vậy, 15 lần của “gần như không có gì” vẫn chỉ là gần như không có gì. Dù sao, cần sa cũng có tác động tích cực hoặc trung tính đối với phần lớn các khu vực khác của phổi. (Xem chương 7 – “Những công dụng trị liệu của cần sa”)

(Tashkin, Dr. Donald, UCLA studies, 1969-83; UCLA Pulmonary Studies, 1969-95.)

Sau đó, vào năm 1977, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ trở lại cho những nghiên cứu về tác độngcủa cần sa đối với phổi đang diễn ra mà họ đã cắt tài trợ từ hai năm trước đó, khi Tashkin báo cáo về những kết quả trị liệu đáng khích lệ trong các nghiên cứu này. Nhưng đến lúc này, chính phủ chỉ tài trợ cho hoạt động nghiên cứu về phế quản.

Chúng tôi đã phỏng vấn Tiến sĩ Tashkin hàng chục lần. Năm 1986, tôi đã hỏi ông về một bài báo ông đang soạn cho Tạp chí Y học New England, trong đó đề cập đến việc khói cần sa gây ra số lượng tổn thương tiền ung thư ngang bằng hoặc cao hơn so với thuốc lá, tính trên liều lượng sử dụngt ương đương giữa hai chất.

Phần lớn mọi người không nhận thấy, và truyền thông cũng không được cho biết cụ thể, rằng mọi bất thường về mô (trầy xước, phát ban, thậm chí chỉ là mẩn đỏ) đều được gọi là tổn thương tiền ung thư. Khác với các tổn thương do thuốc lá gây ra, các tổn thương liên quan đến THC không chứa chất phóng xạ.

Chúng tôi đã hỏi Tiến sĩ Tashkin rằng có bao nhiêu người trong các nghiên cứu này hay bất kỳ nghiên cứu nào khác về những người chỉ hút cần sa lâu năm (người Rastafari, người Copt, v.v.) sau đó đã bị ung thư phổi.

Ngồi trong phòng thí nghiệm UCLA của mình, Tiến sĩ Tashkin nhìn tôi và nói: “Lạ là ở chỗ đó. Cho đến nay không ai trong những người chúng tôi đã nghiên cứu bị ung thư phổi”.

“Báo chí có biết đến điều này không?”

“Chà, trong bài báo có viết”. Tiến sĩ Tashkin đáp. “Nhưng không người nào trong giới báo chí hỏi đến điều này. Họ vốn chỉ trông đợi những kết quả tồi tệ nhất”.

Chúng tôi đã hỏi lại Tashkin vào tháng 12 năm 1997, về cần sa và ung thư phổi. Câu trả lời của ông vẫn là không có lấy một trường hợp ung thư phổi nào ở những người chỉ hút cần sa từng được báo cáo. Một điều đáng ghi nhớ là: Tiến sĩ Tashkin và các tiến sĩ khác từ 20 năm trước đã tiên đoán chắc chắn rằng hàng trăm nghìn người hút cần sa sẽ bị ung thư phổi tính đến thời điểm này (năm 1997).

Năm 2007, Tiến sĩ Tashkin đã báo cáo rằng THC thực chất đang giết chết các tế bào lão hóa và giữ cho chúng không trở thành tế bào ung thư. Ngày 17 tháng Tư năm 2007, các nhà nghiên cứu Đại học Harvard đã tìm thấy rằng, trong phòng thí nghiệm, THC làm giảm sự tăng trưởng khối u đi một nửa trong khi đồng thời ức chế khả năng lan rộng của khối u.

Thuốc lá chứa chất phóng xạ: Chuyện chưa kể

Số người chết do hút thuốc lá mỗi năm còn cao hơn số ca tử vong do AIDS, heroin, crack, cocaine, rượu, tai nạn giao thông, hỏa hoạn và án mạng cộng lại. Thuốc lá gây nghiện ngang heroin – xét đến cả những triệu chứng cai, và có tỷ lệ tái nghiện (75%) tương đương heroin và cocaine.

Ở Hoa Kỳ hiện nay, thuốc lá bỏ xa các “đối thủ” khác để trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra những ca tử vong vốn có thể phòng tránh. So với người không hút thuốc lá, người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi gấp 10 lần, nguy cơ bị bệnh tim gấp 2 lần, và nguy cơ tử vong trong trường hợp bị bệnh tim gấp 3 lần. Vậy nhưng thuốc là lại hoàn toàn hợp pháp, và thậm chí được nhận trợ cấp chính phủ nhiều hơn mọi sản phẩm nông nghiệp Hoa Kỳ, trong khi nó luôn là kẻ giết người nguy hiểm nhất! Thật là một trò hề đạo đức giả!

Tại Hoa Kỳ, cứ bảy ca tử vong thì có một ca do thuốc lá gây ra. Phụ nữ cần biết rằng ung thư phổi phổ biến hơn ung thư vú trong số những phụ nữ hút thuốc lá, và hút thuốc lá trong thời gian sử dụng thuốc tránh thai khiến nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư tăng cao bất thường.

7 triệu đô la là số tiền quảng cáo cho ngành công nghiệp thuốc lá mỗi ngày, và ước tính mỗi ngày ngành này cần thêm khoảng 3000 người bắt đầu hút thuốc lá để thay thế cho số người đã bỏ hoặc đã chết vì thuốc lá mỗi ngày.

Ngành nông nghiệp và thương mại chủ đạo của Kentucky trong suốt 100 năm (cho đến năm 1890) chính là loài cây cần sa/gai dầu hữu ích, nhiều tác dụng và có lợi cho sức khỏe. Thế rồi nó bị thay thế bằng cây thuốc lá không thể dùng làm thức ăn, không cho sợi, gây suy thoái đất – là loài cây được trồng trên nền đất được bón các loại phân chứa chất phóng xạ.

Các nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng mức độ ảnh hưởng từ việc hút 1,5 bao thuốc lá mỗi ngày trong một năm đối với phổi là tương đương ảnh hưởng từ 300 lần chụp phim X-quang lồng ngực (bằng loại máy từ trước những năm 1980 và không sử dụng đồ bảo hộ bằng chì để cản xạ) đối với da. Nhưng trong khi tính phóng xạ của tia X tiêu tan ngay lập tức, chất phóng xạ của thuốc lá ở trong phổi vẫn duy trì hoạt tính suốt chu kỳ bán rã kéo dài 21,5 năm của nó.

Cựu Tổng Y sĩ C. Everett Koop đã phát biểu trên truyền hình quốc gia rằng rất có thể chất phóng xạ trong lá cây thuốc lá là nguyên nhân gây ra phần lớn các loại ung thư liên quan đến thuốc lá. Không hề tồn tại chất phóng xạ trong tro tàn của cần sa.

(National Center for Atmospheric Research, 1964; American Lung Assn.; Dr. Joseph R. DiFranza, U. of Mass. Medical Center; Reader’s Digest, March 1986; Surg. Gen. C. Everett Koop, 1990.)

Một dữ kiện thực tế khác: Bệnh nhân khí phế thũng được hưởng lợi

Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Tashkin đã chức mừng tôi về điều tôi đã gợi ý với ông, đó là cần sa được sử dụng để điều trị khí phế thũng đem đến những kết quả tốt trong số những người chúng tôi biết.

Ban đầu ông cười nhạo tôi, bởi ông đã cho rằng cần sa khiến tình trạng khí phế thũng trầm trọng hơn. Sau khi xem xét các bằng chứng đã thu được, ông thấy rằng, ngoại trừ trong những trường hợp hãn hữu nhất, cần sa thực ra đem lại lợi ích lớn cho các bệnh nhân khí phế thũng, do tác dụng làm thông thoáng và giãn phế quản của nó.

Vậy là tác dụng giảm nhẹ triệu chứng mà các bệnh nhân khí phế thũng hút cần sa báo cáo với chúng tôi đã được xác nhận.

Không chỉ riêng khói của cần sa có tác dụng tốt cho phổi. Từ xưa, khói của Yerba Santa [cây thánh thảo], Colt’s foot [cây khoản đông], Horehound [bạc hà trắng] và các loại thảo mộc khác cũng được hút để đem lại sự dễ chịu cho phổi.

Thuốc lá và những nguy hiểm gắn liền với nó đã gây nên định kiến xấu về chữ “hút” tới mức hầu hết mọi người tin rằng việc hút cần sa cũng nguy hiểm ngang hoặc hơn thuốc lá. Trong hoàn cảnh nghiên cứu bị cấm đoán, những dữ kiện khách quan về an toàn và sức khỏe cộng đồng này không sẵn có để tham khảo.

Tháng 12 năm 1997, chúng tôi đã hỏi Tiến sĩ Tashkin một lần nữa, và ông đã phát biểu dứt khoát rằng “cần sa không gây ra hay làm trầm trọng hơn tìnht rạng khí phế thũng, theo bất kỳ cách thức nào”. Hơn nữa, không có một trường hợp ung thư phổi nào từng được quy kết cho việc hút cần sa.

. . . Và còn nữa

Đa số các tài liệu chống cần sa mà chúng tôi đã xem xét đều không dẫn được lấy một nguồn để chúng tôi kiểm chứng. Số còn lại chỉ dẫn nguồn từ DEA hoặc NIDA. Các nghiên cứu ít ỏi chúng tôi đã tìm được lại thường là những ghi chép về bằng chứng giai thoại, những tập hợp số liệu ngụy tạo, hoặc thiếu các nhóm đối chứng và các kết quả không bao giờ được lặp lại.

Toàn bộ các nghiên cứu liên quan đến sự tăng kích thước vú, béo phì, nghiện ngập và những thứ tương tự vẫn không có căn cứ, và không nhận được bao nhiêu tín nhiệm từ cộng đồng khoa học. Các nghiên cứu khác, chẳng hạn về sự suy giảm số lượng tinh trùng tạm thời, là không có ý nghĩa thống kê đối với công chúng, thế nhưng lại giới truyền thông được thổi phồng về mức độ nghiêm trọng. Vẫn còn các nghiên cứu khác nữa, chẳng hạn về vài ba trường hợp có khối u cổ họng ở khu vực Sacramento và tỷ lệ tai nạn thương tích cao được báo cáo trong một trung tâm chấn thương của Baltimore, là những tập hợp dữ liệu riêng lẻ phản ánh trái ngược toàn bộ những thống kê khác và chưa bao giờ được lặp lại.

Những kết quả giả mạo của Heath, Nahas, của các nghiên cứu trên khỉ và chuột mang thai tại Đại học Temple và Đại học California Davis (trong đó họ tiêm các chất tổng hợp tương tự và là đồng phân bậc 3 của THC) giờ đây đã mất tín nhiệm trong hệ thống tài liệu khoa học và y học.

Mặc dù các nghiên cứu này không được sử dụng trong thảo luận khoa học, hàng núi tài liệu của DEA và do các công ty dược phẩm tài trợ nói về những tác động dài hạn mà các chất chuyển hóa này có thể sẽ gây ra cho não và cơ quan sinh sản vẫn được phân phát tới các nhóm phụ huynh như thể chúng là các nghiên cứu mới toanh. Sự cung cấp thông tin sai lệch này vẫn đang tồn tại nhan nhản trong các báo cáo của chính phủ Hoa Kỳ, DEA, DARE và PDFA.

(Read the 1982 N.I.H.; the National Academy of Science’s evaluation on past studies; and the Costa Rica report, 1980.)

Gai dầu đã được sử dụng trong gần như mọi xã hội từ thời thượng cổ như một yếu tố thúc đẩy lao động, cũng như để khơi dậy và làm mới lại những năng lượng sáng tạo.

Một số nghiên cứu mà chính quyền liên bang không nhắc tới

Nghiên cứu về người Copt (1981)

Không gây tác hại đối với bộ não hay trí thông minh của con người

Gai dầu đã được sử dụng trong gần như mọi xã hội từ thời thượng cổ để tăng thêm động lực làm việc, cũng như để khơi dậy và làm mới lại những năng lượng sáng tạo.

(Jamaican Studies; Coptic Studies; Costa Rican Studies; Vedas; Dr. Vera Rubin, Research Institute for the Study of Man; et al)

Năm 1981, một nghiên cứu đã cho biết về 10 người trong số những người Mỹ hút nhiều cần sa nhất (đến từ cộng đồng tôn giáo Copt và sinh sống tại Florida) quả thật tin rằng việc hút 16 điếu spliff* cần sa loại nặng mỗi ngày trong 10 năm qua đã phần nào cải thiện tâm trí của họ.

Tiến sĩ Ungerlieder và Tiến sĩ Shaeffer của UCLA đã thực hiện nghiên cứu và không phát hiện khác biệt nào về não giữa những người Copt này và những người không hút cần sa; cũng như không xác nhận có sự gia tăng nào về chỉ số IQ như họ đã khẳng định.

* Thông thường, một điếu spliff tương đương 5 điếu joint của Mỹ.

Tuổi thọ cao hơn, nếp nhăn ít hơn

Phần lớn các nghiên cứu (từ trước tới nay, với các nhóm đối tượng nghiên cứu được ghép cặp tương ứng) đều chỉ ra rằng: Khi mọi tiêu chí còn lại là ngang bằng, một người Mỹ hút cần sa sẽ sống lâu hơn một người Mỹ không hề sử dụng chất; có ít nếp nhăn hơn, nhìn chung ít bị căng thẳng tâm lý hơn nên ít mắc bệnh tật khiến hệ miễn dịch bị ảnh hưởng hơn, và có cách cư xử hòa nhã với người xung quanh hơn.

(Các nghiên cứu Costa Rica và Jamaica)

Nghiên cứu Jamaica (1968-74, 1975)

Những lợi ích nhất định cho người hút cần sa

Có lẽ nghiên cứu toàn diện nhất về hoạt động hút cần sa trong bối cảnh tự nhiên của nó chính là “Ganja ở Jamaica: Một nghiên cứu nhân chủng học y tế về việc sử dụng cần sa kinh niên” của Vera Rubin và Lambros Comitas (1975; Mouton & Co., The Hague, Paris/Anchor Books, NY).

Từ phần giới thiệu của Nghiên cứu Jamaica: “Nghiên cứu Jamaica, được tài trợ bởi Trung tâm Nghiên cứu về Lạm dụng Thuốc và Chất giảm đau gây ngủ – Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia (NIMH), là dự án đầu tiên về nhân chủng học y tế được thực hiện và là nghiên cứu chuyên sâu, đa ngành đầu tiên về hoạt động sử dụng và người sử dụng cần sa từng được xuất bản.

[…]

Mặc dù bất hợp pháp, hoạt động sử dụng ganja vẫn diễn ra khắp nơi, và thời lượng cũng như tần suất sử dụng rất cao; nó được hút trong khoảng thời gian dài hơn, với số lượng lớn hơn và hàm lượng THC cao hơn cần sa ở Hoa Kỳ mà không gây ra những hậu quả tai hại về tâm lý hay xã hội. Điểm khác biệt chủ yếu là cả việc sử dụng và những hành vi được dự kiến kèm theo đó đều được điều chỉnh cho phù hợp văn hóa và được kiểm soát bởi một truyền thống lâu đời”.

Những thái độ xã hội tích cực

Nghiên cứu đã phác họa khái quát sự củng cố tích cực về hành vi xã hội trong nhóm người hút ganja ở Jamaica và sự khen ngợi rộng khắp dành cho hoạt động sử dụng ganja từ những người hút ganja để tăng thêm động lực làm việc.

Theo mô tả từ những người được nghiên cứu, các hiệu ứng có được khi hút ganja khiến họ lanh lợi, hoạt bát, vui vẻ, có trách nhiệm và có ý thức hơn. Họ cho biết ganja có tác dụng tốt cho sự tập trung và thiền, và tạo ra một cảm giác ngập tràn hạnh phúc và tự tin vào giá trị bản thân.

Không có mối liên hệ với hành vi tội phạm

Vera Rubin và các cộng sự đã thấy rằng không có liên hệ nào giữa cần sa và tội phạm (ngoại trừ những vụ bắt giữ người sử dụng cần sa), không có sự suy giảm kỹ năng vận động, và những người hút cần sa cũng như những người không hút đều đạt số điểm về mức độ hướng ngoại như nhau, trong đó không có sự khác biệt về quá trình làm việc hay khả năng thích nghi với công việc. Không có phát hiện nào về động lực làm việc bị mất đi do sử dụng cần sa nhiều và thường xuyên.

Từ đánh giá tâm lý, người hút cần sa dường như cởi mở hơn trong việc bộc lộ cảm xúc của họ, đôi chút vô tư lự hơn, và đôi chút dễ sao nhãng hơn. Không có bằng chứng nào về tổn thương não thực thể hay tâm thần phân liệt.

Không có sự thoái hóa về sinh lý

Marilyn Bowman, qua một chuỗi những trắc nghiệm tâm lý dành cho những người sử dụng cần sa kinh niên tại Jamaica năm 1972, đã thấy rằng “không có sự suy giảm về chức năng sinh lý, cảm giác và tri giác-vận động trong các trắc nghiệm về hình thành khái niệm, tư duy trừu tượng và phong cách nhận thức, cũng như trong các trắc nghiệm về trí nhớ”. Thời gian những người Jamaica này đã hút cần sa là từ 6 đến 31 năm (thời gian trung bình là 16,6 năm) và độ tuổi trung bình khi họ lần đầu tiên hút cần sa là 12,5 tuổi.

Trong nghiên cứu năm 1975 được thực hiện với hai nhóm: người sử dụng cần sa và người không sử dụng, không phát hiện khác biệt nào về nồng độ testosterone huyết tương, không có khác biệt về tổng lượng dinh dưỡng, có kết quả cao hơn đôi chút trong các tiểu trắc nghiệm về trí thông minh (không có ý nghĩa thống kê), và “một phép đo cơ bản về miễn dịch qua trung gian tế bào […] không hề kém phần mạnh mẽ ở những người sử dụng”.

Sau cùng, “Ở thí nghiệm ghép cặp này của chúng tôi, mỗi người thuộc nhóm sử dụng cần sa còn hút thêm thuốc lá số lượng ngang bàng số thuốc lá được hút bởi người cùng cặp thuộc nhóm không sử dụng cần sa. Vậy nhưng những người thuộc nhóm sử dụng cần sa, nếu có gì đáng kể, thì đó là đường thở của họ vẫn khỏe mạnh hơn một chút so với những người cùng cặp với họ thuộc nhóm không sử dụng cần sa”.

“Do vậy, chúng tôi đành phải đưa ra kết luận không dứt khoát rằng cần sa hoặc là không gây tác động có hại đối với đường thở, hoặc là nó quả thực đem lại một chút tác dụng bảo vệ để chống lại những tác hại của khói thuốc lá. Nếu đúng là vậy, thì cũng chỉ có những nghiên cứu sâu hơn mới làm rõ được giả thuyết nào trong hai giả thuyết này là chính xác”.

Không tồn tại “hiệu ứng cửa ngõ”/ “hiệu ứng bàn đạp”

Về các cáo buộc rằng cần sa là loại “ma túy cửa ngõ” hay “ma túy bàn đạp”: “Việc sử dụng các chất ma túy loại nặng cho đến nay vẫn gần như chưa được biết đến trong những người dân lao động ở đất nước Jamaica. Không một người nào trong nghiên cứu (của Rubin) từng thử dùng bất kỳ thứ gì trong số các chất kích thích, chất giảm đau gây ngủ, chất gây ảo giác, thuốc an thần nhóm barbiturat hay thuốc ngủ dạng viên”.

Những năm cuối thế kỷ 19 ở Hoa Kỳ, cần sa đã được sử dụng để điều trị chứng nghiện chất. Những người nghiện thuốc phiện, cloral hydrat và rượu đã được điều trị thành công nhờ những chiết xuất tác dụng mạnh từ cần sa. Một số bệnh nhân đã phục hồi sau không đầy một chục liều chiết xuất cần sa.[1] Cũng vậy, ngày nay người ta đã thấy rằng hút cần sa đem lại tác dụng rất lớn trong điều trị chứng nghiện rượu.[2]

[1]. “Cannabis Indica as an Anodyne and Hypnotic,” J.B. Mattison, M.D., The St. Louis Medical and Surgical Journal, Vol. LVI, No. 5, Nov. 1891, pg 265-271, reprinted in Marijuana: The Medical Papers, Tod Mikuriya, M.D.

[2]. “Cannabis Substitution: An Adjunctive Therapeutic Tool in the Treatment of Alcoholism,” Tod H. Mikuriya, M.D., Medical Times, Vol. 98, No. 4, April, 1970, reprinted in Marijuana Medical Papers, Tod Mikuriya, M.D.)

Nghiên cứu Costa Rica (1980)

Phần lớn các kết quả từ nghiên cứu Jamaica đã được xác nhận bởi một nghiên cứu khác về vùng Caribbe. Đó là “Cần sa ở Costa Rica: Một Nghiên cứu về Hoạt động Sử dụng Cần sa Kinh niên” được William Carter biên tập vào năm 1980 dành cho Viện Nghiên cứu các Vấn đề về Con người. (ISHI, 3401 Science Center, Philadelphia.)

Một lần nữa, các nhà nghiên cứu đã không phát hiện một tổn thương rõ ràng nào trong cộng đồng những người dân bản địa hút cần sa. Các vấn đề xã hội liên quan đến rượu không được tìm thấy ở Costa Rica, nhưng lại tồn tại rất rõ nét trên những hòn đảo láng giềng vắng bóng cần sa.

Nghiên cứu này chỉ ra một điều rằng nếu cần sa được xã hội chấp thuận và được đưa ra thị trường, nó sẽ thay thế cho phần lớn lượng rượu rum, hay ít ra cũng giảm bớt tình trạng nghiện rượu.

Mô hình Amsterdam

Từ khi áp dụng chính sách khoan dung và không truy tố những người hút cần sa/hashish (có bán trong các quán cà phê và quán bar), và triển khai các chương trình phục hồi và chuyển hướng dành cho những người sử dụng các loại ma túy loại nặng, Hà Lan đã chứng kiến lượng sử dụng cần sa trong giới trẻ đã giảm rõ rệt cũng như số người nghiện heroin đã giảm được tới 33%. Chiến lược tách hoạt động kinh doanh cần sa khỏi những kẻ buôn bán trái phép các chất ma túy loại nặng bằng cách cho phép sự tồn tại công khai của cần sa đã đạt được thành công đáng kể. (L.A. Times, August 1989). Năm 1998, bất chấp những áp lực liên tục từ chính phủ Hoa Kỳ và DEA, chính phủ Hà Lan đã hoàn toàn từ chối tái hình sự hóa cần sa!

Thêm những dối gạt của kẻ cấm đoán

Năm 1990, Tạp chí Scientific American đã đưa tin: “Những thống kê đáng báo động, được những người ủng hộ xét nghiệm trích dẫn, nhằm minh họa những phí tổn to lớn vì sự lạm dụng ma túy [. . .] không phải lúc nào cũng phản ánh đúng về chính cuộc nghiên cứu mà họ đang dùng làm căn cứ đâu. Trên thực tế, một số dữ liệu lại có thể được sử dụng để ‘chứng minh’ rằng hoạt động sử dụng ma túy có những tác động không đáng kể, hay thậm chí còn có những tác động có lợi nữa”. (tháng 3 năm 1990, trang 18)

Một trong những ví dụ được đưa ra là thống kê thường được trích dẫn mà cựu Tổng thống George Bush đã dùng đến vào năm 1989: “Sự lạm dụng ma túy tồn tại trong các công nhân gây tổn thất cho các doanh nghiệp khoảng từ 60 tỷ đến 100 tỷ đô la mỗi năm vì mất năng suất lao động, vắng mặt không lý do, các tai nạn liên quan đến ma túy, các khoản thanh toán y tế và sự trộm cắp”. Vậy nhưng theo một bản đánh giá của NIDA năm 1989, tất cả những lời quả quyết đó đều có nguồn gốc từ cùng một nghiên cứu mà thôi, và nghiên cứu này lại phát sinh từ một cuộc khảo sát trên 3700 hộ gia đình vào năm 1982.

Viện Tam giác Nghiên cứu (RTI) phát hiện rằng những hộ gia đình có ít nhất một thành viên thừa nhận đã từng sử dụng cần sa thường xuyên cho thấy thu nhập trung bình của họ thấp hơn 28% so với thu nhập của những hộ gia đình tương tự nhưng không có người nào trong hộ sử dụng cần sa. Các nhà khảo sát của RTI đã quy kết nguyên nhân chênh lệch về thu nhập này là “tổn thất do sự sử dụng cần sa”.

Kế đến RTI suy diễn về các chi phí tội phạm, các vấn đề sức khỏe và tai nạn để tính ra một “phí tổn xã hội phải gánh vì sự lạm dụng ma túy” là 47 tỷ đô la. Nhà Trắng đã “điều chỉnh” dựa theo lạm phát và số dân tăng thêm để cung cấp căn cứ cho phát biểu của Bush.

Thế nhưng khảo sát của RTI còn có những câu hỏi về việc sử dụng ma túy trong hiện tại nữa. Những câu trả lời không cho thấy chênh lệch đáng kể nào về thu nhập giữa những hộ gia đình hiện đang có người sử dụng chất cấm, bao gồm cả heroin và cocaine, với những hộ gia đình khác.

Vậy là chính những thống kê đó lại “chứng minh” rằng tình trạng sử dụng ma túy loại nặng trong hiện tại không dẫn đến bất kỳ “tổn thất” nào, trái ngược với một cuộc say sưa cần sa nào đó trong quá khứ xa xôi!

Tham nhũng trong chính quyền: Carlton Turner

Trong toàn bộ quá trình khảo cứu của tác giả về sự chiếm dụng công quỹ và lạm dụng lòng tin của công chúng, có lẽ không gì so sánh được với những hành động tội lỗi đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng của người dân Mỹ – mà thủ phạm chính là những quan chức và chính khách trong câu chuyện được kể dưới đây:

Một người đàn ông & Những trò lừa đảo về thuốc của ông ta

Chính sách của chính phủ Hoa Kỳ, bắt đầu từ thời các tổng thống Nixon và Ford và tiếp tục diễn ra trong giai đoạn nắm quyền của Carlton Turner* (Trùm Dược phẩm từ năm 1981 đến 1986 dưới thời Reagan), đã cho phép cung cấp cần sa y tế liên bang cho các chương trình y tế về cần sa của các tiểu bang. Nhưng chỉ có lá của cây cần sa được cung cấp, mặc dù lá chỉ có độ mạnh bằng 1/3 so với búp hoa, và không chứa đủ toàn phần “thuốc thô”, nói cách khác là thiếu hụt các cannabinoid như THC và CBN.

* Trước khi trở thành Cố vấn Đặc biệt của Nhà Trắng (Trùm Dược phẩm quốc gia) Carlton Turner đã chỉ đạo toàn bộ hoạt động trồng cần sa để làm thuốc của chính phủ Hoa Kỳ từ năm 1971 đến 1980 nhờ vị trí của ông ta tại Đại học Mississippi. Chương trình Nghiên cứu Cần sa của Đại học Mississippi nhận được đặc quyền của tiểu bang để phát hiện, đề xuất hoặc chọn ra những thành phần trong cần sa dạng thô có tác dụng như một loại thuốc trị bệnh, sau đó sẽ tổng hợp ra những chất chứa dược tính có lợi, đạt được đầy đủ tác dụng từ cần sa, để cung cấp cho các công ty dược phẩm.

Ví dụ, tác dụng giảm nhẹ của lá cần sa đối với triệu chứng của bệnh tăng nhãn áp có thời lượng ngắn hơn nhiều so với búp hoa, do đó không đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân. Ngoài ra, đôi khi phần lá cũng gây đau đầu cho những người hút cần sa. Cho đến năm 1986, chỉ có lá cần sa được chính quyền liên bang sử dụng. Trong một cuộc phỏng vấn, Turner đã nói rằng người Mỹ sẽ không được nhận thêm thứ gì ngoài lá cần sa, mặc dù búp hoa có tác dụng hơn. Đến tận bây giờ (năm 1999), 7 người sử dụng cần sa hợp pháp ở Hoa Kỳ chỉ được nhận lá, cành cọng và búp hoa cắt vụn và cuộn thành điếu. Mặc dù búp hoa có tác dụng hơn đối với hóa trị, tăng nhãn áp, v.v., nhưng phần cành cọng có thể độc hại như gỗ khi dùng để hút.

Năm 1986, Turner đã nói rằng cần sa tự nhiên sẽ “không bao giờ” được kê đơn như một loại thuốc trị bệnh; và tình trạng này vẫn duy trì đến tháng 4 năm 1998. (Ngoại trừ ở California, nơi người dân đã thành công trong việc bỏ phiếu tán thành vào tháng 11 năm 1996, bất chấp chính quyền liên bang về vấn đề cần sa y tế!)

Những lý do đưa ra

– Búp cần sa quá cứng để cuốn được thành điếu bằng máy móc. (Cứ quên 25 triệu người Mỹ hàng ngày vẫn cuốn búp khá tốt đi.)

– Nếu chiết xuất các hợp chất từ “thuốc thô” trong búp hoa cần sa, sẽ không có bằng sáng chế dược phẩm được cấp, do đó sẽ không có lợi nhuận. Như vậy không khác gì việc chương trình của Turnner sẽ đi ngược với lợi ích của chủ thuê lúc trước của ông ta, những người đã cấp đặc quyền và kinh phí cho Đại học Mississippi.

(Các phỏng vấn do Ed Rosenthal thực hiện cho Tạp chí High Times; Dean Latimer, và các cộng sự; NORML.)

Mặc dù những búp hoa cần sa có tác dụng hơn đối với hóa trị, tăng nhãn áp, v.v., Turner đã nói rằng chúng sẽ “không bao giờ” được kê đơn. Xem ra, tác dụng “munchies” (kích thích cảm giác ngon miệng/thèm ăn) trứ danh của cần sa cũng sẽ chẳng có ích lợi gì cho các bệnh nhân ung thư trải qua hóa trị đang sử dụng lá cần sa của liên bang đâu.

Và mặc dù không nghiên cứu nào được phép thực hiện để so sánh lá với búp hoa cần sa, chúng tôi biết có những bác sĩ đã gợi ý không chính thức cho các bệnh nhân ung thư đang suy kiệt của họ sử dụng búp hoa cần sa và sau đó các bệnh nhân ấy đã tăng cân (NORML).

Đầu độc người hút cần sa

Vào tháng 8 và tháng 9 năm 1983, Turner đã xuất hiện trên truyền hình quốc gia để biện minh cho hoạt động phun thuốc diệt cỏ paraquat (từ máy bay) của DEA xuống những cánh đồng cần sa trái phép ở Georgia, Kentucky, và Tennessee. Ông ta đã nói rằng điều đó sẽ dạy một bài học cho bất kỳ thanh thiếu niên nào chết vì sử dụng cần sa nhiễm độc paraquat.Turner đã buộc phải từ chức sau những kết luận của ông ta trước công chúng rằng cần sa gây ra sự đồng tính, phá hủy hệ thống miễn dịch và do đó dẫn tới AIDS.

Hoạt động nghiên cứu tiềm năng trị liệu của cần sa phải chịu nhiều kiểm soát và bị gây khó dễ nhiều nhất, nhưng bất kỳ nghiên cứu nào theo hướng tìm kiếm những tác dụng có hại và tiêu cực của cần sa đều được khuyến khích. Do thường phản tác dụng hoặc không thể đưa ra kết luận, nên ngay cả các nghiên cứu dạng này cũng rất hiếm.

Turner đã trích dẫn tác phẩm Lịch sử suy thoái và sụp đổ của Đế chế La Mã để chứng tỏ các ca sĩ nhạc jazz/rock đang gặm mòn nước Mỹ mà “ông ta” yêu bằng thứ ma túy cần sa gây ảo giác này! Thứ mà ông ta nhất định phải vùi dập.

Bộ xét nghiệm Paraquat giả

Trong nỗi sợ hãi của người Mỹ về cần sa Mexico bị phun paraquat năm 1978, Carlton Tunner, lúc này một dân thường làm việc cho nông trại cần sa của tiểu bang Mississippi, đã gọi điện đến Tạp chí High Times để quảng cáo một loại dụng cụ xét nghiệm paraquat. Có điều ông ta không biết, thời gian đó High Times không nhận quảng cáo cho các loại dụng cụ xét nghiệm paraquat bởi vì mọi bằng chứng cho thấy rằng chúng không có tác dụng.

Dean Latimer, khi đó là một trợ lý biên tập của High Times, đã giả bộ xuôi theo Turner trong những đối thoại qua điện thoại  gần như mỗi ngày trong suốt một tháng, lắng nghe Turner nói về chuyện ông ta dự kiến kiếm được bao nhiêu tiền từ số dụng cụ sẽ được bán ra.

High Times muốn xem mẫu của bộ xét nghiệm. Khi Turner đưa nguyên mẫu bộ xét nghiệm paraquat của ông ta tới, nó hoàn toàn là một kiểu “máy móc Rube Goldberg”, một thứ hàng giả giá cao “hệt như hàng chục bộ xét nghiệm các công ty khác đã muốn trả tiền để được quảng cáo hồi đó,” Latimer đã viết trong một bài báo đã đăng trong năm 1984.

Turner rõ ràng chưa bao giờ nghĩ rằng High Times có đủ đạo đức nghề nghiệp để yêu cầu kiểm tra chất lượng sản phẩm. Ông ta cho rằng họ sẽ nhận tiền rồi cho chạy quảng cáo và làm giàu cho ông ta.

Turner không bận tâm đến chuyện có thanh thiếu niên nào đó bị lừa tiền hay mất mạng vì tin vào bộ xét nghiệm paraquat  rởm của ông ta.

Sau mưu mô lừa đảo ấy, người đàn ông này đã trở thành Trùm Dược phẩm của Tổng thống Reagan vào năm 1981, theo sự tiến cử của George Bush và Nancy Reagan.

Trò đê tiện coi thường mạng người

Turner thậm chí đã nói rằng ông ta không quan tâm nếu có hàng trăm thanh thiếu niên mất mạng vì hút phải thứ cần sa đã bị chính quyền liên bang chủ tâm phun thuốc diệt cỏ paraquat.
Thế rồi, trong Hội nghị PRIDE tháng 4 năm 1985 tại thành phố Atlanta của bang Georgia, với sự có mặt của Nancy Reagan và 16 đệ nhất phu nhân các nước (trong đó có Imelda Marcos), Turner đã kêu gọi áp dụng án tử hình cho tội phạm buôn bán ma túy.

Xét cho cùng, Turner chỉ là tên lính đánh thuê của Reagan, Bush và các công ty dược phẩm, những kẻ nhìn nhận sứ mệnh của ông ta không phải là chống lại heroin, PCP hay cocaine, mà là để xóa sổ cần sa và nhạc jazz/rock.

Carlton Turner đã buộc phải từ chức sau khi Tạp chí Newsweek đăng bài xã luận phê phán ông ta gay gắt vào tháng 10 năm 1986. Turner đã phải nhận những lời đả kích chưa từng được dành cho một nhân vật của công chúng nào khác trong những năm qua từ Washington Post và các báo khác, vì các kết luận của ông ta trước công chúng rằng hút cần sa gây ra sự đồng tính, phá hủy hệ thống miễn dịch và do đó dẫn tới AIDS. Sau đó, sự từ chức của ông ta là một kết quả được dự báo trước.

Turner từ chức vào ngày 6 tháng 12 năm 1986. Tin này lẽ ra được xuất hiện trên trang đầu của các báo nhưng đã bị đưa xuống trong các trang cuối do vụ bê bối Iran-Contra nổ ra trong cùng tuần lễ đó.

Công ty xét nghiệm nước tiểu

Sau khi từ chức, Turner tham gia cùng Robert DuPont và cự Giám đốc DEA Peter Bensinger để chiếm lĩnh thị trường xét nghiệm nước tiểu. Họ đã ký hợp đồng làm cố vấn cho 250 trong số những công ty lớn nhất Hoa Kỳ để phát triển các chương trình xét nghiệm nước tiểu, phát hiện ma túy và điều trị lạm dụng ma túy.

Ít lâu sau khi Turner rời nhiệm sở, Nancy Reagan đã đề xuất rằng không công ty nào được cấp phép hợp tác với chính quyền liên bang nếu họ không áp dụng một chính sách sàng lọc nhân viên qua xét nghiệm nước tiểu để thể hiện lòng trung thành.

Giống như G. Gordon Liddy đã bước vào ngành bảo mật an ninh doanh nghiệp sau sự nhục nhã của ông ta, Carlton Turner đã trở thành một người giàu có trong ngành công nghiệp có mức tăng trưởng rất cao hiện nay: xét nghiệm nước tiểu.

Loại công việc này vi phạm các quyền cơ bản về sự riêng tư, quyền không tự tố giác (Tu chính án thứ 5 của Hiến pháp), quyền từ chối sự khám xét và tịch thu không chính đáng, và sự suy đoán vô tội (cho đến khi bị chứng minh là có tội).

Giờ đây, sự cam chịu sỉ nhục khi phải phơi bày phần cơ thể và chức năng riêng tư nhất của bản thân trước mặt người khác là bài sát hạch để được tuyển vào một doanh nghiệp tư nhân hay để kiếm tiền trang trải cuộc sống.

Mưu đồ kiếm tiền mới của Turner đòi hỏi người dân Mỹ phải từ bỏ quyền cơ bản của người Mỹ về sự riêng tư và tự trọng.

Bush lại tung đòn

Tổng thống Ronald Reagan, dưới sự thúc giục của Phó Tổng thống khi đó là George Bush, đã bổ nhiệm Carlton Turner vào chức vụ Cố vấn về Chính sách Dược phẩm của Nhà Trắng vào năm 1981.

Tại các hội nghị (1981-1986) của các công ty dược phẩm và những người vận động hành lang của họ là Hiệp hội các Hãng sản xuất Hóa chất Hoa Kỳ, Turner đã hứa duy trì lệnh cấm nghiên cứu đối với 400 hợp chất có trong cần sa.

Bush đã lo liệu để tiếp tục chỉ đạo điều này, bằng cách không cho phép các hoạt động nghiên cứu tư nhân hay nhà nước được nhận kinh phí từ NIDA hay NIH, hoặc không phê duyệt các đơn xin cấp phép nộp tới FDA, trừ phi chúng được thực hiện theo hướng tìm kiếm các kết quả tiêu cực. Tính đến thời điểm này (tháng 7 năm 1998), chính sách của Tổng thống Clinton vẫn duy trì như vậy.

So sánh với rượu

Có nhiều thói quen sử dụng chất rất tồi tệ. Tồi tệ nhất trong số đó là rượu, cả về số lượng người sử dụng cũng như các hành vi phản xã hội liên quan đến việc sử dụng rượu quá mức. Chứng nghiện rượu là nguyên nhân hàng đầu của những ca tử vong ở thanh thiếu niên: 8.000 thanh thiếu niên Mỹ chết mỗi năm và 40.000 bị tàn tật do kết hợp uống rượu với lái xe. (MADD (Những người mẹ chống việc lái xe khi say rượu); SADD (Những sinh viên chống việc lái xe khi say rượu); NIDA, v.v.)

Trên thực tế, thống kê của cảnh sát/chính phủ Hoa Kỳ đã xác nhận những con số kỳ lạ sau đây:

Số ca tử vong do sử dụng rượu mỗi năm là 100.000, trong khi không có ca tử vong nào do sử dụng cần sa trong suốt 10.000 năm.

Từ 40-50% trong tổng số vụ giết người và tử vong trên đường cao tốc có liên quan đến rượu. Trên thực tế, số ca tử vong trên đường cao tốc có thể lên tới 90%, theo Chicago Tribune và L.A. Times.

Rượu cũng có dấu hiệu liên quan trong đa số (69-80%) các vụ loạn luân/hiếp dâm trẻ em; các vụ việc bạo hành vợ cũng đa phần (60-80%) do người chồng say rượu.

Heroin có dấu hiệu liên quan trong 35% số vụ trộm cắp, cướp, cướp có vũ trang, cướp ngân hàng, trộm cắp xe cộ, v.v.

Trong khi đó, có hơn 786.545 vụ bắt giữ chỉ vì hành vi tàng trữ cần sa tại Hoa Kỳ trong năm 2005 (tăng lên từ 400.000 vụ trong năm 1992), theo thống kê của Chương trình Báo cáo Tội phạm Thống nhất của Cục Điều tra Liên bang (FBI), Bộ Tư pháp Hoa Kỳ.

Bài viết được xem nhiều nhất