5 phụ nữ quan trọng trong lịch sử cần sa

Thế giới cổ đại

Nữ Pharaoh Hatshepsut và cần sa ở Ai Cập cổ đại

Đầu tượng nhân sư của nữ Pharaoh Hatshepsut, triều đại thứ 18 của Ai Cập. (Ảnh Postdlf)

Nữ pharaoh Hatshepsut đã sống vào những năm 1400 trước Công nguyên và nổi tiếng là một trong số ít những nữ pharaoh được chọn lọc trong lịch sử Ai Cập, theo một bài báo được xuất bản vào năm 2006 đăng trên tạp chí The Smithsonian. Pharaoh được cho là đã sử dụng cây cần sa để kiểm soát các triệu chứng đau bụng kinh.

Nhưng nữ pharaoh Hatshepsut có thể không phải là người phụ nữ duy nhất trong thời đại của bà chuyển sang dùng cần sa để giảm đau. Văn tự cổ Ebers Papyrus, một văn bản y học thảo dược từ thời Ai Cập cổ đại, trích dẫn việc sử dụng cây cần sa để điều trị không chỉ chứng đau bụng kinh mà còn để giảm bớt cơn đau khi sinh nở. Bài báo nói rằng cần sa đã được trộn với mật ong và đưa vào âm đạo để giảm đau bụng kinh.

Thời trung cổ

Thánh nữ Hildegard von Bingen và cần sa làm thảo dược

Có lẽ một trong những nhà hoạt động cần sa hiếm có và không ngờ tới trong danh sách của chúng tôi, là thánh nữ Hildegard von Bingen – bà là một nữ tu người Đức sống ở thời Trung cổ. Sau này bà đã được phong thánh trong Giáo hội Công giáo, bà đã nói nhiều về y học trong một thời đại mà phụ nữ được cho là sẽ im lặng trong các môn học. Bà Hildegard có niềm yêu thích đặc biệt với thảo dược và đã viết trong cuốn sách hướng dẫn về sức khỏe Physica của mình rằng cây gai dầu có thể được sử dụng cho nhiều phương pháp điều trị khác nhau, theo cuốn sách năm 2013 của tiến sỹ Ethan B. Russo, Cần sa và Cannabinoid: Dược học, Độc tính và Tiềm năng Trị liệu (Cannabis and Cannabinoids: Pharmacology, Toxicology, and Therapeutic Potential). Tiến sỹ Russo trích dẫn các khuyến nghị của bà Hildegard về việc đắp một miếng vải gai dầu để làm dịu vết thương và ăn gai dầu để giảm các cơn đau khác, bao gồm cả đau đầu.

Bà Hildegard đã ghi lại các phương pháp điều trị của mình cho một độc giả người Đức thế kỷ thứ 12, nhưng các nghiên cứu khoa học hiện đại đã chỉ ra rằng quan điểm của bà về cây gai dầu có thể là chính xác. Dầu CBD, có nguồn gốc từ cây gai dầu, có một danh sách dài các công dụng chữa bệnh tiềm năng cho hàng loạt các chứng bệnh, chẳng hạn như bệnh lo lắng, viêm và động kinh.

Đặt mối quan hệ thần bí của riêng mình về gai dầu, bà Hildegard đã chỉ ra cách loài cây này có thể trở thành một phần của lối sống lành mạnh và cân bằng. Như bà ấy đã viết trong văn bản tiên phong của mình Nguyên nhân và Cách chữa bệnh (Causes and Cures):

“Tâm hồn thích sự điều độ trong mọi điều…. vì vậy, hãy để mọi người duy trì một sự cân bằng thích hợp.”

Thế kỷ 19

Nữ hoàng Victoria và cần sa trong một kỷ nguyên bảo thủ

Kỷ nguyên Victoria ở thế kỷ 19 là một trong những thời kỳ hạn chế xã hội nhất trong lịch sử nước Anh, nhưng người phụ nữ ở trung tâm của chủ nghĩa bảo thủ này có thể đã tham gia vào một hoạt động rất tiến bộ: sử dụng cần sa. Theo một số nguồn tin, Nữ hoàng Victoria có thể đã được bác sĩ kê đơn cần sa để giảm đau bụng kinh. Ông Richard J. Miller, giáo sư dược học tại Đại học Northwestern, đã viết trong cuốn sách Drugged: The Science and Culture behind Psychotropic Drugs vào năm 2013 như sau: “Ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng được kê một loại dầu cần sa. Người ta tin rằng bà ấy đã rất thích thú (có lẽ đã rất thích thú) với nó.”

Các nguồn khác tranh luận về việc sử dụng cần sa của Nữ hoàng Victoria, nhưng một bài báo đăng trên tờ History Press cho thấy khía cạnh tiến bộ của bà. Nó tiết lộ rằng hoàng gia là một trong những nhân vật đáng chú ý đầu tiên thử nghiệm thuốc gây mê chloroform. Theo bài báo, Nữ hoàng Victoria đã sử dụng nó để xoa dịu cơn đau khi sinh đứa con trai út của bà là Hoàng tử Leopold, vào năm 1853. Bác sĩ của bà, Tiến sĩ John Snow, đã ghi lại rằng Nữ hoàng Victoria nói rằng thuốc gây mê chloroform “êm dịu, yên tĩnh và thú vị hơn tưởng tượng.”

Louisa May Alcott và cần sa trong văn học

Nổi tiếng nhất với việc chấp bút cho cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất Những người phụ nữ nhỏ bé (Little Women) vào năm 1868, tác giả người Mỹ Louisa May Alcott đã viết một câu chuyện ít được biết đến hơn có tựa đề Trò chơi Mạo hiểm trong đó các nhân vật thử nghiệm với hash. Trong một bản bìa mềm phát hành lại vào năm 2007 của câu chuyện, bà đã mô tả hiệu ứng của hash đối với các nhân vật bằng ngôn ngữ thanh tao:

“Một giấc mơ thiên đường ập đến, trong đó họ di chuyển như thể trên không. Mọi thứ đều bình lặng và đáng yêu đối với họ: không có gì đau đớn, không có gì cần quan tâm, không sợ hãi bất kỳ điều gì, và cho đến phút cuối cùng, họ cảm thấy mình như một thiên thần đang ngủ quên.”

Mặc dù bài viết của bà Louisa May Alcott có thể không thuộc về chủ đề của những nhà hoạt động, nhưng rõ ràng cần sa đã ảnh hưởng đến công việc của bà. Trải nghiệm của các nhân vật của bà có vẻ sống động lạ thường, nhưng đó chỉ là suy đoán thuần túy rằng liệu tác giả có sử dụng loài cây này không.

Thế kỷ 20

Margaret Mead và Cuộc chiến chống Ma Túy (War on Drugs)

Nhà nhân học, văn hóa người Mỹ Margaret Mead là một trong những phụ nữ thẳng thắn nhất của thế kỷ 20 về chủ đề hợp pháp hóa cần sa. Bà sinh ra ở Philadelphia, Pennsylvania, vào năm 1901. Bà lấy bằng Tiến sĩ. từ Đại học Columbia trước khi đi khắp thế giới để tiến hành nghiên cứu thực địa và thách thức các quy ước xã hội phương Tây trong các lĩnh vực gây tranh cãi, bao gồm cả tình dục.

Vào ngày 27 tháng 10 năm 1969, khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, bà đã có một bài phát biểu nóng nảy tại một phiên điều trần của Thượng viện, khi bà lập luận rằng bất kỳ ai từ 16 tuổi trở lên đều nên được phép hút cần sa. Trong bài phát biểu, bà nói rằng việc làm cho cần sa bất hợp pháp giống như “một hình thức chuyên chế mới của người già đối với người trẻ”. Theo một bài báo năm 1969 được xuất bản trong kho lưu trữ của Bộ sưu tập Báo chí Lịch sử Colorado (Colorado Historic Newspapers Collection). Người tác giả được kính trọng tiếp tục thổi bùng thói đạo đức giả của việc hình sự hóa việc sử dụng cần sa, chỉ ra rằng, “Người lớn cầm một ly cocktail và một tay cầm điếu thuốc thì được cho là bình thường… điều này là không thể chấp nhận được…”

Bà Margaret Mead lập luận thêm rằng cần sa “không có hiệu ứng độc hại như thuốc lá”, không gây nghiện như heroin và nhẹ hơn rượu. Trên thực tế, bà khẳng định rằng: “Nỗ lực hạn chế việc sử dụng của giới trẻ đã dẫn đến những hậu quả xã hội nghiêm trọng hơn những hậu quả liên quan đến Lệnh cấm vào năm 1920.

Nhưng những lời cầu xin của bà đã rơi vào những cái tai điếc và thậm chí còn đứng trước các biện pháp pháp lý nghiêm ngặt hơn đối với cần sa khi Tổng thống Nixon phát động Cuộc chiến Chống Ma túy vào năm 1971. Bà Margaret Mead đã qua đời vào năm 1978, trước khi Cuộc chiến Chống Ma túy bùng lên vào những năm 1980 – dưới thời Chính quyền Reagan và gây ra một làn sóng các vụ bắt giữ liên quan đến cần sa nhắm vào các cộng đồng thiểu số.

Đây là 5 trong số vô số phụ nữ đã ảnh hưởng đến ngành công nghiệp cần sa thông qua các hoạt động, văn học và văn hóa. Khi sự thay đổi sâu rộng ảnh hưởng đến luật về cần sa ở tất cả 50 tiểu bang của Hoa Kỳ, nhiều nhân vật quan trọng đương thời đang đi trước theo hướng tiến bộ.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: The Cannigma | 5 Prominent Women in Cannabis History

 

Israel đã trở thành trung tâm nghiên cứu về cần sa như thế nào?

Nhiều người chắc hẳn đã nghe nói về giáo sư Raphael Mechoulam, nhà khoa học người Israel và “cha đỡ đầu của cần sa”, người đã cô lập THC vào những năm 1960. Tuy nhiên, mối liên hệ của Israel với cần sa có nhiều điều hơn là một người đàn ông hay bất kỳ phát hiện khoa học nào.

Thực tế thú vị: Cần sa đã bị coi là bất hợp pháp ở Israel trước khi đất nước này thậm chí trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1948. Nó được đưa vào “Sắc lệnh về các loại ma túy nguy hiểm” năm 1936, do Cao ủy của nước Palestine viết (không có ý định chơi chữ) khi đất nước vẫn còn dưới sự cai trị của người Anh. Vào năm 1961, Israel tham gia với tư cách là một bên ký kết Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 của Liên hợp quốc, một văn kiện đặt nền móng cho việc cấm cần sa quốc tế như chúng ta đã biết. Vài năm sau, vào năm 1973, quốc hội Israel đã sửa đổi đạo luật năm 1936, nhưng đáng chú ý là vẫn làm cho nghiên cứu cần sa hợp pháp. Ngược lại, ở Mỹ, nghiên cứu về cần sa vẫn đang bị hạn chế cực kỳ bởi các lệnh cấm ma túy của liên bang.

Nghiên cứu cần sa đột phá

Giáo sư Raphael Mechoulam (Đại học Hebrew)

Vào đầu những năm 1960, ông Mechoulam, một nhà khoa học trẻ từ Viện khoa học Weizmann ở Israel đã bắt đầu nghiên cứu về cần sa. Theo ông Mechoulam, nghiên cứu về cần sa lúc bấy giờ hầu như bị bỏ quên vì hai lý do chính. Đầu tiên, cần sa là một chất bất hợp pháp, do đó các nhà khoa học và phòng thí nghiệm nghiên cứu không dễ tiếp cận. Ông nói với tạp chí Addiction: “Ngay cả khi có được sự hợp pháp cho việc nghiên cứu, nghiên cứu với cần sa vẫn là một cơn ác mộng trong phòng thí nghiệm.”

“Tôi đến gặp giám đốc hành chính của Viện khoa học Weizmann và chỉ hỏi anh ta rằng liệu anh ta có biết ai đó ở trụ sở cảnh sát hay không… anh ta đã gọi cho người đứng đầu ngành điều tra tại trụ sở cảnh sát – người mà anh ta đã chiến đấu cùng trong quân đội. Tôi nghe viên cảnh sát ấy hỏi: “Anh ấy [có nghĩa là tôi] có đáng tin cậy không?” Khi nhận được câu trả lời xác đáng, anh ta yêu cầu tôi đến thành phô Tel Aviv và nhờ đó tôi đã thu được 5 kg hashish Lebanon nhập lậu tuyệt hảo.” Giáo sư Mechoulam nói.

Lý do thứ hai là các dạng hợp chất hóa học hoạt động trong cây cần sa tinh khiết, dạng cô lập vẫn chưa có sẵn để nghiên cứu. Các loại thuốc bất hợp pháp chính có nguồn gốc thực vật khác, chẳng hạn như opium và coca, đã bị phân lập vào thế kỷ 19, tức là morphine và cocaine. Sự sẵn có của các hợp chất tinh khiết này giúp cho việc nghiên cứu sinh hóa, dược lý và lâm sàng trở nên khả thi. Đó là một công việc vất vả đối với giáo sư Mechoulam.

Thế hệ nhà nghiên cứu tiếp theo

Lumír Hanuš tại phòng thí nghiệm của ông ở Jerusalem, Lumir Labs. (Ảnh Matan Weil / The Cannigma)

Ông đã cùng với một số đồng nghiệp thành lập một nhóm nghiên cứu cần sa. Người đầu tiên tham gia là Yuval Shvo, họ cùng nhau phân lập lại và thiết lập cấu trúc của cannabidiol, còn được gọi là CBD. CBD lần đầu tiên được nhà hóa học Roger Adams phân lập vào những năm 1940 nhưng cấu trúc của nó chỉ được biết đến một phần, đây là bước đột phá đầu tiên của nhóm Mechoulam. Ngay sau đó, hai người khác – Yehiel Gaoni, người vừa hoàn thành bằng tiến sĩ hóa học hữu cơ ở Sorbonne. Và Haviv Edery, một người nhập cư từ Argentina vài năm trước đó, cũng đã tham gia nhóm. Mục tiêu của họ là giải mã điều bí ẩn về cần sa đầu tiên — bằng cách nhận dạng các thành phần hoạt động của cần sa. Đầu tiên, họ xác định cấu trúc của THC, tiếp tục với việc phát hiện ra một số cannabinoid “nhỏ” khác.

Vào cuối những năm 1980, phần lớn thế hệ tiếp theo của các nhà nghiên cứu cần sa đã thực hiện một số công việc quan trọng nhất của họ ở Israel, cùng với ông Mechoulam. Hai nhân vật chủ chốt là Bill Devane, một thành viên của nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ra thụ thể đầu tiên của cần sa, và Lumír Hanuš, một nhà nghiên cứu người Séc đã tham gia nghiên cứu cannabinoid ở nơi quê nhà. Cùng với Mechoulam, cả hai đã phát hiện ra Anandamide vào năm 1992, cannabinoid nội sinh đầu tiên (hay còn gọi là endocannabinoid). Công việc của họ, cùng nhau và tách biệt nhau, đã dẫn đến việc phát hiện ra hệ thống endocannabinoid, được coi là một bước đột phá khác về khoa học và y học. Cả Devane và Hanuš đều đã tham gia rất nhiều vào nghiên cứu cần sa kể từ đó.

Nghiên cứu cần sa của Israel cũng đã ảnh hưởng đến công việc quan trọng diễn ra ở nước ngoài. Ví dụ, siêu sao nghiên cứu cần sa, Tiến sĩ Ethan Russo, người chịu trách nhiệm về sự phổ biến của các khái niệm như Hiệu ứng cộng hưởng và Sự thiếu hụt endocannabinoid lâm sàng (CECD), bắt đầu nghiên cứu cần sa của mình vào cuối những năm 1990 và tiến sĩ Russo xem ông Mechoulam là một trong những người cố vấn của mình.

Điều kiện chín muồi cho các nghiên cứu lâm sàng

Một người đàn ông trong viện dưỡng lão Israel được cho sử dụng cần sa từ máy hóa hơi. (Ảnh Chameleon’s Eye / Shutterstock)

Bộ Y tế Israel bắt đầu cấp giấy phép sử dụng cần sa y tế cho từng bệnh nhân vào cuối những năm 1990. Các chỉ định phổ biến để điều trị bằng cần sa là bệnh HIV / AIDS và ung thư, nhưng trên thực tế chỉ một số ít bệnh nhân xin giấy phép và thậm chí một số ít được cấp.

Hầu hết các bệnh nhân đủ điều kiện đều rất ốm yếu và không có khả năng thông quan và do quá trình cấp phép quan liêu khó có thể xin giấy phép trồng cần sa để chữa bệnh. Nếu bệnh nhân có kiếm được cây hoặc hạt giống cần sa, thì hầu hết mọi người đều thiếu kiến thức và thiết bị để tự trồng cần sa.

Tất cả những điều ấy đã thay đổi khi một số người có giấy phép thành lập một tập thể trồng cần sa, Tikun Olam (tiếng Do Thái có nghĩa là “sửa chữa thế giới”). Nhóm tình nguyện viên này đã nhận được giấy phép trồng 100 cây cần sa cho những bệnh nhân khác, đồng thời cũng giới thiệu việc sử dụng cần sa y tế cho những người cao niên, đi từ nhà hưu dưỡng này sang nhà hưu dưỡng khác, quảng bá việc sử dụng cần sa cho mục đích chữa bệnh. Cuối cùng, số lượng người có giấy phép nhiều đến mức Tikun Olam không thể tiếp tục hoạt động như một tổ chức phi chính phủ và trở thành một công ty tư nhân vào năm 2010. 7 nhà sản xuất cần sa khác bắt đầu hoạt động tại quốc gia này cùng năm đó.

Việc sử dụng cần sa trong y tế ở Israel tiếp tục tăng lên hàng năm, với 2.000 bệnh nhân được điều trị vào năm 2009, 22.000 bệnh nhân vào năm 2015 và khoảng 50.000 bệnh nhân vào năm 2019. Sự tăng trưởng này đã tạo điều kiện cho nhiều hơn và các loại nghiên cứu cần sa khác nhau. Trước hoạt động của Tikun Olam, nghiên cứu ở Israel chủ yếu là tiền lâm sàng nhưng với khả năng tiếp cận với một lượng lớn bệnh nhân cần sa y tế, các nghiên cứu lâm sàng về bệnh nhân thực bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là đối với các bệnh như: động kinh, bệnh Alzheimer, ung thư, bệnh Crohn, và viêm loét đại tràng.

Đồng thời, một thế hệ nhà nghiên cứu cần sa mới đã ra đời. Hai ví dụ điển hình là Dedi Meiri từ Học viện Công nghệ Technion-Israel, và Yossi Tam từ Đại học Hebrew ở Jerusalem. Meiri điều hành Phòng thí nghiệm Sinh học Ung thư và Nghiên cứu Cannabinoid điều tra các đối tượng ví dụ như tiềm năng điều trị của cannabinoid và ông chủ yếu tập trung vào các loại ung thư, bệnh động kinh và bệnh tiểu đường. Yossi Tam là Trưởng Trung tâm Đa ngành Nghiên cứu Cannabinoid tại Đại học Hebrew, bao gồm hàng chục nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu các chủ đề như: viêm, đau, hệ thống miễn dịch, sự trao đổi chất và ung thư.

Mặc dù chương trình cần sa y tế của Israel bắt đầu từ những năm 1990, nó vẫn còn rất nhiều hạn chế. Bệnh nhân thường phàn nàn về việc tiếp cận, khó xin đơn thuốc và chi phí cao mà không được bảo hiểm y tế chi trả.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: How Israel Became a Cannabis Research Hub, Written by Matan Weil

Cần sa: Đường mũi vs Đường miệng

Để giảm thiểu những tác hại xấu của cần sa, bạn cần phải hiểu sự khác biệt giữa hai cách sử dụng cần sa phổ biến nhất.

Sau đây là tóm tắt khác biệt chính giữa việc dùng cần sa qua đường mũi và dùng cần sa qua đường miệng. Bao gồm các mẹo hữu ích để gặp ít rủi ro hơn khi sử dụng cần sa.

Vietnamese translation by Cần Sa Y Tế – Medical Cannabis Vietnam
© All rights belong to Canadian Centre on Substance Use and Addiction

 

 

Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19

Photo: iStock-Darren415©

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng cần sa y tế có thể có tiềm năng trong việc điều trị các triệu chứng của COVID-19.

COVID-19 không có dấu hiệu chậm lại và vắc-xin sẽ được công bố trong vài tháng, thậm chí một năm. Sự nôn nóng để dùng loại thuốc đã có mặt trên thị trường dẫn đến việc một số chính phủ phải mua vào kịch liệt nhằm giảm tác động của một loại vi rút ngấm ngầm.

Cùng với việc rất nhiều chuyên gia y tế đang tìm kiếm một phương pháp chữa trị – hoặc, thất bại đó, chiến lược phòng ngừa tốt nhất ngoài khẩu trang và giãn cách xã hội – là nên lùi lại một bước để xem vai trò của cần sa y tế trong việc giúp giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bởi COVID-19 như thế nào.

Coronavirus hoạt động như thế nào?

Vi rút sử dụng các protein có bề mặt gai nhọn của nó để bám vào các thụ thể được tìm thấy trên các tế bào khỏe mạnh, đặc biệt là các thụ thể được tìm thấy trong phổi. Các protein virus này đi qua các thụ thể ACE2; và một khi chúng đã vào được bên trong, coronavirus sẽ bắt giữ các tế bào khỏe mạnh và nắm quyền chỉ huy. Cuối cùng, nó giết chết một số tế bào khỏe mạnh.

Vi rút tác động đến hệ hô hấp bằng cách di chuyển xuống đường hô hấp của bạn. Bao gồm miệng, mũi, họng và phổi. Tuy nhiên, do đường hô hấp dưới có nhiều thụ thể ACE2 hơn phần còn lại của đường hô hấp, COVID-19 có nhiều khả năng di chuyển sâu hơn các loại vi rút khác như cảm lạnh thông thường. Đây là điều làm cho COVID-19 mạnh hơn so với cảm lạnh trung bình hoặc các loại cúm khác. Khi vi rút xâm nhập vào phổi, nó khiến người ta khó thở – đặc biệt hơn là nó dẫn đến viêm phổi.

Đối với hầu hết mọi người (khoảng 80%), các triệu chứng là ho và sốt. Đối với những người không may bị nặng hơn, tình trạng nhiễm trùng có thể trở nên rất nặng. Khoảng 5 đến 8 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu, một số người sẽ bị khó thở và có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) vài ngày sau đó.

Cần sa có tác dụng gì?

Các cannabinoid như cannabidiol (CBD) có lịch sử sử dụng an toàn và chứa một số đặc tính có thể hữu ích trong việc điều trị các triệu chứng y tế nhất định: CBD có đặc tính chống viêm và có thể hoạt động như một chất chống co mạch, có khả năng giảm đau và giảm lo lắng. Kết hợp với các cannabinoid và tecpen khác, cũng như can thiệp lâm sàng cần thiết, CBD có nhiều tiềm năng để điều trị các triệu chứng của vi rút như COVID-19. Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa cũng đã được chứng minh là làm giảm đông máu ở các mô hình thí nghiệm động vật; người ta biết rằng nhiều tác dụng tiêu cực trên toàn cơ thể của COVID-19 dường như có liên quan đến việc đông máu bị thay đổi, vì thế có thể cần sa có thể hữu ích trong việc kiểm soát những di chứng này.

Cần sa y tế có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị COVID-19 hay không?

Phòng ngừa

Cho đến nay, phạm vi và khoảng cách của dữ liệu nghiên cứu có thể xác minh được mối liên kết giữa việc cannabinoid và việc phòng ngừa COVID-19 là còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các cách tiếp cận mới để phòng ngừa COVID-19 bao gồm một nghiên cứu đã giám định khả năng kết hợp của CBD vào các dung dịch uống; chẳng hạn như nước súc miệng và thuốc súc họng nhằm mục đích “giảm hoặc điều chỉnh mức ACE2 trong các mô có nguy cơ cao”. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ ACE2 thay đổi trong quá trình tiến triển của COVID-19 và do đó khả năng điều chỉnh các mức này trở nên đặc biệt quan trọng vì ACE2 đã được chứng minh là cần thiết cho chức năng phổi trong các mô hình động vật nhiễm virus SARS.

Giảm mức độ nghiêm trọng và tác động

Trong các phân tích về COVID-19, người ta quan tâm nhiều đến Hội chứng phóng thích Cytokine (Cytokine Release Syndrome – CRS), trong đó quá nhiều protein cytokine được giải phóng trong cơ thể: những protein này có thể tấn công phổi và áp đảo hệ thống miễn dịch bằng cách căng phồng phổi quá mức. Các bằng chứng ban đầu đã chỉ ra rằng CBD và THC có thể có ích trong việc điều trị những bệnh nhân có phản ứng viêm trong cơ thể đã có khả năng gây bệnh.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào khả năng của các cannabinoid và các terpen nhằm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch mà không ngăn chặn nó. Những phát hiện ban đầu trong một nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi nhà sản xuất terpene Eybna và công ty nghiên cứu và phát triển cần sa CannaSoul Analytics. Cả hai đều đến từ Israel, họ dường như đã chỉ ra rằng sự kết hợp của các tecpen và các cannabinoid được sử dụng có hiệu quả gấp hai lần so với khi sử dụng thuốc chống viêm dexamethasone để giảm viêm từ COVID-19. Nghiên cứu vẫn chưa được thẩm định bình duyệt.

Một phương pháp mới khác hiện đang được nghiên cứu ở Israel là phát triển một phương pháp điều trị tế bào tiềm năng bằng cách sử dụng các túi ngoại bào exosomes và nạp CBD để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mục đích của công nghệ này là “nhắm mục tiêu vào hệ thống thần kinh trung ương và coronavirus COVID-19”. Các túi ngoại bào exosomes được nạp CBD có khả năng cung cấp tương tác hiệp đồng cao của các đặc tính chống viêm bằng cách nhắm cụ thể vào các cơ quan bị tổn thương chẳng hạn như các tế bào phổi đã bị nhiễm trùng.

Có thể làm gì để tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực này?

Nghiên cứu về tiềm năng y tế của cần sa nổi tiếng vì sự phức tạp của các quy trình ứng dụng và khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp cần sa. Ở Úc, việc chỉ sử dụng CBD mà không có hàm lượng THC trong các hoạt động nghiên cứu yêu cầu cơ sở học thuật đó phải xin giấy phép đặc biệt để cho phép họ thu thập và lưu trữ cannabinoid vì nó vẫn là một loại thuốc thuộc Bảng 9 ở đất nước này mặc dù chúng không có đặc tính tác động đến thần kinh.

Đại dịch COVID-19 có thể sẽ tiếp tục trong nhiều tháng nữa; và đây có thể không phải là loại coronavirus mới nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong đời. Do đó, phận sự nằm ở các chính phủ có trách nhiệm làm cho việc nghiên cứu tiềm năng của các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như cần sa, dễ dàng hơn cho các cơ quan nghiên cứu và phòng thí nghiệm tư nhân.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Health Europa | Medicinal cannabis may play a significant role during COVID-19

Continue reading “Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19”

Cannabinoid có thể giảm triệu chứng của bệnh Parkinson và LID

Theo một nghiên cứu mới công bố, các hợp chất cannabinoid — đặc biệt là cannabidiol (CBD) — có khả năng làm giảm các triệu chứng ở những người mắc bệnh Parkinson và rối loạn vận động do thuốc levodopa (LID).

Dữ liệu cũng cho thấy rằng tác dụng điều trị của CBD có thể liên quan đến việc điều chỉnh trực tiếp các phân tử truyền tin quan trọng trong não và gián tiếp giảm viêm não.

Tuy nhiên, các nghiên cứu lâm sàng trong tương lai là cần thiết để xác nhận những lợi ích tiềm năng này ở những người bị bệnh Parkinson và LID.

Nghiên cứu tổng quan, “Cannabidiol và các hợp chất cannabinoid là chiến lược tiềm năng để điều trị bệnh Parkinson và chứng rối loạn vận động do thuốc L-DOPA,” đã được xuất bản trên tạp chí Nghiên cứu Độc tính Thần kinh (Neurotoxicity Research).

Bệnh Parkinson đặc trưng bởi sự hiện diện của các triệu chứng về vận động, bao gồm run không tự chủ, chuyển động chậm lại, suy giảm khả năng giữ thăng bằng. Tuy nhiên, nó cũng có thể dẫn đến một loạt các triệu chứng không-vận động.

Điều trị lâu dài bằng thuốc levodopa – liệu pháp điều trị Parkinson tiêu chuẩn vàng – sẽ dẫn đến rối loạn vận động do thuốc levodopa dẫn đến rối loạn vận động do thuốc levodopa (viết tắt LID), hoặc cử động giật, không tự chủ ở hơn 50% bệnh nhân Parkinson.

Thuốc Levodopa được sử dụng để giảm bớt các triệu chứng vận động bằng cách phục hồi sự mất mát của dopamine – một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng hoặc phân tử truyền tin trong các tế bào thần kinh ở những bệnh nhân này.

Cả hai tình trạng (mất dopamine và LID) đều có liên quan đến những thay đổi ở hạch nền, một vùng não có chứa chất nền và thể vân có liên quan đến chức năng vận động.

Nhiều nghiên cứu trong thập kỷ qua đã xem xét gai dầu và các thành phần hoạt tính cannabinoid – như là phương pháp điều trị tiềm năng cho các triệu chứng vận động trong một số tình trạng thoái hóa thần kinh.

Cannabinoid và các thụ thể khác trong hệ thống endocannabinoid – một mạng lưới điều biến phức tạp liên quan đến sự phát triển não bộ, trí nhớ, kiểm soát chuyển động, sản xuất hormone và phản ứng miễn dịch – được biết là có tác dụng bảo vệ thần kinh.

Đó là lý do tại sao, “Vận dụng hệ thống endocannabinoid có thể là một liệu pháp đầy hứa hẹn để kiểm soát [bệnh Parkinson] và các triệu chứng LID.” Các nhà nghiên cứu viết.

Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Brazil đã xem xét dữ liệu tiền lâm sàng và lâm sàng về tiềm năng điều trị của các hợp chất cannabinoid ở những người mắc bệnh Parkinson và LID.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống endocannabinoid, bao gồm thụ thể anandamide và các thụ thể cannabinoid của hệ thống endocannabinoid – đã thay đổi ở bệnh nhân Parkinson và các mô hình động vật mắc bệnh. Và việc nhắm mục tiêu vào hệ thống này có thể ngăn ngừa mất tế bào thần kinh sản xuất dopamine, giảm viêm và giảm bớt các triệu chứng của bệnh Parkinson.

Bằng chứng về mối liên quan giữa hệ thống endocannabinoid bị rối loạn điều hòa và LID không mạnh bằng với bệnh Parkinson. Nhưng nhóm nghiên cứu lưu ý rằng vẫn có dữ liệu cho thấy rằng bằng cách điều chỉnh hệ thống này, và đặc biệt là các thụ thể của nó, có thể là một phương pháp điều trị tiềm năng.

Các nhà nghiên cứu viết: “Trong số các cannabinoid được điều tra cho đến nay, CBD là một trong những loại thuốc hứa hẹn nhất trong các thử nghiệm tiền lâm sàng.”

CBD, thành phần không tác động đến thần kinh chính trong cây gai dầu, có liên quan đến nhiều chức năng sinh học quan trọng. Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã gợi ý rằng CBD điều chỉnh giao tiếp thần kinh phụ thuộc-dopamine bằng cách tăng mức dopamine, đồng thời giảm sản xuất các loại oxy phản ứng có hại tiềm ẩn và các phân tử gây viêm.

Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng “Những đặc tính chống viêm và chống oxy hóa này có thể giúp giải thích hành động bảo vệ thần kinh của CBD”.

Hầu hết các nghiên cứu về CBD trong các mô hình động vật của bệnh Parkinson đã chỉ ra rằng CBD làm giảm sự mất mát của các tế bào thần kinh sản xuất dopamine và giảm bớt các triệu chứng vận động. Tuy nhiên, những người khác báo cáo không có lợi ích đáng kể.

Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng cho thấy cannabinoid này làm dịu các triệu chứng ở bệnh nhân Parkinson, nhưng vẫn còn thiếu tác dụng có lợi nhất quán đối với các triệu chứng vận động. Hơn nữa, cho đến nay chưa có nghiên cứu lâm sàng nào tập trung vào tác dụng của CBD trong việc giảm LID ở những người bị bệnh Parkinson.

Một số nghiên cứu báo cáo rằng CBD dẫn đến giảm các triệu chứng rối loạn tâm thần và cải thiện tình trạng cảm xúc, nhận thức, giao tiếp cũng như khả năng vận động và sự khó chịu cơ thể ở bệnh nhân Parkinson. Tuy nhiên, những cải thiện tiềm năng về chức năng vận động này không phản ánh sự khác biệt về tổng điểm vận động so với bệnh nhân dùng giả dược.

Trong khi một số trường hợp báo cáo, các thử nghiệm và khảo sát không kiểm soát cho thấy tác dụng có lợi của cannabinoid ở bệnh nhân Parkinson, chỉ có 4 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược đã phân tích tác động của các cannabinoid khác nhau đối với các triệu chứng vận động của Parkinson chẳng hạn như vận động, run hoặc LID, akinesia (chứng mất vận động).

Các tác giả cũng lưu ý rằng, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự phát triển của LID có liên quan đến tăng mức độ viêm thần kinh, có thể do thuốc levodopa và các phương pháp điều trị Parkinson khác gây ra. Tác dụng có lợi của thuốc chống viêm để giảm bớt các triệu chứng LID cũng củng cố sự đóng góp của viêm trong LID.

Cần có nhiều thử nghiệm lâm sàng hơn để làm rõ tác dụng điều trị của cannabinoid ở những người bị bệnh Parkinson và LID, và liệu sự kết hợp với các hợp chất khác điều chỉnh chứng viêm thần kinh có làm tăng tác dụng của chúng hay không.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Parkinson News TodayCredoweb

Một nghiên cứu mới cho thấy CBD cải thiện hiệu quả của thuốc kháng sinh

Các nhà khoa học tại Đại học Southern Đan Mạch đã công bố một nghiên cứu mới trên tạp chí Scientific Reports cho thấy, CBD có thể hoạt động như một ‘hợp chất trợ giúp’ để cải thiện hiệu quả của thuốc kháng sinh.

Kể từ khi phát hiện ra penicillin vào năm 1928 bởi ông Alexander Fleming – bác sỹ, nhà sinh học người Scotland, thuốc kháng sinh đã cứu sống hàng triệu người khỏi các bệnh nhiễm trùng gây tử vong trên toàn thế giới. Tuy nhiên, theo thời gian, vi khuẩn đã phát triển các cơ chế để thoát khỏi tác dụng của thuốc kháng sinh và trở nên kháng thuốc.

Với số lượng thuốc kháng sinh có sẵn để điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc, khả năng bước vào thời kỳ tiền kháng sinh không còn quá xa.

Tăng cường kháng sinh

Do tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, các chiến lược thay thế mới đang được khám phá và một số ‘hợp chất hỗ trợ’ đang thu hút sự chú ý. Các hợp chất hỗ trợ là các hợp chất không kháng sinh với khả năng tăng cường hiệu quả của thuốc kháng sinh.

Một hợp chất hỗ trợ đã được tiết lộ là cannabidiol (CBD); một cannabinoid từ cây gai dầu.

Phó giáo sư Janne Kudsk Klitgaard và học viên Phd Claes Søndergaard Wassmann là hai tác giả chính và đồng giám sát của nghiên cứu.

Các tác giả nói rằng: ‘Khi chúng tôi kết hợp CBD và thuốc kháng sinh, chúng tôi đã thấy tác dụng mạnh mẽ hơn so với khi điều trị bằng thuốc kháng sinh một mình. Vì vậy, để tiêu diệt một số lượng vi khuẩn nhất định, chúng ta cần ít thuốc kháng sinh hơn.”

Vi khuẩn vô tính lan rộng toàn cầu

Trong nghiên cứu, CBD được sử dụng để tăng cường tác dụng của bacitracin kháng sinh chống lại vi khuẩn staphylococcus aureus – một mầm bệnh chính ở người thường gây ra các bệnh mắc phải tại bệnh viện và nơi công cộng.

Các dòng vô tính đa kháng thuốc của mầm bệnh này đã lan rộng ra toàn cầu. Ở một số quốc gia, việc điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn với những vi khuẩn kháng thuốc này rất khó khăn và vấn đề được dự báo sẽ tiếp tục phát triển.

Theo các nhà nghiên cứu, sự kết hợp giữa CBD và thuốc kháng sinh có thể là một phương pháp điều trị mới đối với các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng kháng sinh.

Vi khuẩn chết đi như thế nào?

Ba điều đã xảy ra với vi khuẩn saphylococcus aureus khi các nhà nghiên cứu điều trị chúng bằng sự kết hợp trong nghiên cứu của họ: Vi khuẩn không còn có thể phân chia bình thường, sự biểu hiện của một số gen quan trọng (phân chia tế bào và gen tự hủy) trong vi khuẩn bị giảm xuống, và màng vi khuẩn trở nên không ổn định.

Theo các nhà nghiên cứu, việc lạm dụng thuốc kháng sinh là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh.

Phó giáo sư Janne Kudsk Klitgaard cho biết: “Nếu chúng ta kết hợp kháng sinh với hợp chất hỗ trợ khác giúp tăng cường tác dụng của kháng sinh, chúng ta sẽ cần ít thuốc kháng sinh hơn để đạt được hiệu quả tương tự. Điều này có thể góp phần phát triển ít vi khuẩn kháng thuốc hơn.”

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Heath Europa | New study shows that CBD improves efficacy of antibiotics

Cần sa y tế giúp bệnh nhân sử dụng ít nguồn lực chăm sóc sức khỏe hơn

Photo: iStock-Jenniferrutledgephotography

Một nghiên cứu mới cho biết: bệnh nhân sử dụng cần sa y tế sử dụng ít nguồn lực trong chăm sóc sức khỏe hơn và chất lượng cuộc sống của họ cũng được cải thiện.

Cho đến nay, đã có rất ít nghiên cứu được thực hiện về việc liệu bệnh nhân cần sa y tế ở Hoa Kỳ có thực sự hưởng được lợi ích cho sức khỏe từ loại thuốc này hay không. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Y Khoa Johns Hopkins và Quỹ Realm of Caring đã khảo sát các bệnh nhân, bệnh nhân báo cáo họ ít đau hơn, ngủ ngon hơn và giảm lo lắng, chất lượng cuộc sống tổng thể tốt hơn.

Các bệnh nhân trên cũng cho biết họ uống ít thuốc kê toa hơn và ít phải đến phòng cấp cứu hoặc nhập viện hơn những người không sử dụng cần sa cho mục đích y tế – điều đó đã cho thấy rằng bệnh nhân cần sa y tế ít phải đầu tư hơn cho các nguồn lực chăm sóc sức khỏe khác bên ngoài.

Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Cannabis and Cannabinoid Research.

Giảm gánh nặng chăm sóc sức khỏe với cần sa y tế

Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng; vì nghiên cứu ban đầu cho thấy lợi ích y tế đối với cần sa, nên cần có thêm kinh phí và các thử nghiệm lâm sàng để xác định những bệnh lý mà loại thuốc này có thể điều trị.

Ông Ryan Vandrey, phó giáo sư khoa Tâm thần học và Khoa học hành vi tại Trường Đại học Y Khoa Johns Hopkins cho biết: “Tôi không ngạc nhiên khi mọi người báo cáo rằng họ cảm thấy tốt hơn khi sử dụng cần sa y tế, nhưng thật bất ngờ khi thấy những người này sử dụng ít nguồn lực chăm sóc sức khỏe hơn.

Khi chúng tôi đánh giá dựa trên những người trước và sau khi sử dụng cần sa y tế, chúng tôi thấy cùng những thay đổi giống hệt nhau được tìm thấy trong so sánh cắt ngang giữa người dùng cần sa và đối tượng kiểm soát sử dụng. Đó là lúc chúng tôi biết rằng mình đã có một xác thực thuyết phục cho thấy lợi ích y tế thực sự của loài cây này.”

Kết quả từ nghiên cứu cho thấy bệnh nhân cần sa y tế báo cáo về chất lượng cuộc sống tốt hơn 8%, giảm 9% điểm đau và giảm 12% điểm lo lắng.

Các bệnh nhân cần sa y tế cũng cho biết họ sử dụng thuốc kê toa ít hơn 14%, khả năng họ phải đến phòng cấp cứu thấp hơn 39% và ít hơn 46% khả năng nhập viện trước khi được khảo sát. Ông Vandrey nói thêm: “Nghiên cứu này là một cái nhìn ở độ cao 9 mét của viễn cảnh và bây giờ chúng ta cần đi sâu vào nghiên cứu để xem những bệnh lý nào thực sự hưởng được lợi ích từ việc sử dụng cần sa trong y tế.”

Ông Vandrey và các đồng nghiệp sẽ bắt đầu nghiên cứu tác động của cần sa y tế đối với chứng bệnh động kinh, bệnh rối loạn lo âu và bệnh tự kỷ.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Heath Europa | Medical cannabis patients use fewer healthcare resources

Cannabidiol (CBD) là gì? Và nó có thể giúp ích như thế nào?

Ngày nay, nhiều người tiêu dùng có ý thức hơn trong việc lựa chọn sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Họ chọn các sản phẩm có nguồn gốc đến từ tự nhiên. Đứng đầu trong danh sách những sản phẩm yêu thích đó là dầu CBD, dầu CBD được lựa chọn vì nhiều lợi ích sức khỏe của nó. Vậy CBD có tác dụng gì? Dầu CBD là một phương thuốc tự nhiên cho những cơn đau mãn tính, bệnh lo âu và trầm cảm. Cannabidiol (CBD) là một cannabinoid có trong cây gai dầu. CBD không tác động đến thần kinh giống như một hợp chất nổi tiếng khác, được gọi là tetrahydrocannabinol (THC),

Ngoài ra, các sản phẩm CBD được biết là có khả năng kiểm soát các triệu chứng của một số bệnh lý y tế.

Tổng quan về CBD

CBD là một trong 113 cannabinoid được tìm thấy trong cây gai dầu. Trái ngược với những quan niệm thông thường về người anh cùng họ, nó không mang đến cảm giác “high” của tetrahydrocannabinol (THC). Ngược lại, nó mang lại hiệu ứng dễ chịu, đó là lý do tại sao nó được sử dụng phổ biến nhất để giảm mức độ căng thẳng.

Khi cơ thể tiêu thụ cannabinoid này, nó sẽ ảnh hưởng đến các thụ thể được gọi là CB1 và CB2. Các thụ thể này được tìm thấy trên khắp cơ thể, nhưng thụ thể CB1 chủ yếu được tìm thấy trong não trong khi thụ thể CB2 chủ yếu được tìm thấy trên tế bào của hệ thống miễn dịch. Mạng lưới phức tạp này được gọi là hệ thống endocannabinoid (ECS).

Sự tương tác giữa CBD và hệ thống ECS trong cơ thể chúng ta làm giảm chứng viêm và cảm giác đau. Đáng chú ý, CBD cũng giúp tăng cường mức độ anandamide trong cơ thể. Phân tử này hoạt động xuyên suốt hệ thống endocannabinoid, hay còn được gọi là “phân tử phúc lạc”.

Nó chịu trách nhiệm cho hiệu ứng “runner high” mà tất cả chúng ta trải qua trong hoặc sau khi tập thể dục cường độ cao.

Dầu CBD tốt cho điều gì?

Nghiên cứu cho thấy rằng dầu CBD có thể tốt cho một số bệnh lý. Dưới đây là danh sách những lợi ích mà hợp chất này có thể mang lại.

– Chống mụn trứng cá: Nhờ khả năng điều chỉnh sản xuất bã nhờn trong cơ thể, CBD có thể là câu trả lời cho tình trạng mụn trứng cá phổ biến ở nhiều người.

– Giảm co giật: Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng nhỏ cho thấy CBD có thể giúp giảm co giật ở những người bị bệnh động kinh.

– Giảm đau: Vì CBD hoạt động trực tiếp đến các thụ thể đau trong hệ thống ECS, hầu hết mọi người sử dụng dầu CBD để giảm đau do viêm khớp hoặc chấn thương.

– Giảm chứng mất ngủ: CBD có thể làm giảm các triệu chứng mất ngủ bằng cách giúp người dùng bình tĩnh và thư giãn. Điều này giúp bạn có giấc ngủ ngon và dài hơn.

Điều quan trọng cần lưu ý là dầu CBD không phải là chất thay thế cho bất kỳ loại thuốc kê đơn nào, nhưng nó có hàng loạt những lợi ích riêng. Nếu bạn có bất kỳ nghi ngờ nào về cách sử dụng dầu CBD, bạn có thể tham khảo ý kiến bác sĩ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hoạt chất này không có khả năng bị lạm dụng hoặc phụ thuộc.

Các sản phẩm CBD được phân loại ở các dạng chiết xuất toàn phần, phổ rộng (broad-spectrum) và phân lập (isolate). Sự khác biệt chính giữa ba loại là sự hiện diện của các cannabinoid khác. Ví dụ, CBD phân lập chỉ chứa cannabidiol tinh khiết.

Mặt khác, CBD chiết xuất toàn phần và CBD phổ rộng chứa các cannabinoid khác được chiết xuất từ nguyên liệu thực vật thô ngoài cannabidiol. Chiết xuất toàn phần còn chứa một lượng nhỏ THC trong khi phổ rộng không có THC.

CBD chiết xuất toàn phần có số lượng cannabinoid nhiều nhất – tất cả hợp lại để mang lại lợi ích y tế mạnh nhất. Lượng THC hợp pháp được phép có trong tất cả các sản phẩm CBD là 0,3%. Lượng THC nhỏ đó sẽ không làm cho sản phẩm có tác dụng ảnh hưởng đến tâm lý.

CBD có hợp pháp không?

Khi Dự luật Nông trại (Farm Bill) được ký thành luật vào tháng 12 năm 2018, chiết xuất CBD từ cây gai dầu và các sản phẩm có lượng THC dưới 0,3% đã được hợp pháp hóa ở cấp liên bang.
Gần đây, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã phê duyệt Epidiolex, loại thuốc có chứa cannabidiol (CBD) với thành phần hoạt tính. Công dụng của nó là điều trị các cơn co giật liên quan đến hai dạng động kinh hiếm gặp là hội chứng Lennox-Gastaut (LGS) hoặc hội chứng Dravet ở bệnh nhi từ 2 tuổi trở lên. Đây là loại thuốc CBD kê toa đầu tiên được FDA chấp thuận.

Tóm lược

Sự gia tăng của CBD và THC chỉ mới bắt đầu với một loại thuốc được FDA chấp thuận. Với nhiều nghiên cứu hơn nữa trong tương lai, hy vọng rằng tinh dầu từ thiên nhiên này có thể giúp chữa khỏi dứt điểm các bệnh lý lâu đời ở người.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Chiang Rai Times | What is Cannabidiol CBD Oil from Cannabis Good For?

Thị trường cần sa và thực phẩm CBD toàn cầu có thể tăng lên tới 6,56 tỷ đô la vào đầu năm 2024, theo một báo cáo mới từ Prohibition Partners

Thị trường cần sa và thực phẩm CBD toàn cầu có thể tăng lên tới 6,56 tỷ đô la vào đầu năm 2024, theo một báo cáo mới từ Prohibition Partners.

Với tiêu đề “The Impact Series: Disrupting Food”, báo cáo này khẳng định rằng 27% tất cả những người tiêu dùng trong thị trường thực phẩm cần sa và CBD lần đầu tiên thử các sản phẩm này trong vòng 6 tháng qua và bản thân thị trường có thể có trị giá lên đến 2,57 tỷ đô la vào cuối năm 2020.

Theo báo cáo, thị trường Hoa Kỳ được coi là đnag ở giai đoạn“trưởng thành” và có đến 35% người tiêu dùng Hoa Kỳ đã mua các sản phẩm thực phẩm chiết xuất từ ​​hạt gai dầu / CBD trong 12 tháng qua, trong khi 55% người tiêu dùng còn lại “có thể sẽ mua trong 12 tháng tới”. Ở Canada, tỷ lệ này thấp hơn một chút – lần lượt là 30% và 49%. Thị trường Châu Âu vẫn được coi là “thị trường mới nổi” trong nghiên cứu, với mức độ trải nghiệm của người tiêu dùng đối với các sản phẩm như vậy thấp hơn đáng kể. Điều này đặc biệt rõ ràng đối với trường hợp của Pháp, nơi chỉ có 12% người tiêu dùng tiêu thụ CBD / thức ăn chứa gai dầu trong 12 tháng qua, và chỉ có 17% đã không mua và tiêu thụ sản phẩm nhưng nghiên cứu ước tính có lẽ điều ấy sẽ sớm diễn ra trong 12 tháng tới.

Báo cáo này khẳng định, thị trường thực phẩm có nguồn gốc từ gai dầu / cần sa tương tự như ngành công nghiệp vaping ở chỗ sự trỗi dậy của nó có thể ít nhất một phần là do mong muốn của người tiêu dùng đang tìm kiếm những lựa chọn thay thế lành mạnh hơn cho việc hút thuốc. Theo báo cáo, mong muốn này đã được thúc đẩy ở một mức độ lớn nhờ vào đại dịch COVID-19.

“Xu hướng này hiện đã được kết hợp bởi dịch coronavirus gần đây và việc tích trữ các sản phẩm không khói khi người tiêu dùng tìm cách đảm bảo nguồn cung cấp của họ trong thời gian lockdown và tìm kiếm các sản phẩm không ảnh hưởng đến sức khỏe phổi của họ.” Prohibition Partners cho biết.

Ngoài ra, báo cáo nói rằng cần sa “ngày càng được xác định bởi nền tảng y tế và sức khỏe, với cần sa dạng thực phẩm tự hào có thêm lợi thế là có thể bắt kịp các xu hướng hoàn toàn tự nhiên trong ngành công nghiệp thực phẩm.”

Các công ty cũng có thể đạt được thành công trong việc tiếp thị thức ăn cho người sành ăn như một sản phẩm dành cho người sành ăn cao cấp hoặc chất xúc tác xã hội, nó có thể được tiêu thụ dành cho những dịp đặc biệt, làm quà tặng vào Ngày lễ Tình Nhân, hoặc — nếu khung pháp lý được đưa ra – nó sẽ được bán như một mặt hàng cao cấp tại các cửa hàng ăn uống và các cơ sở khách sạn, theo nghiên cứu.

Tuy nhiên, đối với các công ty nhỏ hơn, sự phát triển bùng nổ của ngành công nghiệp cần sa có thể có nghĩa là một trở ngại ở phía trước, báo cáo nêu rõ.

“Với ngành công nghiệp cần sa non trẻ hiện đang bị thống trị bởi các thương hiệu nhỏ độc lập, việc mở cửa ngành thông qua thay đổi luật pháp và mua lại bởi các công ty lớn hơn có nghĩa là các công ty này phải đối mặt với sự cạnh tranh đáng kể từ các đại gia cần sa quốc tế và đa quốc gia. Do đó, thách thức đối với các thương hiệu thực phẩm từ cần sa nhỏ hơn sẽ tìm cách để giữ chân khách hàng của họ khi đối mặt với sự phát triển thương hiệu và chi tiêu tiếp thị lớn hơn của các tập đoàn cần sa. ”

Tương lai của ngành công nghiệp sản xuất cần sa rất phức tạp phần lớn bởi một loạt các quy định xoay quanh thực tế rằng chúng được coi là cả thực phẩm và dược phẩm. Điều này đặc biệt đúng ở Hoa Kỳ, nơi có sự chắp vá các quy định khác nhau giữa các tiểu bang.

Báo cáo nêu ra chi tiết về tiềm năng của thị trường phụ thuộc vào việc Ủy ban Châu Âu có quyết định phân loại lại CBD chiết xuất và cồn thuốc như một loại thực phẩm mới thay vì như một chất gây nghiện hay không, điều mà trước đó đã khiến thị trường thực phẩm CBD ở Châu Âu trở nên bất hợp pháp.

“Chúng tôi liên tục nhận thấy sự thay đổi về bối cảnh quy định với những thay đổi tiềm năng từ cả Liên hợp Quốc và Ủy ban Châu Âu. Điều này, cùng với thực tế là người tiêu dùng ở khu vực trung tâm hiện đại đang thay đổi thái độ, cách sử dụng và hành vi của họ. Điều đó cũng có nghĩa là những người tham gia thị trường và các nhà sản xuất lâu đời trong ngành đang phải chiến đấu với một cuộc chiến khó khăn .” CEO và Giám đốc Điều hành của Prohibition Partners, ông Stephen Murphy cho biết

Trong năm 2020, cũng đã có số liệu ngày càng tăng về đồ uống cần sa. Theo báo cáo của BDSA Analytics từ tháng 6 (Cannabis Trends & The Impact on Beverage Alcohol) – từ năm 2019 đến năm 2020, doanh số bán đồ uống có chứa THC đã tăng 69%, doanh số bán trà từ cần sa / gai dầu tăng 14%, doanh số bán nước giải khát cần sa có gas tăng 9%, và doanh thu của đồ uống có cồn và chứa THC đã tăng 61%.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: The Cannigma | ‘Cannabis Food Market Could Be Worth Nearly $7B by 2024

Nền kinh tế nông nghiệp của Hawaii đặt nhiều hy vọng vào cây gai dầu sau khi các cây trồng khác không sản xuất đủ để lấp đầy khoảng trống kinh tế

Những người ủng hộ xây dựng ngành công nghiệp cây gai dầu mạnh mẽ hơn ở Hawaii đang hy vọng loài cây trồng này sẽ khôi phục lại truyền thống nông nghiệp sâu sắc của tiểu bang quần đảo này sau khi cây mía và cây dứa bị nhổ bỏ khiến hàng chục nghìn mẫu Anh đất đai bị bỏ hoang.

Kể từ năm 1980, tổng diện tích đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp của Hawaii đã giảm từ hơn 350.000 mẫu xuống còn 30.000 mẫu sau khi sản xuất mía và dứa chuyển sang các địa phương rẻ hơn, theo dữ liệu từ Đại học Hawaii.

Đường là cây trồng lớn nhất của bang – và thậm chí đã giúp Hawaii đạt được vị trí tiểu bang vào năm 1959 – nhưng công ty sản xuất đường cuối cùng của bang với thâm niên kinh doanh hơn 140 năm, đã ngừng hoạt động vào năm 2017.

Các cây trồng phụ như lâm nghiệp thương mại và hạt mắc ca đã không sản xuất đủ để lấp đầy khoảng trống kinh tế – theo tờ The Washington Post.

Với tình trạng đại dịch coronavirus đang đe dọa nền kinh tế du lịch địa phương, một động thái nhằm mở rộng sản xuất cây gai dầu từ một chương trình thử nghiệm sang một ngành công nghiệp chính thức.

Các nhà lập pháp của Hawaii đang nhận ra sự cần thiết phải đa dạng hóa và nông nghiệp là một ngành mà họ đang tìm cách hỗ trợ, cả trong việc để thúc đẩy an ninh lương thực và xây dựng nền kinh tế, ông Adolph Helm, người bản địa Hawaii nói với tờ Hemp Industry Daily.

Đó là nơi cây gai dầu xuất hiện. Ông tiếp tục.

“Đặc biệt là trong thời gian đầy thử thách này với đại dịch COVID-19, công bằng mà nói rằng cây gai dầu đã đóng góp tích cực cho nền kinh tế – ít nhất là ở đây trên Molokai – và phần nào có lợi cho các doanh nghiệp khác khi bạn bắt đầu xem xét các lợi ích phụ trợ mà những gì chúng tôi làm mang lại cho cộng đồng rộng lớn hơn ở Hawaii.” – Ông Helm, tổng giám đốc của Archipelago Ventures cho biết.

Cây gai dầu có giá trị cao

Sarah Reiter – Giám đốc thương mại của công ty công nghệ sinh học Arcadia Biosciences cho biết, so với các cây trồng có lợi nhuận thấp như đường và dứa, các trang trại trồng cây gai dầu có thể mang nguồn vốn mới vào Hawaii vì cây gai dầu là cây trồng có giá trị cao, do đó sản xuất hàng tiêu dùng địa phương có giá trị cao hơn.

Thêm vào đó, các sản phẩm được sản xuất tại Hawaii và có nguồn gốc từ Hawaii theo truyền thống đã được người tiêu dùng đón nhận vì “đặc tính độc đáo” mà bang đảo có, cũng như việc xử lý đất đai một cách bền vững và coi trọng việc quản lý đất đai, cô Reiter nói.

“Chúng tôi cam kết duy trì điều đó và làm việc với nông dân Hawaii để giúp họ định vị sản phẩm và tiếp cận các thị trường nơi các nguyên liệu do Hawaii sản xuất, cho dù đó là những thứ như cà phê Kona hay cây gai dầu Hawaii, có thể chiết xuất nhiều giá trị hơn – được cảm nhận và thực tế hơn.”

Arcadia Biosciences, một công ty khổng lồ về công nghệ sinh học 18 tuổi có trụ sở tại California với nguồn gốc từ lúa mì và ngô, đa dạng hóa thành cây gai dầu khi nông dân trồng lúa mì từ thảo nguyên đất liền. Hawaii đã được cấp phép trong chương trình thử nghiệm cây gai dầu vào năm 2014, họ đã trình bày chi tiết một số thách thức mà họ phải đối mặt với việc di truyền hạt gai dầu không ổn định và không nhất quán.

“Chúng tôi cảm thấy đây là một cơ hội tuyệt vời để làm những gì chúng tôi làm, đó là mang lại những cải tiến cho cây trồng có lợi cho người tiêu dùng hoặc mang lại lợi ích cho nông dân – và đây là cơ hội rất lớn cho cả hai.” Reiter nói.

Công ty đã thành lập một bộ phận gai dầu mang tên Arcadia Specialty Genomics vào năm 2019 với một cơ sở trồng cây gai dầu rộng 10 mẫu Anh trên đảo Molokai, nằm giữa các đảo Oahu và Maui.

Đa dạng hóa nền kinh tế

Các nhà lập pháp Hawaii gần đây đã thông qua dự luật cây gai dầu sẽ đưa chương trình thí điểm hiện có của tiểu bang tuân thủ Dự luật Nông trại năm 2018 và các quy tắc cuối cùng tạm thời của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Biện pháp này cũng sẽ cho phép chế biến và bán các sản phẩm từ cây gai dầu trong tiểu bang.

Dự luật, đang chờ chữ ký của Thống đốc David Ige, cấm gai dầu có thể tiêu thụ qua đường hút-hít, CBD tổng hợp và thức ăn có chứa CBD nhưng cũng mở ra cơ hội mới cho nông dân Hawaii bản địa.

Ở Molokai, nơi dân cư chủ yếu là người Hawaii bản địa và các giá trị truyền thống, di sản và quản lý nông nghiệp được bảo tồn kịch liệt, nông nghiệp là ngành sử dụng lao động lớn nhất.

Công ty hạt giống Big Ag – hầu hết chuyên về ngô – đã thành lập hoạt động ở đó hơn 60 năm qua.

Ông Helm cho biết những công ty này chịu trách nhiệm phần lớn trong việc phát triển diện tích đất bỏ hoang bằng cách lắp đặt hệ thống tưới tiêu và chuẩn bị sẵn sàng cho các vụ mùa mới.

Mùa thu năm ngoái, công ty Arcadia Biosciences thông báo họ sẽ mở rộng cơ sở trồng cây gai dầu hiện có của mình lên 30 mẫu Anh và mở rộng diện tích trồng cây gai dầu ở Hawaii của mình thông qua liên doanh với Legacy Ventures Hawaii để thành lập Archipelago Ventures – đưa công ty trở thành nhà tuyển dụng hàng đầu trên đảo, với khoảng 90% nhân viên là người Hawaii bản địa, theo ông Helm.

Liên doanh thiết lập một cấu trúc tích hợp theo chiều dọc bao gồm nhân giống cây trồng, sản xuất hạt giống và cây trồng cũng như một cơ sở chế biến cây gai dầu, chiết xuất dầu và sản xuất sản phẩm, dự kiến ​​sẽ khai trương trong tháng Bảy, ông Helm cho biết.

Thêm một sự thật thú vị khác. Cựu cầu thủ bóng chày của Liên đoàn bóng chày Shane Victorino, một người gốc Hawaii, là hiệu trưởng của công ty – cùng với những người dân bản địa khác.

Thách thức sản xuất

Các quan chức nông nghiệp bang cho biết Hawaii có thể đón ba đến bốn vụ cây gai dầu mỗi năm vì khí hậu chủ yếu là nhiệt đới. Nhưng cho đến nay, bang này đã phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp này.

Hơn 50% cây gai dầu năm 2019 của Hawaii đã phải bị tiêu hủy vì nồng độ THC cao – một vấn đề mà các quan chức nông nghiệp cho là do thiếu giống cây gai dầu phù hợp với khí hậu nhiệt đới.

Thời tiết nhiệt đới làm cho nó trở thành một thách thức đối với những người nông dân làm việc với các giống cây gai dầu nhạy cảm với ánh sáng ban ngày được trồng ở Colorado, Kentucky và Oregon, Reiter nói.

Đó là một vấn đề mà Archipelago Ventures hy vọng sẽ khắc phục được thông qua các nỗ lực lai tạo giống nhiệt đới tập trung tại chỗ.

“Là một công ty giống cây trồng, việc tìm ra những thiếu sót của một số khía cạnh của cây trồng cũng quan trọng như việc tìm ra những thành công. Vì vậy một phần lớn của quá trình phát triển bao gồm việc trồng giống và xem các nhà nông học đã phát hiện ra điều gì về cách chúng phát triển khác nhau trong khí hậu và vĩ độ của Hawaii.”Reiter nói.

Liên doanh mới đã giới thiệu một giống gai dầu tự động nở hoa để hỗ trợ chu kỳ tăng trưởng quanh năm mà không bị cản trở bởi các hạn chế nông học về thời gian.

Trên đất liền, công ty Arcadia Biosciences sẽ có các loại giống trong 9 thử nghiệm tại các trường đại học trên toàn nước Mỹ vào mùa hè này, cũng như một loạt các thử nghiệm của nông dân.

Tôn trọng phát triển

Theo ông Helm, về mặt nông học, khí hậu nhiệt đới và sản xuất quanh năm của Hawaii thể hiện những cuộc đấu tranh với sâu bệnh mà Arcadia đang nỗ lực giải quyết, theo Helm.

Ông Helm nói với Hemp Industry Daily: “Cây gai dầu đã có từ nhiều thế hệ, nhưng người ta không sản xuất cây gai dầu ở quy mô sản xuất.”

Công ty đã bận rộn phát triển kiến ​​thức nông học về các sắc thái của việc sản xuất cây gai dầu ở Hawaii, đồng thời tạo ra một “cuốn sách công thức” về các phương pháp quản lý tốt nhất để cung cấp cho những người trồng trọt ở Hawaii quan tâm đến tính bền vững, để họ có thể thành công với vụ mùa mới.

Ông Helm cho biết: “Ở Hawaii, toàn bộ nền văn hóa là người Hawaii, và họ cực kỳ nhạy cảm với các hoạt động bảo tồn.

“Vì vậy, chúng tôi đang làm việc để đảm bảo rằng chúng tôi kết hợp tư duy đó, để hợp tác, nhạy cảm về văn hóa và tôn trọng cộng đồng trên đảo liên quan đến đất và tài nguyên của họ.”

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Hemp Industry Daily | Hawaii’s agricultural economy has high hopes for hemp after sugar cane, pineapple pull out

Bài viết được xem nhiều nhất