Kỷ lục số lượng các bài báo khoa học được xuất bản vào năm 2020 về cần sa 

Vào năm 2020, các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã công bố kỷ lục hơn 3.500 bài báo khoa học về chủ đề cần sa, theo dữ liệu do Thư viện Y khoa Quốc gia và PubMed.gov tổng hợp.

Bất chấp những tuyên bố của một số người cho rằng cần sa chưa được kiểm tra kỹ lưỡng về mặt khoa học, nhưng sự quan tâm của giới khoa học đối với cần sa đã tăng lên theo cấp số nhân trong những năm gần đây.

Kể từ năm 2010, các nhà khoa học đã xuất bản hơn 23.000 bài báo được bình duyệt về cần sa, với số lượng bài báo hàng năm tăng lên hàng năm. Trước đó, các nhà nghiên cứu đã xuất bản tổng số ít hơn 3.000 bài báo về cần sa trong những năm từ 1990 đến 1999 và ít hơn 2.000 tổng số nghiên cứu trong những năm 1980.

Nghiên cứu về cần sa năm 2020

Một bài báo năm 2018 đánh giá xu hướng nghiên cứu cần sa đã kết luận rằng, phần lớn sự quan tâm tăng lên là kết quả của sự tập trung mới của các nhà nghiên cứu vào các hoạt động điều trị y tế. Các nhà điều tra báo cáo rằng tổng số ấn phẩm được bình duyệt dành riêng cho cần sa y tế đã tăng gấp 9 lần kể từ năm 2000.

Tổng cộng, PubMed.gov hiện trích dẫn hơn 35.000 bài báo khoa học về cần sa.

Có sẵn cho công chúng trực tuyến từ năm 1996, PubMed là một nguồn tài nguyên miễn phí hỗ trợ việc tìm kiếm tài liệu y khoa và khoa học đời sống.

 

Nguồn: NORML | Record Number of Scientific Papers Published in 2020 About Cannabis

Dịch giả: Sadie Pices

Cần sa y tế & Hiệu quả chống viêm

Đau do viêm dường như sẽ ảnh hưởng đến tất cả người trưởng thành tại một số thời điểm nhất định trong cuộc sống của họ, và đối với một số người, nó sẽ trở thành tình trạng mãn tính và cản trở chất lượng cuộc sống thường ngày.
Thuốc chống viêm không kê đơn (OTC) và kê đơn có thể dễ dàng tìm ở bất kỳ đâu, dễ kê đơn và được sử dụng rất phổ biến. Thuốc chống viêm phổ biến nhất được gọi là NSAIDs: thuốc chống viêm không chứa steroid. Dựa trên các câu trả lời trong một khảo sát về người tiêu dùng, hơn 17 triệu người Mỹ dùng NSAIDs hàng ngày, với hơn 70 triệu đơn thuốc và hơn 30 tỷ viên NSAID không kê đơn được bán hàng năm tại Hoa Kỳ. Thuốc NSAIDs không kê đơn bao gồm aspirin, ibuprofen, naproxen và NSAIDs kê đơn bao gồm celecoxib, diclofenac, etodolac và ketoprofen.
NSAIDs hoạt động bằng cách ngăn chặn các enzyme COX-1 và COX-2. Các enzyme này tạo ra một nhóm các hợp chất mà được tạo ra bởi các tế bào của chúng ta, được gọi là prostaglandin. Prostaglandin được tạo ra bởi các enzyme COX-1, kích hoạt tiểu cầu (để đông máu) và bảo vệ niêm mạc dạ dày và đường ruột của bạn. Prostaglandin được tạo ra bởi các enzyme COX-2 để phản ứng với các vết thương hoặc nhiễm trùng, và điều hòa tình trạng viêm. Hầu hết các NSAID hoạt động không chọn lọc trên cả 2 enzyme (ngoại trừ celecoxib là chất ức chế COX-2). Cơ chế hoạt động thiếu chọn lọc này đã trở thành thử thách vì tác dụng giảm đau và giảm viêm từ NSAIDs đến từ khả năng ngăn chặn COX-2, nhưng không may là COX-1 cũng bị ngăn chặn, gây ra các tác dụng phụ không mong muốn.

CÁC TÁC DỤNG PHỤ NGHIÊM TRỌNG

Những tác dụng phụ và biến chứng của NSAIDs rất thường xảy ra và mang tính nghiêm trọng. Trong một nghiên cứu, nguy cơ xảy ra các phản ứng phụ của NSAIDs lên đến 26%. Các biến chứng bao gồm chảy máu và loét đường tiêu hóa trên, ợ chua, ù tai, đau đầu, chóng mặt, các vấn đề về gan hoặc thận, phù chân, huyết áp cao, đau tim, suy tim, đột quỵ và thậm chí là tử vong.
Vào tháng 6 năm 1999, Tạp chí Y khoa New England ước tính rằng có 16.500 ca tử vong mỗi năm liên quan đến NSAID, xảy ra ở những người Mỹ bị viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp. Hơn 100.000 người sử dụng NSAID phải nhập viện mỗi năm vì các biến chứng đường tiêu hóa. Năm 2005, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) Hoa Kỳ đã đưa ra khuyến cáo y tế cộng đồng, cảnh báo mọi người về việc gia tăng nguy cơ tim mạch khi sử dụng NSAID, và một lần nữa vào năm 2007, họ đã ban hành hướng dẫn sử dụng thuốc NSAID khuyến cáo liều lượng thấp nhất có thể cho bệnh nhân sử dụng các loại thuốc này. Tháng 1 năm 2016, FDA đã tăng cường cảnh báo trên các nhãn dán hiện hành của các loại thuốc NSAID về nguy cơ đau tim và đột quỵ gia tăng. Một số loại NSAID như rofecoxib (tên thương hiệu Vioxx) và valdecoxib (tên thương hiệu Bextra) đã bị loại bỏ khỏi thị trường do rủi ro của chúng rõ ràng lớn hơn lợi ích mà nó mang lại và sự “trình bày thông tin sai lệch” của các công ty này.
Là một bác sĩ chuyên về sử dụng cần sa y tế trong điều trị, tôi thấy những số liệu thống kê và các cảnh báo của FDA thật kinh khủng. Việc sử dụng các loại thuốc nguy hiểm thay vì một loài thực vật có thể chữa bệnh và không độc hại đơn giản là một điều nực cười.

CẦN SA & VIÊM

Hơn 2 thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu đã chứng minh tác dụng chống viêm của các loại phytocannabinoid và terpenoid, hợp chất có rất nhiều trong cây gai dầu (cần sa). Các hợp chất cannabinoid thực vật có nhiều cơ chế hoạt động khác nhau trong đặc tính chống viêm của chúng, bao gồm việc ngăn chặn các hợp chất gây viêm được tạo ra trong cơ thể do bị thương hay ốm. Axit cannabidiolic (CBA), tiền chất của loại cannabinoid không gây hiệu ứng tâm lý (CBD), cho thấy có khả năng ngăn chặn enzyme COX-2 một cách đáng kể khi so sánh với giả dược, hai loại NSAID và các hợp chất cannabinoid khác. Trong một nghiên cứu năm 2005, Tiến sĩ Ethan Russo và Tiến sĩ Geoffrey Guy đã báo cáo rằng phytocannabinoid hoạt động hiệp đồng (“hiệu ứng entourage”) để cung cấp tác dụng cân bằng và không độc hại khi so sánh với thuốc chống viêm đơn phân.
Bệnh nhân bị viêm có nhiều sự lựa chọn khi cân nhắc sử dụng thuốc từ cần sa. Họ có thể lựa chọn các phương pháp sử dụng “dạng không hút” khác nhau như cồn thuốc, dạng ăn, dạng bôi và dạng hóa hơi, ngoài ra bệnh nhân có thể lựa chọn sử dụng kết hợp nhiều loại cannabinoid với nhau. Chẳng hạn như, họ có thể sử dụng thuốc cần sa giàu THC, giàu CBD, hay CBD+THC, THCA và/hoặc CBG. Một số nhà sản xuất thuốc cần sa đang kết hợp các hợp chất cannabinoid dạng thô với cannabinoid được gia nhiệt trong cồn thuốc để gia tăng tác dụng chống viêm. Nhiều bệnh nhân báo cáo rằng họ nhận thấy được nhiều tác dụng tích cực từ việc uống nước ép thô từ cây cần sa. Trong quá trình hành nghề y của tôi, tôi đã chứng kiến được hàng ngàn bệnh nhân có sử dụng thuốc từ cần sa đã ngừng hay giảm thiểu nhu cầu sử dụng NSAID, giúp làm giảm nguy cơ bị các tác dụng phụ hoặc thậm chí là tình trạng tử vong.
Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Project CBD – Trade in Your Ibuprofen for Cannabis

Nghiên cứu mới về vai trò của cannabinoid trong sức khỏe răng miệng

Sức khỏe răng miệng là một phần thiết yếu của vấn đề giữ gìn vệ sinh và sức khỏe tổng quát. Vệ sinh răng miệng kém có thể dẫn đến sâu răng, viêm nướu, và nhiễm trùng nướu, nếu không được chữa trị kịp thời, sẽ dẫn đến tình trạng viêm toàn thân. Gần đây, một số sản phẩm nha khoa có chứa cannabidiol (CBD) và các hợp chất cannabinoid khác có nguồn gốc thực vật đã được ra mắt trên thị trường. Mặc dù chúng tôi thấy có nhiều sản phẩm kỳ lạ với lợi ích không rõ ràng (chẳng hạn như gối và quần áo thể thao tẩm CBD) được tung ra thị trường vào thời gian gần đây, tuy nhiên các sản phẩm chứa CBD có thể thật sự mang đến một tương lai đầy hứa hẹn đối với vấn đề sức khỏe răng miệng.
Khi ai đó nói về liệu pháp điều trị bằng gai dầu, sức khỏe răng miệng nhìn chung không phải là chủ đề thường được đưa ra trong cuộc thảo luận. Nhưng các dữ liệu gần đây cho thấy hợp chất cannabinoid có thể trở thành một sản phẩm chủ lực đối với lĩnh vực nha khoa trong một vài năm tới. Một số thương hiệu sản xuất kem đánh răng đã thực hiện các nghiên cứu và cho biết rằng CBD và các hợp chất cannabinoid khác có nguồn gốc thực vật có đặc tính kháng khuẩn liên quan đến việc chăm sóc răng miệng. Colgate đã mua lại một công ty sản xuất kem đánh răng và nước súc miệng có chứa CBD.

TỐT HƠN CẢ COLGATE

Năm 2020, một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu ở Bỉ cho thấy rằng các hợp chất cannabinoid có hiệu quả hơn trong việc làm giảm số lượng vi khuẩn trong các mảng bám trên răng so với các sản phẩm chăm sóc răng tổng hợp nổi tiếng, chẳng hạn như Oral B và Colgate. Để chứng minh điều này, các nhà nghiên cứu đã chọn ra 60 người trưởng thành khỏe mạnh và xếp họ thành 6 nhóm khác nhau dựa trên chỉ số điểm nha chu của Hà Lan (DPSI), đây là chỉ số đại diện cho các mức độ khỏe mạnh khác nhau của nướu.
Các mảng bám được lấy từ các khoảng trống giữa các răng, và sau đó được đặt vào 2 đĩa petri riêng biệt. Sau đó, phân chia các đĩa thành bốn phần, và trên mỗi phần, cannabinoid (12,5%) hay kem đánh răng (không pha loãng) được trải đều trên bề mặt của đĩa thạch bằng các bàn chải nhỏ. Trên đĩa petri A, sự kết hợp giữa 4 cannabinoid thực vật – CBD, cannabichromene (CBC), cannabiniol (CBN) và cannabigerol (CBG) được sử dụng. Và trên đĩa petri B, axit cannabigerolic (CBGA), Oral B, Colgate, và Cannabite F (công thức kem đánh răng giữa lựu và tảo) được sử dụng. Kết quả là số lượng khuẩn lạc thu được ở các khu vực sử dụng Colgate, Oral B và Cannabite F cao hơn nhiều, trong khi số lượng khuẩn lạc ít hơn một cách đáng kể ở các phần có chứa các hợp chất cannabinoid.
Trong nghiên cứu tiếp theo, các nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng nước súc miệng có chứa CBD và CBG <1% (không chứa cồn hay fluoride) có hiệu quả tương đương với nước súc miệng có chứa 0.2% chlorhexidine trong việc làm giảm mảng bám trên răng. Đây là một phát hiện rất thú vị và quan trọng vì nước súc miệng chlorhexidine hiện được xem là tiêu chuẩn vàng trong lĩnh vực nha khoa để làm giảm mảng bám trên răng. Nghiên cứu này được thiết kế tương tự như nghiên cứu đầu tiên, chọn ra 72 người trưởng thành khỏe mạnh và xếp họ vào các nhóm khác nhau dựa trên điểm số DPSI của họ và sau đó lấy và cho các mảng bám vào đĩa. Vùng ức chế vi sinh vật được đo để so sánh hiệu quả của từng sản phẩm.
Dựa vào những phát hiện này, dường như các công thức từ cannabinoid cho ra những kết quả đáng mong đợi, thậm chí là còn hơn cả nước súc miệng chlorhexidine truyền thống, vốn có xu hướng làm ố răng khi sử dụng thường xuyên.

LƯU Ý

Bằng cách làm nổi bật tiềm năng của CBD và các hợp chất cannabinoid khác từ thực vật trong việc ngăn ngừa sự hình thành mảng bám trên răng, hai nghiên cứu này gợi ý rằng vai trò của cannabinoid trong lĩnh vực nha khoa có thể là rất lớn. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là đây là những nghiên cứu sơ bộ in vitro và cần có thêm các nghiên cứu in vivo và thử nghiệm lâm sàng để đánh giá đầy đủ tính an toàn và hiệu quả lâu dài của các sản phẩm vệ sinh răng miệng có chứa CBD. Ngoài ra, điều tối quan trọng là những phát hiện này phải được các nhóm tiếp tục nhân rộng và cùng nhau nghiên cứu.
Tác giả: Kyle Boyar là một nhà khoa học nghiên cứu về gai dầu có nền tảng kiến thức về sinh học thần kinh, vi sinh và hóa phân tích. Ông hiện đang là Giám đốc Sản phẩm Khoa học tại TagLeaf và cũng là Phó chủ tịch của American Chemical Society’s Cannabis Chemistry Subdivision (CANN).
Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Project CBD – CBD Dentistry

Một đánh giá khả quan về cơ chế hoạt động của CBD và những ứng dụng tiềm năng của nó trong liệu pháp điều trị ung thư

“CBD đã chứng minh được tác dụng chống tăng sinh và kích hoạt sự chết tế bào (apoptosis) mạnh mẽ trên nhiều loại ung thư khác nhau bao gồm cả trên các tế bào ung thư được nuôi cấy và tế bào ung thư trong mô hình thử nghiệm trên chuột”.

Cơ chế chống khối u là khác nhau tùy thuộc vào từng loại khối u, từ cơ chế ngừng chu chuyển tế bào đến tự thực bào, chết tế bào, hay sự kết hợp giữa các cơ chế.

Ngoài ra CBD cũng có thể ức chế khả năng di chuyển, xâm lấn và tạo mạch máu mới của khối u. Điều này cho thấy rằng CBD không những có thể tác động lên tế bào khối u mà còn ảnh hưởng đến vi môi trường quanh khối u, chẳng hạn bằng cách điều chỉnh sự xâm nhập của tế bào trung mô và tế bào miễn dịch.

Sự phụ thuộc của CBD vào các thụ thể của các endocannabinoid, CB1 và CB2, hoặc những thụ thể thuộc họ TRPV của các kênh trao đổi canxi, là khác nhau, cho thấy CBD có thể có đa đích tế bào và/hoặc những tế bào đích khác nhau trong các khối u khác nhau.

Về mặt cơ chế, CBD dường như có thể phá vỡ cân bằng nội môi oxy hóa khử của tế bào và gia tăng đáng kể ROS và ER stress, sau đó có thể kích hoạt cơ chế ngừng chu chuyển tế bào, tự thực bào và chết tế bào.

Đối với các nghiên cứu trong tương lai, điều quan trọng là phải làm sáng tỏ sự tương hỗ lẫn nhau giữa các con đường dẫn truyền tín hiệu khác nhau, chẳng hạn như ROS và ER stress, và quá trình viêm, để hiểu rõ hơn về cách thức mà liệu pháp CBD có thể phá vỡ cân bằng nội môi của tế bào ở cả tế bào khối u cũng như tế bào đang bị xâm chiếm, dẫn đến cái chết của tế bào ung thư và ức chế sự di chuyển, xâm lấn, di căn và hình thành mạch máu của khối u”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Seltzer ES, Watters AK, MacKenzie D Jr, Granat LM, Zhang D. Cannabidiol (CBD) as a Promising Anti-Cancer Drug. Cancers (Basel). 2020 Oct 30;12(11):E3203. doi: 10.3390/cancers12113203.

Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19

Photo: iStock-Darren415©

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng cần sa y tế có thể có tiềm năng trong việc điều trị các triệu chứng của COVID-19.

COVID-19 không có dấu hiệu chậm lại và vắc-xin sẽ được công bố trong vài tháng, thậm chí một năm. Sự nôn nóng để dùng loại thuốc đã có mặt trên thị trường dẫn đến việc một số chính phủ phải mua vào kịch liệt nhằm giảm tác động của một loại vi rút ngấm ngầm.

Cùng với việc rất nhiều chuyên gia y tế đang tìm kiếm một phương pháp chữa trị – hoặc, thất bại đó, chiến lược phòng ngừa tốt nhất ngoài khẩu trang và giãn cách xã hội – là nên lùi lại một bước để xem vai trò của cần sa y tế trong việc giúp giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bởi COVID-19 như thế nào.

Coronavirus hoạt động như thế nào?

Vi rút sử dụng các protein có bề mặt gai nhọn của nó để bám vào các thụ thể được tìm thấy trên các tế bào khỏe mạnh, đặc biệt là các thụ thể được tìm thấy trong phổi. Các protein virus này đi qua các thụ thể ACE2; và một khi chúng đã vào được bên trong, coronavirus sẽ bắt giữ các tế bào khỏe mạnh và nắm quyền chỉ huy. Cuối cùng, nó giết chết một số tế bào khỏe mạnh.

Vi rút tác động đến hệ hô hấp bằng cách di chuyển xuống đường hô hấp của bạn. Bao gồm miệng, mũi, họng và phổi. Tuy nhiên, do đường hô hấp dưới có nhiều thụ thể ACE2 hơn phần còn lại của đường hô hấp, COVID-19 có nhiều khả năng di chuyển sâu hơn các loại vi rút khác như cảm lạnh thông thường. Đây là điều làm cho COVID-19 mạnh hơn so với cảm lạnh trung bình hoặc các loại cúm khác. Khi vi rút xâm nhập vào phổi, nó khiến người ta khó thở – đặc biệt hơn là nó dẫn đến viêm phổi.

Đối với hầu hết mọi người (khoảng 80%), các triệu chứng là ho và sốt. Đối với những người không may bị nặng hơn, tình trạng nhiễm trùng có thể trở nên rất nặng. Khoảng 5 đến 8 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu, một số người sẽ bị khó thở và có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) vài ngày sau đó.

Cần sa có tác dụng gì?

Các cannabinoid như cannabidiol (CBD) có lịch sử sử dụng an toàn và chứa một số đặc tính có thể hữu ích trong việc điều trị các triệu chứng y tế nhất định: CBD có đặc tính chống viêm và có thể hoạt động như một chất chống co mạch, có khả năng giảm đau và giảm lo lắng. Kết hợp với các cannabinoid và tecpen khác, cũng như can thiệp lâm sàng cần thiết, CBD có nhiều tiềm năng để điều trị các triệu chứng của vi rút như COVID-19. Chiết xuất toàn phần từ cây cần sa cũng đã được chứng minh là làm giảm đông máu ở các mô hình thí nghiệm động vật; người ta biết rằng nhiều tác dụng tiêu cực trên toàn cơ thể của COVID-19 dường như có liên quan đến việc đông máu bị thay đổi, vì thế có thể cần sa có thể hữu ích trong việc kiểm soát những di chứng này.

Cần sa y tế có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị COVID-19 hay không?

Phòng ngừa

Cho đến nay, phạm vi và khoảng cách của dữ liệu nghiên cứu có thể xác minh được mối liên kết giữa việc cannabinoid và việc phòng ngừa COVID-19 là còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các cách tiếp cận mới để phòng ngừa COVID-19 bao gồm một nghiên cứu đã giám định khả năng kết hợp của CBD vào các dung dịch uống; chẳng hạn như nước súc miệng và thuốc súc họng nhằm mục đích “giảm hoặc điều chỉnh mức ACE2 trong các mô có nguy cơ cao”. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ ACE2 thay đổi trong quá trình tiến triển của COVID-19 và do đó khả năng điều chỉnh các mức này trở nên đặc biệt quan trọng vì ACE2 đã được chứng minh là cần thiết cho chức năng phổi trong các mô hình động vật nhiễm virus SARS.

Giảm mức độ nghiêm trọng và tác động

Trong các phân tích về COVID-19, người ta quan tâm nhiều đến Hội chứng phóng thích Cytokine (Cytokine Release Syndrome – CRS), trong đó quá nhiều protein cytokine được giải phóng trong cơ thể: những protein này có thể tấn công phổi và áp đảo hệ thống miễn dịch bằng cách căng phồng phổi quá mức. Các bằng chứng ban đầu đã chỉ ra rằng CBD và THC có thể có ích trong việc điều trị những bệnh nhân có phản ứng viêm trong cơ thể đã có khả năng gây bệnh.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào khả năng của các cannabinoid và các terpen nhằm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch mà không ngăn chặn nó. Những phát hiện ban đầu trong một nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi nhà sản xuất terpene Eybna và công ty nghiên cứu và phát triển cần sa CannaSoul Analytics. Cả hai đều đến từ Israel, họ dường như đã chỉ ra rằng sự kết hợp của các tecpen và các cannabinoid được sử dụng có hiệu quả gấp hai lần so với khi sử dụng thuốc chống viêm dexamethasone để giảm viêm từ COVID-19. Nghiên cứu vẫn chưa được thẩm định bình duyệt.

Một phương pháp mới khác hiện đang được nghiên cứu ở Israel là phát triển một phương pháp điều trị tế bào tiềm năng bằng cách sử dụng các túi ngoại bào exosomes và nạp CBD để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Mục đích của công nghệ này là “nhắm mục tiêu vào hệ thống thần kinh trung ương và coronavirus COVID-19”. Các túi ngoại bào exosomes được nạp CBD có khả năng cung cấp tương tác hiệp đồng cao của các đặc tính chống viêm bằng cách nhắm cụ thể vào các cơ quan bị tổn thương chẳng hạn như các tế bào phổi đã bị nhiễm trùng.

Có thể làm gì để tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực này?

Nghiên cứu về tiềm năng y tế của cần sa nổi tiếng vì sự phức tạp của các quy trình ứng dụng và khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp cần sa. Ở Úc, việc chỉ sử dụng CBD mà không có hàm lượng THC trong các hoạt động nghiên cứu yêu cầu cơ sở học thuật đó phải xin giấy phép đặc biệt để cho phép họ thu thập và lưu trữ cannabinoid vì nó vẫn là một loại thuốc thuộc Bảng 9 ở đất nước này mặc dù chúng không có đặc tính tác động đến thần kinh.

Đại dịch COVID-19 có thể sẽ tiếp tục trong nhiều tháng nữa; và đây có thể không phải là loại coronavirus mới nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong đời. Do đó, phận sự nằm ở các chính phủ có trách nhiệm làm cho việc nghiên cứu tiềm năng của các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như cần sa, dễ dàng hơn cho các cơ quan nghiên cứu và phòng thí nghiệm tư nhân.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Health Europa | Medicinal cannabis may play a significant role during COVID-19

Continue reading “Cần sa y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong dịch COVID-19”

CBD tăng cường khả năng miễn dịch của chúng ta bằng cách nào?

Coronavirus SARS-CoV-2 là một loại vi rút mới mà hệ miễn dịch của chúng ta chưa biết đến và do đó dẫn đến đáp ứng miễn dịch chậm trễ. Kích thước của chúng khá nhỏ, khoảng 80 nm. Nói một cách khái quát, nó được xem như một loại ký sinh trùng, chỉ có thể tự sao chép khi ở bên trong tế bào con người chứ không phải trong không khí hay trong nước.

Coronavirus thường được tìm thấy xung quanh chúng ta, chúng là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm mũi và cảm cúm thông thường, đó là lý do vì sao những báo cáo đầu tiên từ Trung Quốc đã không đưa ra lời cảnh báo cho toàn thế giới. Tuy nhiên các nhà vi sinh vật học biết rằng có hai chủng coronavirus đã xuất hiện trong quá khứ, gây ra dịch bệnh và để lại nhiều thương vong. Chúng chính là chủng vi rút SARS và MERS nổi tiếng, và chủng coronavirus mới này có cấu trúc và hành vi tương tự. Nó có vẻ vẫn chưa phát triển một cách hoàn toàn, và do đó tỷ lệ tử vong của nó không cao hơn tỷ lệ tử vong của hai chủng vi rút kia. Mặc dù chủng vi rút này vẫn có thể mang đến nhiều sự ngạc nhiên khác, vì người ta tin rằng nó sẽ biến đổi theo một cách không thể nào lường trước được.

Chủng vi rút này rất nguy hiểm đối với người già, những người đang có bệnh nền, và những người bị suy giảm miễn dịch, v.v. Những đối tượng dễ bị tổn thương này không có hệ miễn dịch đủ mạnh để bảo vệ họ khỏi một loại bệnh nguy hiểm nào đó khi bị nhiễm coronavirus. Hệ miễn dịch được tăng cường sẽ mang đến nhiều khả năng xác định thông tin về loại vi rút này hơn, vì thế cách tốt nhất chính là tăng cường khả năng miễn dịch của mỗi chúng ta.

Hệ Thống Endocannabinoid

Làm thế nào mà hai loại cannabinoid chính được tìm thấy trong cần sa (gai dầu) – THC và CBD – có thể được sử dụng để giúp tăng cường khả năng miễn dịch, giải thích những chức năng của hệ thống endocannabinoid có trong mọi sinh vật sống bậc cao, bao gồm cả chúng ta. Trong liệu pháp cần sa y tế, cannabinoid anandamide nội sinh thường được thay thế bằng THC để “sửa chữa” chức năng của hệ thống endocannabinoid. Ở trạng thái khỏe mạnh bình thường, hệ thống này sẽ truyền tín hiệu để đảm bảo sự cân bằng trong các tế bào, đó được gọi là sự cân bằng nội môi.

Anandamide là endocannabinoid đầu tiên được phân lập từ mô não để cung cấp bằng chứng về chức năng thụ thể của endocannabinoid và kết quả là sự xuất hiện của hệ thống endocannabinoid hiện nay. Phát hiện mang tính đột phá này – sự phân lập anandamide, được thực hiện vào năm 1992 bởi hai nhà khoa học và bạn sẽ phấn khích khi biết rằng một trong số họ là giáo sư người Séc Lumír Hanuš, người kế thừa của các nhà khoa học Tiệp Khắc từ những năm 1950 ở vùng Olomouc (Đại học Palackého). Giáo sư Kabelík, Krejčí và Šantavý sau đó đã đi đầu thế giới trong các nghiên cứu về cần sa cho đến khi xuất hiện Công ước thống nhất về chất ma túy 1961. Họ đã sử dụng cần sa với nồng độ cannabinoid thấp để điều trị vi rút herpes simplex và vi rút zoster.

Ảnh Hưởng Của CBD Đối Với Tế Bào Miễn Dịch

Một số cannabinoid có thể liên kết với các thụ thể CB2 trên bề mặt tế bào miễn dịch và thông qua hệ thống endocannabinoid chúng có thể tác động đến hệ miễn dịch. Không giống với tetrahydrocannabinol (THC) có khả năng liên kết với cả hai thụ thể cannabinoid (CB1 và CB2), cannabidiol (CBD) không liên kết trực tiếp với bất kỳ thụ thể nào kể trên. Nói một cách khái quát hơn, CBD ảnh hưởng đến hệ thống endocannabinoid bằng cách ức chế enzyme FAAH, làm phá vỡ endocannabinoid anandamide. Sau đó, quá trình này dẫn đến sự gia tăng nồng độ anandamide trong máu, làm tăng cường khả năng miễn dịch và vì lý do đó hệ miễn dịch của chúng ta sẽ có thể hoạt động một cách bình thường. CBD gần đây được cho là có khả năng hoạt động như một chất chủ vận đảo nghịch cho với thụ thể GPR3, GPR6 và GPR12, tức là khả năng phản ứng ngược lại khi liên kết với thụ thể. Các thụ thể độc thân này xảy ra ở vùng não có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề về thần kinh và được xem là một tia hy vọng lớn trong việc điều trị bệnh Parkinson và Alzheimer.

Đây là một cách để bảo vệ chúng ta khỏi coronavirus – những người có khả năng miễn dịch tốt ngay cả khi họ bị nhiễm vi rút thì quá trình phát bệnh thường nhẹ hơn. Một hy vọng khác là việc cố gắng tấn công và tiêu diệt vi rút trước khi nó xâm nhập vào các mô của bệnh nhân. Nhưng chúng ta vẫn phải chờ đợi các kết quả chính thức từ các nhà khoa học.

Sử Dụng Cần Sa Như Thế Nào?

Điều này có thể được thực hiện với các sản phẩm cần sa hợp pháp mà không có tác dụng gây nghiện. Bạn có thể bắt đầu sử dụng với hạt gai dầu, trong số các hợp chất có trong hạt gai dầu, axit omega-3 (axit béo không bão hòa) là các khối dựng nên endocannabinoid. Chúng có thể dễ dàng kích hoạt hệ thống endocannabinoid và trẻ em có thể tiêu thụ chúng dưới dạng sữa thực vật hay dầu hạt ép lạnh. Đối với người lớn ở độ tuổi ba mươi, đối với những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính và những người cao tuổi, khả năng miễn dịch đã kém đi khá nhiều và do đó cần phải sử dụng một loại dầu có hiệu quả cao hơn, đó là dầu CBD.

Loại Dầu CBD Nào Có Thể Cải Thiện Khả Năng Miễn Dịch?

Loại dầu CBD phù hợp cho mục đích này sẽ là loại dầu CBD chiết xuất toàn phần, có nghĩa là tất cả các loại cannabinoid có trong đó đều được giữ lại hoàn toàn. Dầu CBD lý tưởng để tăng cường khả năng miễn dịch cũng có chứa THC với nồng độ thấp và một tập hợp các hợp chất khác có trong cần sa như các loại cannabinoid khác, terpene và flavonoid. Để đạt được hiệu quả tối đa, chúng ta không nên sử dụng thiếu một số loại cannabinoid chủ yếu không gây hiệu ứng tâm lý như cannabichromene (CBC). Sự kích hoạt tương tự có thể được thực hiện bởi sesquiterpene caryophyllene (BCP), có khả năng liên kết với thụ thể này, chủ yếu được biểu hiện trong hệ miễn dịch.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/bushka-bryndova/how-does-cbd-strengthen-your-immunity/10157882133107349/

CBG và khả năng tiêu diệt tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) – sát thủ vô hình trong bệnh viện

Gần đây, những nhà nghiên cứu tại Đại học McMaster ở Canada đã công bố một bài báo khoa học mô tả lại cách thức mà cannabigerol, một loại cannabinoid phổ biến hay còn gọi là CBG, đã tiêu diệt nhiều chủng MRSA – tụ cầu vàng kháng methicillin. Các nhà nghiên cứu do Eric D. Brown dẫn đầu, đã tiến xa hơn các nghiên cứu trước đây bằng cách thử nghiệm CBD trên loài gặm nhấm thay vì trên đĩa petri. Những kết quả này có thể là một bước khởi đầu để biến CBG trở thành một loại kháng sinh mới nhất trên thị trường.

MRSA: Một Vấn Đề Nghiêm Trọng Tại Các Bệnh Viện

MRSA là một vấn đề nhức nhối đối với các bệnh viện trên toàn thế giới. Cứ ba người thì có một người mang vi khuẩn tụ cầu vàng Staphylococcus aureus trong mũi của họ. S. aureus là một loại vi khuẩn phổ biến thường vô hại trừ khi nó xâm nhập vào các vết thương hở, trong trường hợp này đôi khi nó có thể dẫn đến tử vong do nhiễm trùng.

Hầu hết các ca nhiễm trùng tụ cầu khuẩn có thể được điều trị thành công bằng thuốc kháng sinh. Nhưng qua nhiều năm, một dạng tụ cầu khuẩn kháng kháng sinh, được gọi là MRSA (Tụ cầu vàng kháng methicillin), đã trở thành một mối nguy hiểm thật sự.

Cứ 100 người thì có khoảng 5 người mang khuẩn MRSA. Và trong khi các ca nhiễm trùng MRSA thường là dạng nhẹ, nhưng nếu khó điều trị, chúng có thể trở nên nguy hiểm. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp người nhiễm MRSA bị ức chế miễn dịch, chẳng hạn như những người tiếp xúc với MRSA trong các bệnh viện.

MRSA thường gặp nhất ở những ca nhiễm trùng da và mô mềm. Nó có thể gây ra các vết sưng đỏ và vết loét. Hoặc nó có thể làm cho các vết thương bị mưng mủ, từ từ tiêu diệt các mô.

Mọi thứ trở nên cực kỳ khó khăn khi MRSA xâm nhập vào cơ thể. Cụm từ “viêm hoại tử” được sử dụng rất nhiều trong việc mô tả những ảnh hưởng gây ra bởi các tình trạng nhiễm trùng này. MRSA có thể gây nhiễm trùng xương, nhiễm trùng phổi, và thậm chí gây ra nhiễm trùng chết người ở tim và đường máu. Các bác sĩ trên toàn thế giới đang cảm thấy tuyệt vọng trong công cuộc tìm kiếm các phương pháp điều trị để có thể ngăn chặn nó. Thật không may, rất khó để tìm ra những loại kháng sinh mới. Loại kháng sinh mới nhất được phát triển là hơn 30 năm trước.

Cần Sa Như Một Chất Kháng Khuẩn

Các nhà nghiên cứu đã biết được đặc tính kháng khuẩn của cần sa trong nhiều thập kỷ. Ban đầu họ không biết chính xác hợp chất nào mang đến những tác dụng mà họ thấy được, nhưng một nghiên cứu gần đây đã bắt đầu cho biết chính xác loại cannabinoid nào mang đến hiệu quả chống khuẩn.

Nhóm nghiên cứu của Đại học McMaster đã thử nghiệm 18 loại cannabinoid trên các chủng MRSA phổ biến nhất và nhận thấy rằng gần như tất cả các loại cannabinoid đều có tác dụng chống khuẩn.

Một điều rất thú vị là khi ăn, hợp chất Δ9-THC bị phá vỡ thành 11-OH-THC – hợp chất này hoàn toàn không mang đến hiệu quả trong việc tiêu diệt vi rút. Điều này có thể giúp ngừng lại việc sử dụng THC dạng ăn để điều trị trong các nghiên cứu về kháng sinh trong tương lai.

Bảy loại hợp chất cannabinoid, gồm có CBG, CBD, CBN, CBCA, Δ9-THC, và Δ8-THC, là hiệu quả nhất. Chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn tại mức nồng độ đủ thấp để đảm bảo cho việc nghiên cứu sâu hơn, CBG cho thấy hiệu quả ở mức nồng độ đặc biệt thấp.

Khả Năng Tiêu Diệt MRSA Của CBG

Một trong những lý do mà MRSA rất khó để điều trị là do màng sinh học mà các tế bào vi khuẩn tự tạo ra để bảo vệ chúng.

Màng sinh học được xem như là một chiếc áo giáp của vi khuẩn. CBG không chỉ có khả năng ngăn chặn việc hình thành màng sinh học mà còn có thể phá vỡ chúng. Đó cũng là lý do vì sao nó lại có hiệu quả trong việc tiêu diệt MRSA ở mức nồng độ tương đối thấp.

Nhưng liệu CBG sẽ làm điều tương tự đối với các tế bào máu? Như vậy sẽ là một dấu hiệu gây độc tế bào, và cũng là một báo hiệu dừng lại để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành cho các tế bào hồng cầu ở người tiếp xúc với CBG, và kết quả là các tế bào vẫn khỏe mạnh. Vì thế, dường như CBG có thể loại bỏ lớp màng sinh học của MRSA, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn các tế bào máu.

Đối Phó Với Tế Bào “Persister”

Mối quan ngại chủ yếu đối với các loại thuốc kháng sinh tiềm năng đó chính là các cơ chế mà vi khuẩn sở hữu có thể khiến cho các loại kháng sinh kém hiệu quả hơn. Cơ chế đầu tiên trong số này có liên quan đến các tế bào vi khuẩn nằm vùng hay còn gọi là tế bào persister. Các tế bào persister có khả năng kháng kháng sinh mạnh mẽ, và có thể tái kích hoạt sau khi hết kháng sinh, làm tái nhiễm trùng vật chủ. CBG cho thấy có thể tiêu diệt tất cả các tế bào persister trong đĩa petri trong vòng 30 phút.

Một cơ chế rắc rối khác mà vi khuẩn đối phó với thuốc kháng sinh là thông qua việc đột biến, chúng có thể nhanh chóng chống lại một số loại thuốc kháng sinh cụ thể. Đó là cách mà một vi khuẩn dường như vô hại như tụ cầu khuẩn đã tiến hóa thành MRSA gây chết người.

Những nhà nghiên cứu đã tạo ra những mô hình giả lập để xem MRSA sẽ thích ứng với CBG nhanh đến mức nào. Thế nhưng không, CBG vẫn mang đến hiệu quả chống lại MRSA ngay cả khi họ đang cố gắng để chúng đột biến thành một chủng kháng kháng sinh. Mức độ nhạy cảm này là một yếu tố tối quan trọng trong việc phát triển nên một loại kháng sinh có tác dụng trong thời gian dài.

Điều Trị MRSA Ở Người

Vậy khi nào chúng ta mới có thể sử dụng CBG để điều trị MRSA ở người? Khi một hợp chất đã chứng minh được sự hiệu quả của nó trong đĩa petri, bước tiếp theo là tiến hành thử nghiệm nó trên động vật. Và đó chính xác là những gì những nhà nghiên cứu tại McMaster đã thực hiện. Họ sử dụng CBG để thực hiện điều trị trên chuột, và phát hiện ra rằng CBG có thể làm giảm lượng vi khuẩn ở chuột đi một nửa.

Liều hiệu quả nhất trong việc tiêu diệt vi khuẩn là 100mg/kg CBG dạng tiêm. Điều đó có nghĩa rằng nếu mở rộng thử nghiệm trên người thì cần một liều lượng tương đối lớn. 100mg/kg sẽ rơi vào khoảng một phần tư ounce (xấp xỉ 7g) CBG tinh khiết cho một người nặng khoảng 70kg. Không chỉ là một liều khá nặng, mà chúng ta thông thường cũng không áp dụng tiêm cannabinoid trên người. Thông thường, những ứng dụng y tế của cannabinoid là ở dạng uống, oromucosal, hoặc intranasal. Đây là tất cả những vấn đề cần được giải quyết trong các nghiên cứu tiếp theo.

Cân Bằng Giữa Hiệu Quả Và An Toàn

Mặc dù “các loại thuốc kháng sinh thường được sử dụng với liều lượng cao hơn so với nhiều loại thuốc khác và thường được sử dụng để đạt được mức độ hiệu quả cao hơn ở người so với hầu hết các loại thuốc khác”, Eric D. Brown cho biết, “nhu cầu sử dụng kháng sinh liều cao để đạt được sự hiệu quả thường không đi đôi với nhu cầu về tính an toàn và khả năng dung nạp. Thật vậy, đây là một trong những lý do dẫn đến có quá nhiều thất bại trong lịch sử phát hiện và điều chế thuốc kháng sinh. Nó khó có thể đạt được cả về mặt hiệu quả lẫn khả năng dung nạp. Tất nhiên, đây chính là lý do tại sao MRSA vẫn còn là một thách thức trong các bệnh viện”.

Mặc dù biết rằng CBG còn phải trải qua một chặng đường khá dài trước khi nó được chấp thuận đề điều trị MRSA, nhưng nó có thể không quá xa vời để hình dung được một ngày nào đó chúng ta có thể sử dụng cần sa để ngăn chặn loại vi khuẩn ăn thịt này.

Dịch giả: Thiên Minh
Nguồn: Leafly – Study finds CBG useful in killing MRSA, the deadly hospital bacteria

Một hợp chất mới từ cần sa có thể làm bạn “phê hơn” gấp 30 lần so với THC

Các nhà khoa học tại Ý đã phát hiện ra một loại hợp chất mới trong cần sa có thể mạnh hơn gấp 30 lần so với tetrahydrocannabinol (THC) – một loại hợp chất mang đến cảm giác phê.

Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu thừa nhận rằng loại cannabinoid mới được phát hiện này, có tên là tetrahydrocannabiphorol hay THCP, vẫn chưa thật sự được thử nghiệm về hiệu ứng gây say của nó.

Các tác giả của bài nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature đã ước tính tác động của THCP bằng cách đánh giá khả năng liên kết của nó với các thụ thể cannabinoid ở người. Họ cho biết THCP có liên kết mạnh hơn THC gấp 33 lần và THCV gấp 63 lần.

“Điều này có nghĩa là hợp chất này có ái lực cao hơn đối với các thụ thể trong cơ thể con người, Cinzia Citti – trưởng nhóm nghiên cứu cho biết. Trong các giống cần sa, nồng độ THC hiện diện rất thấp, vì thế chúng tôi có thể nghĩ ngay đến sự xuất hiện của một loại hợp chất khác, một loại cannabinoid mang đến tác động mạnh hơn để có thể giải thích được điều này”.

Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng chuỗi phân tử của gần 150 hợp chất có trong cần sa có độ dài là năm nguyên tử, trong khi THCP có đến bảy. Đây là lần đầu tiên họ thấy một chuỗi dài hơn năm nguyên tử trong tất cả các loại cannabinoid tự nhiên. Điều này khiến cho các nhà nghiên cứu tin rằng nó có thể là một loại hợp chất mạnh mẽ nhất từng được phát hiện.

Các nhà khoa học đang cân nhắc về việc nghiên cứu sâu hơn về tác dụng y tế của THCP, điều này có thể giúp phát hiện ra thêm nhiều loại hợp chất tiềm năng khác nữa.

Jane Ishmael – Phó giáo sư tại Đại học dược Oregon nói với CNN rằng “Có nhiều loại cannabinoid thứ yếu với hàm lượng nhỏ trong cần sa khó có thể nghiên cứu được, nhưng bằng phương pháp cô lập, chúng ta có thể tiếp tục đánh giá những tác dụng mà chúng có thể mang lại”.

“Trong lịch sử, nhiều loại thuốc của chúng ta được chiết xuất hoặc lấy ý tưởng từ những hợp chất có trong tự nhiên. Các hợp chất mới với liên kết ái lực rất cao có thể giúp các nhà khoa học khám phá sâu hơn về lĩnh vực khoa học sinh học”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: NYPOST – New cannabis compound could get you 30 times higher than THC

Nghiên cứu tại Đại học Harvard cho thấy rằng cần sa giảm kích thước khối u một nửa chỉ trong 3 tuần

Một nghiên cứu của đại học Harvard vào năm 2007 đến nay vẫn là nghiên cứu toàn diện nhất về tiềm năng của THC trong việc chống lại các khối u, nghiên cứu cho thấy chỉ trong 3 tuần với hàm lượng THC đã có thể giảm kích thước khối u phổi đi một nửa ở chuột thí nghiệm, và thậm chí còn giảm nhiều các tổn thương khác do ung thư gây ra.

Các nhà nghiên cứu tại đại học Harvard đã thử nghiệm THC (delta-9-tetrahydrocannabinol, thường được tìm thấy trong cần sa) trên tế bào ung thư trong phòng thí nghiệm, và tìm hiểu nhiều hơn bằng nghiên cứu trên chuột.

Các thí nghiệm cho thấy, một lượng THC đã ức chế quá trình sinh trưởng và lan rộng của tế bào ung thư; “Khi tế bào được điều trị bằng THC, chúng có ít EGFR được kích thích xâm lấn bằng một phép đo ở nhiều xét nghiệm trong ống nghiệm,” tiến sĩ  Anju Preet nói, một trong nhiều nghiên cứu viên trong chương trình nghiên cứu.

Theo thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã cho chuột dùng THC – chuột đã được cấy tế bào ung thư phổi của người – và thấy chỉ sau 3 tuần, các khối u giảm đi một nửa và khối lượng nhiều nhất chỉ bằng 50% so với nhóm không được sử dụng. Theo Preet, các vết thương của ung thư trên phổi cũng được giảm- gần 60%- và có sự tiêu giảm lớn của “kích thước protein” liên quan đến quá trình ung thư.

Các nhà nghiên cứu dự đoán THC có một tác động tích cực trong việc chống lại các tế bào ung thư vì nó kích hoạt các phân tử ngăn cản vòng tuần hoàn tế bào, và cũng can thiệp vào quá trình hình thành mạch máu và phân bố mạch, liên quan đến sự phát triển của ung thư.

Hơn 6 năm (tính đến 2013) kể từ khi nghiên cứu được công bố, nó vẫn là một trong những nghiên cứu về cần sa quan trọng nhất.

Nguồn: Theweedblog 

Dịch giả: Choco

Bài viết được xem nhiều nhất