Cần sa và chứng đau cơ xơ hóa

Nghiên cứu mới: Tác dụng của cần sa trong điều trị chứng đau cơ xơ hóa

Điều trị tận gốc nguyên nhân gây ra cơn đau dai dẳng

Đau cơ xơ hóa là một tình trạng khó chữa được đặc trưng bởi các cơn đau và suy nhược mãn tính. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Clinical and Experimental Rheumatology đã chứng minh rằng cần sa có thể mang đến hiệu quả trong việc cải thiện những vấn đề này, ít nhất là có hiệu quả đối với một số bệnh nhân.

Nhìn chung, nghiên cứu về cần sa còn gặp nhiều khó khăn về phương pháp luận do các quy định lỗi thời cho rằng cần sa nguy hiểm hơn cả fentanyl hay oxycontin. Tuy nhiên, những nhà khoa học người Ý đã đưa ra một nghiên cứu khác biệt có thể áp dụng cho những người đang thử sử dụng cần sa để điều trị chứng đau cơ xơ hóa. 

Đối tượng nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu chỉ tuyển chọn hơn một trăm bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Luigi Sacco tại Milan, Ý. Sáu mươi sáu người trong số đó được phỏng vấn trong sáu tháng điều trị. Độ tuổi tham gia trung bình là 52, và hơn 90% bệnh nhân là phụ nữ (phụ nữ chiếm phần lớn người bị đau cơ xơ hóa).

Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị cho những bệnh nhân bị các cơn đau dai dẳng, khó chữa – nghĩa là người sử dụng thuốc ổn định nhưng không thấy thuyên giảm. Có dưới một nửa số bệnh nhân đang sử dụng 2 loại thuốc khác, trong khi một phần ba số bệnh nhân khác có dùng ít nhất 3 loại thuốc. Những loại thuốc này là thuốc an thần dạng nặng, bao gồm thuốc giảm đau nhóm opioid, thuốc chống co giật, thuốc phong bế thần kinh và thuốc chống trầm cảm.

Với độ mạnh của các loại thuốc mà những bệnh nhân này đang sử dụng, thật đáng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng gần một nửa số bệnh nhân (47%) đã đạt được hiệu quả (khi sử dụng cần sa) đủ để làm giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau của họ.

Từ 1/3 cho đến 1/2 số bệnh nhân đã cảm thấy được những cải thiện đáng chú ý trong giấc ngủ, các triệu chứng lo âu, trầm cảm và các cơn đau. Đa số bệnh nhân bị thừa cân hay béo phì, và cần sa có vẻ hiệu quả hơn đối với những bệnh nhân có cân nặng cao hơn. Một số bệnh nhân tham gia đã bị loại trừ, bao gồm cả những người đã sử dụng cần sa và những người bị bệnh thấp khớp hay mắc các cơn đau khác.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: “Có thể cân nhắc sử dụng [Cần sa y tế] phụ trợ, đặc biệt là ở nhóm dân số [đau cơ xơ hóa] bị rối loạn giấc ngủ và xuất hiện các triệu chứng trầm cảm nhẹ”.

Chuẩn độ cồn thuốc

Việc cân đối liều lượng cần sa rất phức tạp, vì thế các nhà nghiên cứu người Ý đã sử dụng một chiến lược thường được áp dụng cho bệnh nhân. Họ đã sử dụng hai loại hoa cần sa phân loại dược phẩm, một loại giàu hàm lượng THC và một loại cân bằng. Loại cân bằng có chứa nhiều hàm lượng CBD hơn.

Cả hai đều được chế tạo thành cồn thuốc có ống nhỏ giọt để định lượng. Bệnh nhân tham gia được khuyên dùng 2 liều mỗi ngày, sử dụng loại cân bằng vào buổi sáng và loại giàu THC vào buổi tối. THC có thể giúp hỗ trợ giấc ngủ và dường như là một loại thuốc giảm đau hiệu quả hơn so với CBD, vì thế việc từ chối sử dụng chúng một cách hoàn toàn là một quyết định không khôn ngoan. Tuy nhiên, tác dụng gây say của THC là một hiệu quả tiêu cực đối với người đang đi làm và người có cuộc sống bình thường. Nghiên cứu này đã cho những bệnh nhân mắc chứng đau cơ xơ hóa một cơ hội để sử dụng những công thức khác nhau, phù hợp với độ nhạy và nhịp sinh học cá nhân của riêng họ.

Không có liều lượng cụ thể nào – nghiên cứu y khoa cho đến nay vẫn chưa tìm ra được một liều lượng thống nhất, và thực thế là không tồn tại liều lượng lý tưởng, mà cần phải cân nhắc dựa trên nhiều tình trạng y tế khác nhau.

Thay vào đó, những nhà nghiên cứu khuyến nghị bệnh nhân thử 10-30 giọt vào mỗi buổi sáng và tối. Chuẩn độ một cách từ từ dựa trên sự thoải mái của bệnh nhân, họ có thể sử dụng lên đến 120 giọt mỗi ngày. Điều này có nghĩa là bắt đầu với liều thấp nhất 4mg THC và 2mg CBD – chia thành hai liều. Liều cao hơn có thể lên đến gần 27mg THC và 8mg CBD, và hầu hết sử dụng THC vào ban đêm. 

Giải quyết về đề nền tảng

Hơn 1/3 số bệnh nhân cảm nhận được những cải thiện về mặt lâm sàng trong giấc ngủ và các triệu chứng đau cơ xơ hóa. Một nửa số bệnh nhân nói rằng họ cảm thấy sự thuyên giảm vừa phải đối với tình trạng lo âu và trầm cảm sau khi cần sa được thêm vào chế độ điều trị của họ.

Đây là một chủ đề khá phổ biến – bằng chứng còn mâu thuẫn về việc liệu cần sa có thể điều trị chứng trầm cảm hay mất ngủ. Tuy nhiên, khi những vấn đề này chỉ là thứ phát đối với tình trạng đau mãn tính hay đau cơ xơ hóa, thì cannabinoid được chứng minh là khá hiệu quả. Dường như họ đang điều trị những vấn đề nền tảng, thay vì là các triệu chứng.

Bác sĩ Ethan Russo đưa ra giả thuyết rằng chứng đau cơ xơ hóa, cùng với chứng đau nửa đầu, có thể là biểu hiện của hội chứng thiếu hụt cannabinoid nội sinh. Lý thuyết này cho rằng một số biểu hiện bệnh nhất định xuất hiện khi hệ thống endocannabinoid quá yếu để có thể điều hòa tốt nhiều hệ thống sinh lý dưới sự kiểm soát của chính nó. Nếu sự thiếu hụt cannabinoid nội sinh gây ra một số loại bệnh nhất định, thì việc dùng các hợp chất cannabinoid thực vật như CBD và THC sẽ giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh, thay vì chỉ làm giảm nhẹ một số triệu chứng.

Trên thực tế, gần một nửa bệnh nhân đã có thể cắt giảm lượng thuốc mà họ sử dụng – với 21% đã hoàn toàn ngưng sử dụng các loại thuốc khác. “Điều này nói lên sự hài lòng mang tính chủ quan của họ về hiệu quả và tác dụng phụ của MCT [Điều trị bằng cần sa y tế]”, nghiên cứu cho biết.

Đối tượng sử dụng?

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 60 người là phụ nữ và chỉ có 6 người là nam giới. Vì thế, không thể xác định được liệu giới tính có ảnh hưởng đến kết quả điều trị hay không. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân có số cân nặng cao hơn thì dường như nhận được hiệu quả nhiều hơn. Điều này có thể liên quan đến tỷ lệ béo phì thấp hơn ở những người sử dụng cần sa, điều thường được quan sát thấy khi nghiên cứu về cách thức cần sa ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Cũng có những cách giải thích khác rằng CBD và THC là các phân tử dầu di chuyển tự do trong các mô mỡ. Vì thế những nhà nghiên cứu đã suy đoán rằng những người có nhiều chất béo trong cơ thể có thể hấp thụ cannabinoid tốt hơn, dẫn đến kết quả điều trị khả quan hơn.

Lợi ích của cần sa đối với chứng lo âu và trầm cảm cũng đáng được chú ý – 80% người bị đau cơ xơ hóa có xuất hiện các triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Một liệu pháp điều trị tiềm năng

Trong số 102 bệnh nhân tham gia ban đầu, khoảng một phần ba đã rời khỏi nghiên cứu trong vòng sáu tháng. Đó là một tỷ lệ duy trì hợp lý cho một nghiên cứu lâm sàng như thế này. Nhưng điều quan trọng là phải xem xét ai đã rời đi và tại sao, khi điều này có thể làm sai lệch kết quả. Mười một bệnh nhân tham gia đã ngừng điều trị một cách dứt khoát – vì cần sa không có tác dụng, nó gây ra các tác dụng phụ vừa phải hoặc quá đắt. Mười bệnh nhân tham gia vẫn sử dụng cần sa nhưng rời khỏi cuộc nghiên cứu khi họ chuyển sang bệnh viện khác. Mười lăm người còn lại đã từ bỏ cuộc nghiên cứu và không được kể đến.

Có khoảng từ 1-3 người tham gia gặp phải các tác dụng phụ nhẹ hoặc trung bình (như chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn và khô miệng). Một số ít bệnh nhân tham gia báo cáo rằng những triệu chứng trở nên tệ hơn sau khi bắt đầu sử dụng cần sa, mặc dù nó có thể khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi.

Cần sa có phải là một liệu pháp điều trị tiềm năng?

Những nhà nghiên cứu dường như nghĩ như thế, đặc biệt là khi phải đối mặt với những phương pháp truyền thống: “MCT [Điều trị bằng cần sa y tế] đã được chứng minh là một phương pháp hỗ trợ an toàn hơn nhiều so với khi điều trị bằng thuốc giảm đau nhóm opioid, liên quan đến nguy cơ rủi ro cao và không hiệu quả trong việc điều trị FM [đau cơ xơ hóa]; hơn nữa, MCT không có bất kỳ đặc tính gây nghiện đáng kể nào khi tăng liều hay hội chứng sau cai nghiện. Mối bận tâm quan trọng hơn là khả năng dung nạp, vì mặc dù các triệu chứng sẽ giảm sau ba tháng điều trị, nhưng thời gian điều trị lâu hơn có thể làm giảm hiệu quả, mặc dù điều này có thể tránh được bằng cách chuẩn độ liều lượng một cách cực kỳ chậm”.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Project CBD – New Study: Cannabis is effective for Fibromyalgia

Hội chứng ruột kích thích (IBS) và cần sa

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là chẩn đoán phổ biến nhất được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa, chỉ riêng Hoa Kỳ, đã có tới 35 triệu người mắc phải hội chứng này. IBS được đặc trưng bởi các triệu chứng đau bụng, chướng bụng, đầy hơi và thay đổi thói quen đi tiêu mà không tìm thấy tổn thương thực thể nào (táo bón, tiêu chảy hoặc hỗn hợp). Nguyên nhân cụ thể gây ra IBS vẫn chưa được xác định, mặc dù có thể do sự thiếu hụt các hợp chất cannabinoid nội sinh. Thông thường, sẽ không có bất thường nào được tìm thấy trong kết quả xét nghiệm máu hay nội soi, khiến cho hội chứng này chỉ được chẩn đoán dựa trên tiền sử và những triệu chứng của bệnh nhân, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác. Người bị IBS thường phải đối mặt với các tình trạng khác như đau cơ xơ hóa, đau nửa đầu, viêm khớp thái dương hàm, thường xuyên mệt mỏi, trào ngược dạ dày thực quản hay đau vùng chậu mãn tính. Thường xuyên bị căng thẳng có liên quan đến cả sự phát triển và/hoặc các cơn IBS, cũng nên được xem là một vấn đề quan trọng trong việc điều trị.

Có ba nghiên cứu trên người đã được công bố về việc sử dụng cần sa y tế trong việc điều trị IBS, tất cả đều có sử dụng THC tổng hợp làm phương thuốc nghiên cứu. Không có gì đáng ngạc nhiên, một nghiên cứu trong số đó báo cáo rằng tất cả người tham gia đều bị tác dụng phụ và không có kết quả khả quan; Tuy nhiên, liều lượng THC cho nghiên cứu này lên đến 10 mg, rõ ràng là quá liều đối với những người chưa từng sử dụng cần sa. Nghiên cứu thứ 2 sử dụng liều lượng thấp hơn – 2,5 mg hoặc 5 mg THC tổng hợp so với nhóm sử dụng giả dược, và cho thấy rằng những người tham gia bị tiêu chảy do IBS hay đi tiêu hỗn hợp có giảm nhu động ruột, nghĩa là THC đã làm chậm tốc độ thức ăn di chuyển qua ruột. Và nghiên cứu thứ ba có liên quan đến việc sử dụng dronabinol liều thấp (THC dược phẩm) trong hai ngày và không có hiệu quả đối với những người bị tiêu chảy do IBS. Tuy nhiên, những phát hiện từ các nghiên cứu sử dụng các hợp chất cannabinoid tổng hợp đơn lẻ rất khó để đạt được hiệu quả như những bệnh nhân có sử dụng cần sa với chiết xuất toàn phần. 

Về mặt lâm sàng, nhiều bệnh nhân có sử dụng cần sa y tế để điều trị IBS cho thấy những kết quả khả quan, hầu hết nói rằng “nó giúp làm dịu đường ruột”. Một số bệnh nhân nói rằng họ cảm nhận được hiệu quả một cách đáng kể khi sử dụng THC liều thấp vào buổi tối hay khi cần thiết để làm giảm hoạt động kích thích của đường ruột. Một số khác nói rằng họ sử dụng các sản phẩm từ CBD hàng ngày để kiểm soát các triệu chứng của IBS. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn cho biết rằng khi sử dụng THCA hay CBDA, hoặc kết hợp cả 2, với liều lượng thấp cũng có thể giúp cải thiện những triệu chứng của IBS. Chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục thể thao thường xuyên và kiểm soát căng thẳng giúp cho hệ thống endocannabinoid có thể hoạt động một cách hiệu quả, và trong trường hợp mắc hội chứng IBS, các bệnh nhân cho biết sự kết hợp giữa những loại cannabinoid là khá hiệu quả.

Điều quan trọng là những bệnh nhân bị rối loạn đường ruột phải hiểu rằng tình trạng viêm kéo dài sẽ mất nhiều thời gian hơn để có thể đáp ứng được với phương pháp điều trị bằng cannabinoid. Có thể mất từ 8-12 tuần để nhận thấy được sự hiệu quả, mặc dù có nhiều bệnh nhân nói rằng các triệu chứng đã thuyên giảm sau một vài tuần đầu tiên. Những thực phẩm có chứa các hợp chất cannabinoid có thể gây ra sự khó chịu cho dạ dày, vì thế phải luôn hiểu rõ về sản phẩm mà bạn định sử dụng để tránh tình trạng làm kích thích các triệu chứng. Những loại tecpen được cho là có hiệu quả trong việc hỗ trợ đường ruột bao gồm terpinolene, beta-caryophyllene, limonene và pinene.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine – How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain.

 

Bệnh viêm ruột & cần sa: câu chuyện của Robert

Một thiếu niên cao, gầy với mái tóc húi cua, có tên là Robert, đã đến văn phòng của tôi cùng với bố mẹ của anh ấy để tìm kiếm sự giúp đỡ trong việc điều trị bệnh viêm loét đại tràng (bệnh viêm ruột, IBD). Được chẩn đoán vào 2 năm trước, anh ấy đã phải vật lộn với các triệu chứng như đau bụng mãn tính, tiêu chảy có kèm máu, kém ăn và sụt cân. Không có gì đáng ngạc nhiên khi anh ấy bày tỏ cảm giác chán nản và tuyệt vọng của mình. Anh đã điều trị rất nhiều lần mà không có tiến triển, và theo như lời của bố mẹ anh ấy kể: “những loại thuốc mà anh ấy sử dụng dường như khiến tình trạng của anh ấy ngày càng tệ hơn”. Anh đã phải truyền máu nhiều lần do mất máu thông qua đường ruột. Trong lần thăm khám gần đây nhất với bác sĩ chuyên khoa dạ dày, việc phẫu thuật cắt bỏ một phần ruột đã được thảo luận, khiến Robert cảm thấy rất vô vọng.

Trước khi đến gặp tôi, bố mẹ Robert có nói rằng đã bắt gặp anh ấy đang hút cần sa. Họ không cảm thấy ngạc nhiên, vì gần đây họ nhận thấy có điều gì đó khác lạ ở Robert – có thể là thái độ nhẹ nhàng hơn và ít kêu than về sự khó chịu. Với mong muốn tìm kiếm một phương pháp có thể điều trị chứng bệnh này cho con, họ đã bắt đầu tìm hiểu về “phương pháp sử dụng cần sa để điều trị bệnh viêm loét đại tràng” và quyết định lựa chọn phương pháp điều trị này với sự giám sát y tế, và tất cả đều đồng ý rằng phẫu thuật sẽ là biện pháp cuối cùng. Khi tôi hỏi Robert: cần sa đã giúp anh như thế nào? Anh ấy nói rằng tất cả các triệu chứng về thể chất đã thuyên giảm và anh ấy cảm thấy “bình thường” trong vài giờ. Tuy nhiên, anh ấy và bố mẹ của anh sợ rằng anh ấy đang mua cần sa từ những nguồn không rõ nguồn gốc và có nguy cơ gặp phải các vấn đề về pháp lý. Và anh ấy cũng có nói một cách chín chắn rằng “tôi cảm thấy đây có thể là phương pháp điều trị cho chính mình, nhưng tôi không muốn trở thành tội phạm khi sử dụng nó”.

Tôi đã truyền tải kiến thức cho Robert và bố mẹ của anh ấy về hệ thống endocannabinoid, về những loại phytocannabinoid khác nhau, và về những nghiên cứu đầy hứa hẹn, nhưng còn hạn chế, về việc sử dụng cần sa trong việc điều trị bệnh viêm ruột. Tôi hướng dẫn Robert bắt đầu sử dụng cồn thuốc ở liều thấp với tỷ lệ CBD:THC là 25:1, hai lần mỗi ngày và tăng liều sau mỗi 1-2 tuần, mục tiêu là sử dụng 300 miligam hai lần mỗi ngày. Chúng tôi đã thảo luận về việc sử THC hóa hơi khi cần thiết cho các triệu chứng cấp tính. Sau bốn tuần, anh ấy cho biết ít bị tiêu chảy hơn, ít đau bụng hơn và ăn ngon miệng hơn. Anh ấy nói rằng anh ấy cũng ngủ ngon hơn và tâm trạng của anh ấy đã được cải thiện rất nhiều. Anh ấy vẫn còn triệu chứng đại tiện có máu, vì thế việc sử dụng THCA hai lần mỗi ngày đã được thêm vào phác đồ điều trị.

Số lượng hồng cầu của Robert đã ổn định trong 6 tuần liên tiếp. Anh ấy đã tăng cân và vui vẻ thông báo rằng anh ấy đã bắt đầu có thể chơi bóng rổ trở lại, điều mà anh ấy không thể thực hiện được kể từ lần chẩn đoán đầu tiên. Những kết quả xét nghiệm của Robert cho thấy sự suy giảm của các dấu hiệu viêm và kết quả này là bằng chứng cho thấy rằng tình trạng viêm trong cơ thể của anh ấy đang bắt đầu đáp ứng với điều trị. Bác sĩ chuyên khoa dạ dày của Robert đang vô cùng thận trọng hỗ trợ điều trị cho anh ấy, và ông ấy cũng đã thấy được tình trạng ổn định của Robert. Quan trọng nhất, Robert nói rằng chất lượng cuộc sống của anh ấy đã được cải thiện đáng kể và cũng là lần đầu tiên sau nhiều năm, anh ấy cảm thấy lạc quan về tương lai của chính mình.

Dịch giả: Thiên Minh

Nguồn: Cannabis is Medicine: How Medical Cannabis and CBD are Healing Everything from Anxiety to Chronic Pain

Cần sa y tế giúp bệnh nhân sử dụng ít nguồn lực chăm sóc sức khỏe hơn

Photo: iStock-Jenniferrutledgephotography

Một nghiên cứu mới cho biết: bệnh nhân sử dụng cần sa y tế sử dụng ít nguồn lực trong chăm sóc sức khỏe hơn và chất lượng cuộc sống của họ cũng được cải thiện.

Cho đến nay, đã có rất ít nghiên cứu được thực hiện về việc liệu bệnh nhân cần sa y tế ở Hoa Kỳ có thực sự hưởng được lợi ích cho sức khỏe từ loại thuốc này hay không. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Y Khoa Johns Hopkins và Quỹ Realm of Caring đã khảo sát các bệnh nhân, bệnh nhân báo cáo họ ít đau hơn, ngủ ngon hơn và giảm lo lắng, chất lượng cuộc sống tổng thể tốt hơn.

Các bệnh nhân trên cũng cho biết họ uống ít thuốc kê toa hơn và ít phải đến phòng cấp cứu hoặc nhập viện hơn những người không sử dụng cần sa cho mục đích y tế – điều đó đã cho thấy rằng bệnh nhân cần sa y tế ít phải đầu tư hơn cho các nguồn lực chăm sóc sức khỏe khác bên ngoài.

Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Cannabis and Cannabinoid Research.

Giảm gánh nặng chăm sóc sức khỏe với cần sa y tế

Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng; vì nghiên cứu ban đầu cho thấy lợi ích y tế đối với cần sa, nên cần có thêm kinh phí và các thử nghiệm lâm sàng để xác định những bệnh lý mà loại thuốc này có thể điều trị.

Ông Ryan Vandrey, phó giáo sư khoa Tâm thần học và Khoa học hành vi tại Trường Đại học Y Khoa Johns Hopkins cho biết: “Tôi không ngạc nhiên khi mọi người báo cáo rằng họ cảm thấy tốt hơn khi sử dụng cần sa y tế, nhưng thật bất ngờ khi thấy những người này sử dụng ít nguồn lực chăm sóc sức khỏe hơn.

Khi chúng tôi đánh giá dựa trên những người trước và sau khi sử dụng cần sa y tế, chúng tôi thấy cùng những thay đổi giống hệt nhau được tìm thấy trong so sánh cắt ngang giữa người dùng cần sa và đối tượng kiểm soát sử dụng. Đó là lúc chúng tôi biết rằng mình đã có một xác thực thuyết phục cho thấy lợi ích y tế thực sự của loài cây này.”

Kết quả từ nghiên cứu cho thấy bệnh nhân cần sa y tế báo cáo về chất lượng cuộc sống tốt hơn 8%, giảm 9% điểm đau và giảm 12% điểm lo lắng.

Các bệnh nhân cần sa y tế cũng cho biết họ sử dụng thuốc kê toa ít hơn 14%, khả năng họ phải đến phòng cấp cứu thấp hơn 39% và ít hơn 46% khả năng nhập viện trước khi được khảo sát. Ông Vandrey nói thêm: “Nghiên cứu này là một cái nhìn ở độ cao 9 mét của viễn cảnh và bây giờ chúng ta cần đi sâu vào nghiên cứu để xem những bệnh lý nào thực sự hưởng được lợi ích từ việc sử dụng cần sa trong y tế.”

Ông Vandrey và các đồng nghiệp sẽ bắt đầu nghiên cứu tác động của cần sa y tế đối với chứng bệnh động kinh, bệnh rối loạn lo âu và bệnh tự kỷ.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: Heath Europa | Medical cannabis patients use fewer healthcare resources

Cannabinoid và bệnh ung thư trong lâm sàng

Phỏng theo tài liệu “Healing with Cannabis: The Evolution of the Endocannabinoid System and How Cannabinoids Help Relieve PTSD, Pain, MS, Anxiety, and More”(đăng tải trên tạp chí Skyhorse, 2020).

Tiến sĩ Donald l. Abrams là bác sĩ chuyên khoa ung thư học tại bệnh viện đa khoa San Francisco, bác sĩ chuyên khoa ung thư tích hợp tại Trung tâm Y học Tích hợp Osher của Đại học California – San Francisco (UCSF), đồng thời là giáo sư y học lâm sàng tại UCSF. Ông cũng là thành viên của một ủy ban gồm 16 người từ các ngành nghề khác nhau, tạo nên cuốn sách 486 trang: Những tác động tới sức khỏe của Dầu gai và các cannabonoids: Hệ thống bằng chứng hiện tại, được cập nhật năm 2017 vấn đề từ Viện Hàn Lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia.

“Tôi là một chuyên gia nghiên cứu về ung thư ở San Francisco tính đến nay được 36 năm, và tôi dám nói rằng hầu hết các bệnh nhân ung thư tôi từng chăm sóc đều từng sử dụng dầu gai”, Abram nói trong một cuộc phỏng vấn ngày 3/5/2019, “Nhưng không có ngày nào trôi qua mà tôi không thấy một bệnh nhân ung thư chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, mất ngủ, đau đớn, trầm cảm hoặc lo lắng, và nếu tôi có một loại thuốc có thể giảm buồn nôn và nôn mửa, tăng cường sự thèm ăn, giảm đau, cải thiện giấc ngủ và tâm trạng, tôi coi đó là một can thiệp có giá trị. Thay vì viết đơn thuốc cho năm hoặc sáu loại dược phẩm mà tất cả chúng đều có thể tương tác với nhau hoặc với hóa trị liệu họ đang sử dụng, tôi có thể giới thiệu một loại thực vật rất an toàn”.

Những năm 1970, khi Abrams còn là một bác sĩ thực tập và cư trú tại San Francisco, nhiều người đã sử dụng cần sa, kể cả những người trẻ tuổi bị ung thư. Ông bắt đầu trở thành nghiên cứu sinh về ung thư tại UCSF vào năm 1980, thời điểm mà cần sa đang trở nên phổ biến còn trên thị trường thì không có nhiều loại thuốc chống nôn hiệu quả.

“Chúng tôi có prochlorperazine, hoặc Compazine, và Tigan [trimethobenzamine hydrochloride]… nhưng chúng không thực sự hiệu quả,” Abrams nói, “và những người trẻ tuổi mắc những bệnh ung thư của người trẻ, chẳng hạn như bệnh Hodgkin hoặc ung thư tinh hoàn, nói với chúng tôi,“Bác sĩ biết gì không? Cần sa là một liệu pháp chống buồn nôn hiệu quả, tốt hơn so với những thuốc kê đơn của ông”. Abrams cho rằng đó là điều khiến Viện Y tế Quốc gia Viện Ung thư Quốc gia và một số công ty dược phẩm nghiên cứu delta-9 THC tổng hợp như một loại thuốc chống buồn nôn tiềm năng.

“Một số nghiên cứu được thực hiện vào những năm 70 và 80 cho phép cả dronabinol [THC tổng hợp trong viên nang] và nabilone [chất tương tự THC dạng uống] được chấp thuận để điều trị chứng buồn nôn và nôn do hóa trị liệu vào năm 1985. Tôi không chắc mình đã sử dụng bao nhiêu trong số đó cho bệnh nhân trong khoảng thời gian này” ông nói thêm,“ nhưng vào năm 1992, FDA đã mở rộng chỉ định sử dụng dronabinol để điều trị chứng chán ăn liên quan đến giảm cân ở bệnh nhân HIV. ”

Đó là lần đầu tiên anh ấy thực sự bắt đầu với dronabinol, Abrams giải thích, “bởi vì tôi đã trở thành bác sĩ AIDS sau khóa đào tạo để trở thành một chuyên gia về ung thư và khi đó, tôi bắt đầu kê rất nhiều dronabinol. Và bệnh nhân nói, ‘Bạn có thể giữ nó. Tôi thích hút cần sa hơn vì [dronabinol] mất quá nhiều thời gian để phát huy tác dụng và khi đã phát huy tác dụng thì tôi thấy quá say. ‘”Delta-9 THC trong dầu mè [dronabinol được bán trên thị trường là Marinol] là một loại thuốc rất khác với cần sa nguyên cây, Abrams nói. “Đó là những gì tôi học được trong thử nghiệm lâm sàng đầu tiên của mình.”

Dầu gai nguyên cây và THC (tetrahydrocannabinol)

Vào giữa những năm 1990 và cho đến ngày nay, Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy (NIDA) là nơi cung cấp cần sa chính thức duy nhất cho các thử nghiệm lâm sàng. Và NIDA nhận được chỉ thị từ quốc hội rằng chỉ tài trợ cho các nghiên cứu điều tra các chất gây nghiện như các chất các hợp chất gây nghiện chứ không phải là tác nhân điều trị, Abrams nói.

See the source image
Tiến sỹ Donald Abrams

“Vì vậy, họ không bao giờ có thể tài trợ cho một nghiên cứu mà tôi đang cố gắng thực hiện – để chỉ ra rằng cần sa mang lại lợi ích cho bệnh nhân AIDS – nhưng họ có thể tài trợ cho một nghiên cứu để xem liệu bệnh nhân HIV sử dụng chất ức chế protease hít cần sa có an toàn hay không. Vì vậy, nghiên cứu đó cuối cùng đã được tài trợ. “Đây là nghiên cứu về dầu gai đầu tiên do NIH tài trợ. Một phần ba số bệnh nhân dùng dronabinol, 2,5 mg, ba lần một ngày, một phần ba hút một điếu thuốc lá từ NIDA nguyên cây, và một phần ba dùng giả dược dronabinol.

“Mỗi bệnh nhân ở Trung tâm Nghiên cứu Lâm sàng Tổng quát của chúng tôi trong 25 ngày, trong đó 21 ngày họ uống dronabinol hoặc hút cần sa. Và đối với tôi, rất rõ ràng rằng những bệnh nhân nào đang sử dụng dronabinol, do họ nằm trên giường suốt cả ngày, hoàn toàn mệt mỏi. Trong khi đó, các bệnh nhân sử dụng dầu gai đã dậy và nhảy múa, dọn dẹp phòng của họ, và rất nhiều hoạt động nữa. Vì vậy, vâng, ”Abrams nói,“ Tôi nghĩ nó chắc chắn là một loại thuốc khác biệt”.

“Một điều khá ấn tượng trong kinh nghiệm của ông với các bệnh nhân ung thư, Abrams nói thêm, đó là “rất nhiều bệnh nhân ung thư vào giai đoạn cuối của cuộc đời họ được cho sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện bởi các bác sĩ ung thư có thiện chí, những người đang cố gắng xoa dịu nỗi đau và nỗi khổ của họ, cả về thể chất và cảm xúc. Những bệnh nhân nói rằng, “Điều này không cho phép tôi giao tiếp với gia đình bởi vì tôi quá say thuốc. “Vì vậy, họ cai thuốc phiện và chỉ sử dụng cần sa, và họ thích điều đó hơn rất nhiều.”

Abrams cho biết cần sa y tế đã hợp pháp ở California trong hai mươi ba năm và được sử dụng với mục đích giải trí, tiêu khiển trong hai năm, tuy nhiên, những khi cần thiết sử dụng chỉ định y tế, Abrams sẽ viết một lá để bệnh nhân mang đến nơi cấp phát thuốc, và điều đó sẽ cho phép họ lấy cần sa trong một năm.

“Nhưng tôi không nói rằng có thể lạm dụng loại thuốc này quá nhiều, nhiều lần trong ngày”, ông nói. “Tôi không nghĩ cần sa là một loại thuốc cần có giấy hướng dẫn. Hầu hết mọi người có thể tìm ra cách sử dụng nó. Mỗi bệnh nhân là khác nhau, khả năng chịu đựng của họ cũng khác nhau – tôi nghĩ khuyến nghị tốt nhất là “bắt đầu với liều thấp và tăng dần”. Điều đó trở thành một câu thần chú”. Và Abrams cho rằng việc dược hóa cần sa là sai lầm.

“Tôi nghĩ chúng ta nên coi nó như một liệu pháp thực vật đã có từ 5.000 năm trước và có những lợi ích đáng kể,” bác sĩ ung thư nói. “Nhưng để nói rằng đó là một loại thần dược có thể không đúng. Tôi nghĩ nó nên được đối xử như cây cọ lá xẻ và cây cúc dại nhưng cần được quản lý như thuốc lá và rượu, và cho phép những người trưởng thành có trách nhiệm sử dụng nó khi họ thấy phù hợp”.

TÁC DỤNG CỦA DẦU GAI TRONG CÁC TRIỆU CHỨNG UNG THƯ & TÁC DỤNG PHỤ

Bác sĩ Dustin Sulak là một bác sĩ chỉnh xương tích hợp và chuyên gia về cần sa y tế, người có thực hành lâm sàng tập trung vào điều trị các tình trạng bệnh khó chữa ở người lớn và trẻ em từ năm 2009. Ông là người sáng lập Integr8 Health, có văn phòng tại Maine, theo dõi hơn 8.000 bệnh nhân sử dụng thuốc y tế cần sa và các phương thức chữa bệnh tích hợp khác. Sulak đã công bố trong các tài liệu đã được bình duyệt và các bài giảng cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên toàn thế giới về các ứng dụng lâm sàng của cần sa. Những thông tin dưới đây được điều chỉnh cho phù hợp (đã được sự cho phép) từ trang web giáo dục của Sulak, Healer.com, trang web cung cấp một loạt các chương trình về cần sa y tế, cũng như đào tạo về cần sa y tế và chương trình chứng nhận cho các bác sĩ, các chuyên gia y tế khác và người tiêu dùng.

Khi làm việc với bệnh nhân ung thư, các nỗ lực điều trị bằng cần sa thường đi theo hai con đường riêng biệt – sử dụng cần sa để giảm các triệu chứng và cải thiện khả năng dung nạp điều trị, hoặc sử dụng cần sa, thường ở liều lượng cao, để tiêu diệt ung thư. Theo Sulak, các mục tiêu không loại trừ lẫn nhau, nhưng mỗi mục tiêu yêu cầu một cách tiếp cận khác nhau để định liều.

Khi được sử dụng đúng cách, cần sa có thể là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả cho những bệnh nhân ung thư bị đau mãn tính, mất ngủ, buồn nôn và nôn do hóa trị liệu. Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng cannabinoid có thể ngăn chặn sự phát triển của đau thần kinh, một tác dụng phụ phổ biến của hóa trị liệu có thể hạn chế liều hoặc liệu trình hóa trị của bệnh nhân. Ngay cả sau khi bệnh ung thư thuyên giảm, nhiều bệnh nhân vẫn bị đau do thần kinh suy nhược mãn tính.

“Bệnh nhân thường có thể đạt được những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống với tác dụng phụ tối thiểu, sử dụng liều rất thấp cannabinoid trong khoảng 10 mg đến 60 mg mỗi ngày”, Sulak viết trong tài liệu khóa học của mình: “Sự kết hợp của THC, CBD, và các cannabinoid khác với nhiều tỷ lệ khác nhau có thể được sử dụng để tăng cường tác dụng và giảm thiểu tác dụng phụ của việc điều trị bằng cannabinoid”.

Cần sa y tế có thể giúp bệnh nhân chịu đựng các phương pháp điều trị ung thư thông thường như hóa trị và xạ trị, và có thể được sử dụng cùng với các phương pháp điều trị này với khả năng tương tác thuốc thấp. Điều này có nghĩa là hiếm khi có lý do để tránh kết hợp cần sa với các phương pháp điều trị ung thư thông thường (với một vài trường hợp ngoại lệ được lưu ý trong các tài liệu giáo dục).
Đối với những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối, cần sa mang lại nhiều lợi ích trong việc chăm sóc giảm nhẹ vào cuối cuộc đời. Sulak cho biết: “Đó là một sự bổ sung cực kỳ hữu ích cho các phương pháp điều trị thông thường trong chăm sóc sức khỏe giảm nhẹ.

TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ VÀ THÚC ĐẨY CHỮA LÀNH

Cùng với việc giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư, cannabinoid cũng cho thấy tác dụng chống ung thư trong nhiều mô hình thí nghiệm trên tế bào và động vật. Và có rất nhiều bằng chứng cho thấy ung thư ở người cũng đáp ứng với điều trị bằng cannabinoid, Sulak nhận xét. Một số bệnh nhân đã báo cáo việc sử dụng dầu gai thực sự giúp làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của khối u, những người khác đã thuyên giảm hoàn toàn các bệnh ung thư xâm lấn.

Bác sỹ Dustin Sulak

Để đạt được những tác dụng chống ung thư mạnh mẽ này, hầu hết bệnh nhân cần sử dụng liều cao hơn mức cần thiết để giảm triệu chứng – thường là 200 mg đến 2.000 mg cannabinoid mỗi ngày, hoặc tương đương với 1-2 ounce cần sa thảo dược mỗi tuần. Mức độ điều trị này có thể hiệu quả về chi phí nếu bệnh nhân hoặc người chăm sóc trồng cần sa ở ngoài trời, nhưng việc mua lượng thuốc này từ một nhà bán lẻ cần sa y tế có thể khá tốn kém.

Ở liều cao này, Sulak nói, “một nhà cung cấp dịch vụ y tế hiểu biết phải theo dõi quá trình điều trị để ngăn ngừa các tác dụng phụ và tương tác với điều trị ung thư thông thường. Bệnh nhân phải chuẩn độ cẩn thận để đạt được những liều cao này mà không có tác dụng phụ đáng kể. Đáng ngạc nhiên là liều trong khoảng 2.000 mg/ ngày có thể được dung nạp tốt”.

Ông cho biết thêm, bất kỳ phương pháp điều trị y tế nào cũng có những rủi ro nhất định, nhưng sử dụng cần sa liều cao không gây chết người mà còn an toàn hơn nhiều so với hóa trị liệu thông thường, mặc dù hiệu quả của cần sa liều cao đối với bệnh ung thư chưa được nghiên cứu ở người. Một số bệnh nhân sử dụng liều rất cao báo cáo về sự cải thiện vượt bậc cả về các triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Những người khác nhận thấy rằng ở liều lượng cực cao, cần sa không giúp giảm các triệu chứng như đau, lo lắng và rối loạn giấc ngủ – những lợi ích mà họ dễ dàng đạt được ở liều thấp hơn. Một số người không thể chịu đựng được những tác động bất lợi của cần sa liều cao và thấy mình bị sa thuốc, chệnh choạng và khó chịu.

KHÔNG CÓ CÔNG THỨC CHÍNH XÁC CHO MỌI NGƯỜI

Sulak nói rằng bệnh nhân và nghiên cứu sinh nên đề phòng bất kỳ ai tuyên bố có giải pháp chung để dùng cần sa điều trị ung thư. Internet có đầy đủ các tỷ lệ, liều lượng và các kế hoạch điều trị khác cho các loại ung thư cụ thể, nhưng nhiều tuyên bố trong số này dựa trên sự thành công của một bệnh nhân hoặc dựa trên những phát hiện có liên quan một phần từ tài liệu tiền lâm sàng (nghiên cứu tế bào và động vật).

Bệnh ung thư vô cùng phức tạp và “ngay cả với cùng một loại ung thư, ở hai người khác nhau cũng có thể phản ứng rất khác nhau với các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hoặc thay thế”, Sulak viết. Ông cho biết thêm: “Bởi vì chúng là những tế bào bất thường, ung thư làm những điều bất thường – như biểu hiện quá mức hoặc không biểu hiện được với các thụ thể cannabinoid. Môi trường sinh lý bên trong, di truyền, chế độ ăn uống và các yếu tố khác của mỗi cá nhân tạo ra một sự khác biệt. Kết quả khả quan từ một trường hợp hoặc một nghiên cứu không thể được áp dụng rộng rãi – tốt nhất là chúng có thể được sử dụng làm hướng dẫn. Một kế hoạch điều trị ung thư cũng phải tính đến các mục tiêu và sở thích cá nhân của một cá nhân”.

Cannabinoid chống lại ung thư thông qua các cơ chế hoạt động khác nhau, bao gồm kích hoạt tế bào chết, ngăn chặn sự phát triển và phân chia tế bào, ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu nuôi khối u và ngăn tế bào ung thư di chuyển đến các khu vực khác của cơ thể. Sulak lưu ý rằng hầu hết các trường hợp thành công khi sử dụng cần sa để tiêu diệt ung thư đều liên quan đến liều lượng cao, tuy nhiên một số bệnh nhân mô tả việc giảm đáng kể gánh nặng ung thư khi dùng liều lượng thấp đến trung bình.

Ông viết: “Không giống như các phương pháp điều trị hóa trị thông thường, chúng tôi biết rằng cannabinoid không gây độc cho các tế bào bình thường. Trong hóa trị liệu thông thường, phương pháp tường sử dụng là dùng một loại thuốc độc với tế bào ung thư hơn là đối với tế bào khỏe mạnh và trong mức độ chịu đựng của bệnh nhân. Các tác dụng phụ không thể chữa khỏi, như bệnh thần kinh ngoại biên hoặc suy dinh dưỡng do buồn nôn và nôn, thường là những yếu tố hạn chế trong điều trị”.

“Liều lượng cần sa có thể bị hạn chế bởi các tác dụng phụ”, Sulak khẳng định, “nhưng độc tính không dẫn đến những hạn chế lâu dài”.

Cheryl Pellerin, một nhà văn chuyên viết báo khoa học, là tác giả của Healing With Cannabis: The Evolution of the Endocannabinoid System và How Cannabinoid Help Relieve PTSD, Pain, MS, Loxiety, and More (Skyhorse Publishing), với lời tựa của Jeffrey Y. Hergenrather, MD. Cuốn sách đầu tiên của cô Trip: How Hallucinogens work in your brain , đã được dịch sang tiếng Pháp và Đức.

Dịch giả: Quỳnh Anh

Nguồn: Cannabinoid & cancer in the clinic | Project CBD

Parkinson và Cần sa y tế

Parkinson là bệnh lý thoái hóa thần kinh mạn tính và tiến triển từ từ tăng dần. Đặc điểm bệnh lý chính của Parkinson là sự thoái hóa các tế bào thần kinh chứa dopamine (DA) của phần đặc chất đen, dẫn đến sự suy giảm nơron dopaminergic ở vùng vân. Việc mất kiểm soát chức năng điều hòa DA không thể phục hồi dẫn đến các triệu chứng điển hình thường thấy ở bệnh này như chậm cử động, run tay khi nghỉ và tay chân cứng dần. Người ta tin rằng những hợp chất cannabinoid có thể có mang đến một số tác dụng có lợi trong việc điều trị bệnh parkinson. Trong các thí nghiệm trên động vật, cannabinoid cung cấp sự bảo vệ cho tế bào thần kinh chống lại độc tính 6-hydroxydopamine trong thí nghiệm in vivo và in vitro.

Phần lớn bệnh nhân parkinson đang điều trị với levodopa phát triển các biến chứng rối loạn vận động trong vòng 10 năm điều trị. Những nghiên cứu gần đây trên động vật và tại phòng khám cho thấy rằng các chất đối kháng thụ thể CB1 có vẻ tỏ ra hữu hiệu trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh lý Parkinson và rối loạn vận động do levodopa, trong đó các chất chủ vận thụ thể CB1 có thể mang đến nhiều giá trị trong việc làm giảm rối loạn vận động do levodopa gây ra.

Trong mô hình thử nghiệm trên chuột bị parkinson được điều trị bằng Reserpine, chất chủ vận thụ thể dopamine D2 – quinpirole đã làm giảm chứng rối loạn vận động một cách đáng kể. Hiệu quả này bị giảm đi một cách đáng kể khi tiêm đồng thời với chất chủ vận thụ thể cannabinoid WIN 55,212-2. Việc sử dụng đồng thời thuốc đối kháng CB1 (rimonabant) với quinpirole và WIN 55,212-2 đã ngăn chặn tác dụng của WIN 55,212-2 trong việc giảm chứng rối loạn vận động của quinpirole.

Trong các thử nghiệm trên động vật, việc sử dụng levodopa lâu dài đã tạo ra các rối loạn cử động miệng và lưỡi không tự chủ ngày càng nghiêm trọng và tình trạng này đã thuyên giảm do WIN 55,212-2. Hiệu ứng này cũng có thể bị đảo ngược bởi rimonabant. Trong những nghiên cứu khác, rimonabant được cho là có tác dụng tích cực đối với những rối loạn vận động điển hình ở bệnh lý parkinson, ở một số liều nhất định.

Cannabinoid nội sinh với nồng độ cao được tìm thấy ở những bệnh nhân Parkinson không được điều trị. Việc sử dụng các chất ức chế sự suy giảm các nhóm cannabinoid nội sinh đã làm giảm sự rối loạn vận động ở người bị Parkinson. Do đó, các chất chủ vận và chất đối kháng của những thụ thể của cannabinoid dường như có tác dụng trong việc điều trị một số triệu chứng của Parkinson.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, chất chủ vận thụ thể cannabinoid – nabilone đã làm giảm một cách đáng kể những rối loạn vận động do levodopa gây ra khi điều trị Parkinson. THC giúp cải thiện khả năng kiểm soát vận động ở bệnh nhân mắc loạn trương lực cơ. Ngoài ra, trong một bảng khảo sát ẩn danh được gửi đến tất cả các bệnh nhân có mặt tại Prague Movement Disorder Center cho thấy có 25% số người được hỏi đã sử dụng cần sa và 45,9% trong số này cho thấy những tác dụng có lợi. Vì thế, những hợp chất cannabinoid dường như có thể điều trị được một số triệu chứng của bệnh lý thần kinh này.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế và cơn đau thần kinh mãn tính

Cần sa đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ như là một chất giảm đau. Bằng chứng cho thấy rằng những hợp chất cannabinoid có trong cần sa có thể kiểm soát những cơn đau bằng cách ức chế sự dẫn truyền tế bào thần kinh trong các con đường gây ra cơn đau. Khi đánh giá về tác dụng giảm kích thích đau một cách rõ rệt của những hợp chất cannabinoid, chúng được đề xuất là một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn để kiểm soát lâm sàng chứng đau dây thần kinh sinh ba.

 

THC, CBD và CBD-dimethyl heptyl (DMH) được cho là có thể ngăn chặn sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu bởi huyết tương thu được từ những bệnh nhân đau nửa đầu. Một nghiên cứu cho thấy rằng khi THC được sử dụng cho bệnh nhân bị sốt Địa Trung Hải, với các cơn đau tái phát mãn tính và viêm đường tiêu hóa, kết quả được ghi nhận là mức độ các cơn đau giảm đi đáng kể. Sự cải thiện nhẹ đã được ghi nhận với các loại thuốc dựa trên các hợp chất từ cần sa để điều trị các cơn đau mãn tính liên quan đến nhổ rễ dây thần kinh cánh tay.

 

Ở những bệnh nhân đau thần kinh, cường độ đau tự phát trung bình khi được điều trị bằng THC thấp hơn đáng kể so với điều trị bằng giả dược, và điểm giảm đau trung bình (thang đánh giá bằng số) cao hơn. Nó cũng có hiệu quả trong điều trị đau thần kinh trung ương. Việc sử dụng THC đơn liều để điều trị cơn đau do ung thư cũng cho thấy tác dụng giảm đau nhẹ. Những bệnh nhân mắc phải các cơn đau cũng có xu hướng tự điều trị bằng cần sa y tế.

 

Trong một cuộc khảo sát ẩn danh, 72 (35%) bệnh nhân với cơn đau mãn tính không do ung thư cho biết đã sử dụng cần sa để giảm đau. Các bệnh nhân AIDS được điều trị bằng cần sa cho biết họ có cải thiện sự thèm ăn, giảm đau cơ, buồn nôn, lo lắng, đau dây thần kinh, trầm cảm và dị cảm. Không chỉ THC, mà tất cả các loại cannabinoid khác cũng có tác dụng giảm đau đến những cơn đau khác nhau. Nabilone là một cannabinoid tổng hợp được phê duyệt để điều trị buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng liên quan đến việc hóa trị liệu ở bệnh ung thư.

 

Ở Canada, Hoa Kỳ và Anh Quốc, nabilone được thương mại hóa dưới cái tên Cesamet. Nabilone có thể làm giảm đáng kể các cơn đau liên quan đến tình trạng co cứng ở các bệnh nhân mắc hội chứng dây thần kinh vận động trên (UMNS) mãn tính. Một cannabinoid khác, axit ajulemic (AJA), có hiệu quả trong việc giảm đau dây thần kinh mãn tính, mặc dù chúng có thể xuất hiện một số tác dụng phụ như mệt mỏi, khô miệng, hạn chế khả năng tập trung, chóng mặt, đổ mồ hôi.

Sự kết hợp giữa THC và CBD (cannabinoid không mang tác động thần kinh) có hoạt tính cao hơn nhiều so với THC đơn thuần. Thuốc xịt CBD/THC (Sativex) được cho là có hiệu quả trong việc điều trị chứng đau thần kinh ở bệnh đa xơ cứng (MS). Đau thần kinh mãn tính cũng có thể được điều trị bằng chiết xuất cần sa có chứa THC hoặc CBD, hoặc với Sativex. Những hợp chất cannabinoid này cũng có hiệu quả trong việc giảm rối loạn giấc ngủ ở những bệnh nhân này và hầu hết được dung nạp tốt. Sativex là loại thuốc làm từ cần sa đầu tiên, trải qua quá trình phát triển lâm sàng thông thường và được phê duyệt dưới dạng thuốc kê đơn. Nó có hiệu quả và được dung nạp tốt trong điều trị các triệu chứng của bệnh đa xơ cứng, và đặc biệt là chứng co cứng và đau thần kinh. Sativex đã được phê duyệt để sử dụng trong điều trị đau thần kinh do bệnh đa xơ cứng ở Canada.

Nguồn: Cannabinoids in health and disease – NCBI

Dịch giả: Thiên Minh

Tác dụng của cần sa trong việc chống lại ung thư và kiểm soát các tác dụng phụ

Nhiều bằng chứng cho thấy rằng những “hợp chất cannabinoid” có trong cần sa có khả năng làm chậm sự phát triển của bệnh ung thư, ức chế sự hình thành các tế bào máu mới để nuôi dưỡng khối u cũng như kiểm soát các cơn đau, mệt mỏi, buồn nôn và các tác dụng phụ khác.

Cristina Sanchez- nhà sinh vật học tại Đại học Complutense tại Madrid, trong lúc thực hiện nghiên cứu về sự trao đổi chất của tế bào đã nhận ra một số điều đặc biệt. Cô ấy đã tiến hành kiểm tra các tế bào ung thư não vì chúng phát triển nhanh hơn so với các dòng tế bào bình thường và do đó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, các tế bào ung thư này sẽ chết khi chúng tiếp xúc với tetrahydrocannabinol (THC), thành phần mang hiệu ứng thần kinh chính ở cần sa.

Thay vì có được cái nhìn rõ ràng hơn về cách thức mà các tế bào hoạt động, Sanchez đã tình cờ phát hiện ra được các đặc tính chống ung thư của THC. Năm 1998, cô đã cho đăng bài báo cáo trên một tạp chí về hóa sinh tại châu Âu về “khả năng gây ra quá trình gây chết tế bào (apoptosis) của THC ở các tế bào u thần kinh đệm C6”, một dạng ung thư não tăng triển.

Một số nghiên cứu được bình duyệt tiếp theo ở một số quốc gia đã cho thấy rằng THC và các hợp chất khác có nguồn gốc từ cần sa, hay còn được gọi là “cannabinoid”, không chỉ có hiệu quả trong việc kiểm soát các triệu chứng của ung thư (buồn nôn, đau, chán ăn, mệt mỏi), mà còn mang đến hiệu quả chống lại khối u một cách trực tiếp.

Một nhóm các nhà khoa học Tây Ban Nha do Manuel Guzman dẫn đầu đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng đầu tiên để đánh giá tác dụng chống lại khối u của THC trên người. Guzman đã đưa THC tinh khiết thông qua một ống thông đi vào khối u của 9 bệnh nhân đang nhập viện với tình trạng u nguyên bào thần kinh đệm – những người không đáp ứng với các liệu pháp điều trị ung thư não tiêu chuẩn. Kết quả được công bố vào năm 2006 trên tạp chí British Pharmacology: Điều trị bằng THC có thể làm giảm đáng kể sự tăng sinh tế bào khối u ở tất cả các đối tượng được thử nghiệm.

Cùng thời gian đó, các nhà khoa học tại trường Đại học Harvard đã báo cáo rằng THC có thể làm chậm sự phát triển của khối u trong bệnh ung thư phổi phổ biến và “làm giảm đáng kể khả năng di căn”. Hơn nữa, giống như một tên lửa tầm nhiệt, THC có thể nhắm mục tiêu và tiêu diệt các tế bào khối u một cách có chọn lọc trong khi không làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh. Ngược lại, các loại thuốc hóa trị thông thường có độc tính cao; chúng làm tổn thương đến não bộ và cơ thể một cách bừa bãi.

Theo một bài báo cáo trên tạp chí Medicinal Chemistry, có nhiều bằng chứng cho thấy những hợp chất cannabinoid “có thể là một nhóm thuốc chống ung thư mới, có khả năng làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư, ức chế sự hình thành mạch máu mới để nuôi khối u và sự di căn của các tế bào ung thư”.

Tiến sĩ McAllister – một nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Thái Bình Dương tại San Francisco, đã nghiên cứu về các hợp chất cannabinoid trong 10 năm với nhiệm vụ phát triển các liệu pháp can thiệp điều trị mới cho nhiều loại ung thư khác nhau. Được tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia (với giấy phép từ DEA), McAllister đã phát hiện ra rằng cannabidiol (CBD) – một thành phần không gây tác động thần kinh của cây cần sa là một chất ức chế mạnh đối với sự tăng sinh, di căn và phát triển của tế bào ung thư vú.

Năm 2007, ông đã công bố chi tiết về cách cannabidiol tiêu diệt các tế bào ung thư vú và phá hủy các khối u ác tính bằng cách tắt biểu hiện của gen ID-1, một loại protein dường như đóng vai trò chính yếu như một chất dẫn tế bào ung thư.

Gen ID-1 hoạt động trong suốt quá trình phát triển phôi thai ở người, sau đó nó tắt đi và không hoạt động. Tuy nhiên, trong ung thư vú và một số loại ung thư di căn khác, gen ID-1 hoạt động trở lại, khiến các tế bào ác tính xâm nhập và di căn. McAllister giải thích rằng “Hàng chục loại ung thư tăng triển có biểu hiện gen này”. Ông cho rằng nhờ khả năng ngăn chặn biểu hiện gen ID-1 của CBD có thể khiến nó trở thành một loại thuốc chống ung thư mang tính đột phá.

Ông nói rằng “Cannabidiol mang đến niềm hy vọng về một liệu pháp không mang tính độc hại có thể điều trị cho nhiều loại ung thư tăng triển mà không mang đến bất kỳ tác dụng phụ đau đớn nào của hóa trị liệu”.

Phòng thí nghiệm của ông cũng đã và đang phân tích về cách thức hoạt động của CBD khi kết hợp với các chất hóa trị bước đầu. Nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng cannabidiol, một hợp chất chống ung thư tiềm năng, có thể tương tác hiệp đồng với các loại thuốc chống ung thư khác nhau, tăng cường tác động của chúng trong khi cắt giảm liều lượng độc tố cần thiết để đạt được hiệu quả tối đa.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học St. George, London đã quan sát thấy một cơ chế tương tự đối với THC, nó giúp làm tăng hiệu quả của các liệu pháp điều trị bệnh bạch cầu thông thường trong các nghiên cứu tiền lâm sàng. THC và cannabidiol đều có thể gây ra quá trình apoptosis trong các dòng tế bào bạch cầu.

Tại hội nghị mùa hè hàng năm của Hiệp hội Nghiên cứu Cannabinoid Quốc tế được tổ chức tại Freiburg, Đức. 300 nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã thảo luận về những phát hiện mới nhất của họ, chỉ ra con đường phát triển các chiến lược điều trị mới cho bệnh ung thư và các bệnh thoái hóa khác. Những nhà nghiên cứu người Ý đã chỉ ra rằng CBD là chất “gây ra quá trình apoptosis hiệu quả nhất” trong bệnh ung thư tuyến tiền liệt, và tương tự cho ung thư ruột kết theo các nhà nghiên cứu người Anh tại Đại học Lancaster.

Trong cộng đồng khoa học y sinh, phát hiện về đặc tính chống lại khối u của những hợp chất cannabinoid ngày càng được công nhận là một bước tiến quan trọng trong điều trị ung thư.

Nguồn: Project CBD – CBD, THC & Cancer

Dịch giả: Thiên Minh

Cần sa y tế – Giải pháp an toàn hơn trong điều trị các cơn đau mãn tính

Cơn đau mãn tính và chứng nghiện opioid đã hủy hoại vô số mảnh đời và thay đổi cục diện y học.

Đau là một phần thiết yếu của cuộc sống, nó giúp chúng ta biết được khi nào cần tránh nguy hiểm, thay đổi, nghỉ ngơi hoặc yêu cầu giúp đỡ. Tuy nhiên, có một số cơn đau vẫn tiếp tục sau khi mối đe dọa đã biến mất. Bệnh nhân đau mãn tính thường rất căng thẳng, thiếu ngủ và cảm thấy tuyệt vọng.

Một số bệnh nhân cảm thấy tuyệt vọng về hệ thống y tế khi họ bị từ chối điều trị hiệu quả cho các cơn đau mãn tính. Một số người khác thì cảm thấy bị tổn thương vì những trung tâm cung cấp dịch vụ y tế đã bắt họ sử dụng các loại thuốc nhóm opioid, dẫn đến tình trạng nghiện và hủy hoại đi cuộc sống của chính họ. Những trung tâm chăm sóc sức khỏe cũng cảm thấy thất vọng vì không thể làm gì nhiều hơn để giúp đỡ những bệnh nhân bị đau mãn tính, và cảm thấy vô cùng áy náy vì đã cung cấp các phương pháp điều trị ngắn hạn hiệu quả nhưng mang đến những tác hại lâu dài.

Thật may mắn khi đã có một giải pháp khác an toàn, hiệu quả và có thể sử dụng lâu dài. Cần sa y tế được xem như là một loại thuốc hiệu quả để điều trị các cơn đau mãn tính.

Chúng tôi nhận thấy rằng những bệnh nhân đã và đang sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid, sau khi bắt đầu sử dụng cần sa y tế thì liều lượng sử dụng nhóm thuốc này giảm ít nhất 50% trong tuần đầu tiên. Thông thường, có thể giảm đến 60-80%. Nhiều bệnh nhân đã có thể ngừng sử dụng hoàn toàn nhóm thuốc giảm đau này trong vài tháng tiếp theo. Họ cũng thường cắt giảm hoặc ngừng sử dụng các loại thuốc giảm đau khác, bao gồm thuốc chống trầm cảm và thuốc chống động kinh.

Một nghiên cứu khoa học cũng cho thấy điều tương tự. Một bài nghiên cứu tổng quan được xuất bản trên tạp chí Life Sciences (2004) kết luận rằng: “Việc sử dụng THC liều thấp kết hợp với morphin liều thấp có thể là một phương pháp điều trị thay thế giúp làm giảm nhu cầu tăng liều opioid trong khi gia tăng tính hiệu quả của opioid”. Một nghiên cứu trên mô hình động vật cho thấy rằng việc bổ sung một lượng nhỏ THC có thể làm tăng hiệu quả của morphin lên 4 đến 12 lần.

Và mặc dù những loại cannabinoid, như THC, có thể hoạt động cùng với các loại thuốc nhóm opioid để làm tăng hiệu lực ở các trung tâm thụ cảm đau của não, nhưng nó không có những tác động đáng kể đến thân não – khu vực chịu trách nhiệm cho việc giảm nhịp tim, thở chậm hơn và cuối cùng là tử vong ở những trường hợp dùng quá liều thuốc giảm đau nhóm opioid. Điều này có nghĩa là sử dụng cần sa y tế với opioid an toàn hơn khi sử dụng opioid một mình.

Những bệnh nhân với cơn đau mãn tính đang dần chú ý đến sự kết hợp này. Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Harm Reduction (2009) đã theo dõi 350 người sử dụng cần sa y tế và phát hiện ra rằng 65% trong số họ đang sử dụng cần sa y tế để thay thế cho thuốc kê đơn, 40% sử dụng nó như một chất thay thế cho đồ uống có cồn, và 26% sử dụng nó như một chất thay thế cho ma túy bất hợp pháp. Ngoài ra, có một số người trong số đó đã sử dụng cần sa y tế để giúp họ cai thuốc lá. Những lý do phổ biến nhất để giải thích cho sự thay thế này là chúng có ít tác dụng phụ bất lợi hơn, kiểm soát các triệu chứng tốt hơn và ít bỏ thuốc hơn.

Cần sa y tế có thể an toàn hơn hầu hết các phương pháp hiện tại của chúng ta để điều trị các cơn đau mãn tính. Vào năm 1999, Viện Y học Hoa Kỳ đã công bố một bài báo cáo nêu rõ “Ngoại trừ những tác hại liên quan đến việc hút thuốc, những tác dụng phụ của việc sử dụng cần sa y tế nằm trong phạm vi cho phép khi so sánh với các loại thuốc khác”, và “không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy cần sa gây ung thư cho con người”.

Không giống với thuốc giảm đau nhóm opioid, cần sa y tế có thể duy trì hiệu quả với một liều lượng thấp trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ. Trong khi nhóm opioid có thể làm tê liệt các cơn đau và ngắt kết nối cảm nhận giữa tâm trí với cơ thể, làm tăng nguy cơ dẫn đến các hoạt động không phù hợp và tái chấn thương, cần sa y tế thường có cơ chế ngược lại. Các bệnh nhân cho biết sau khi sử dụng cần sa y tế, các cơn đau vẫn còn nhưng ít dữ dội hơn, ít gây khó chịu hơn và họ không còn phải chú ý vào nó nữa. Tuy nhiên, điều này cũng không có nghĩa là cần sa y tế là một loại thuốc tuyệt vời dành cho tất cả mọi người.

Nguồn: Healer | Medical Cannabis – The Safer Solution to Chronic Pain

Dịch giả: Thiên Minh

Thành viên của Nghị viện Châu Âu nói rằng: Hãy biến việc sử dụng cần sa thành một việc nghiêm túc

Thành viên của Nghị viện Châu Âu (European Parliament) đề xuất các cách để giải quyết những lỗ hổng nghiên cứu về cần sa y tế và kêu gọi các quốc gia thành viên nắm bắt tiềm năng của các loại thuốc dựa trên cây cần sa.

Trong một nghị quyết được thông qua hôm thứ Tư, Nghị viện Châu Âu kêu gọi Ủy ban Châu Âu rút ra sự phân biệt rõ ràng giữa cần sa y tế và các cách sử dụng cần sa. Nghị quyết kêu gọi thành viên của Ủy ban giải quyết các rào cản pháp lý, tài chính và văn hóa – những điều gây nên gánh nặng cho nghiên cứu khoa học và mời họ tài trợ cho nghiên cứu.

EU cũng nên bắt tay vào nghiên cứu nhiều hơn và kích thích sự đổi mới liên quan đến các dự án liên quan đến cần sa y tế.

Hãy để các bác sĩ kê toa thuốc cần sa

Nghị viện Châu Âu kêu gọi quốc gia thành viên cho phép các bác sĩ sử dụng cách làm chuyên môn của họ trong việc kê đơn thuốc cần sa. Khi có hiệu quả, những loại thuốc này sẽ được bảo hiểm bởi các chương trình bảo hiểm y tế giống như các loại thuốc khác, họ nói.

“Quy định về các loại thuốc dựa trên cần sa sẽ chuyển thành doanh thu bổ sung cho nhà nước, sẽ hạn chế thị trường chợ đen và đảm bảo chất lượng và nhãn mác chính xác. Điều này cũng sẽ hạn chế sự tiếp xúc của trẻ vị thành niên với hợp chất này.” Họ nói.

Lý lịch

Nghị viện Châu Âu nói rằng có bằng chứng cho thấy cần sa hoặc những cannabinoid có thể có hiệu quả trong việc tăng sự thèm ăn và việc giảm cân liên quan đến bệnh HIV / AIDS. Cần sa y tế cũng có thể giúp làm giảm các triệu chứng rối loạn tâm thần như rối loạn tâm thần hoặc hội chứng Tourette, và làm giảm các triệu chứng của bệnh động kinh, cũng như bệnh Alzheimer, viêm khớp, hen suyễn, ung thư, bệnh Crohn và bệnh tăng nhãn áp. Chúng cũng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh béo phì, bệnh tiểu đường và giảm đau bụng kinh.

Trong khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chính thức khuyến nghị rằng hợp chất cannabidiol (CBD) không nên được phân loại là một chất được kiểm soát, luật pháp ở các quốc gia thành viên khác nhau về chủ đề cần sa cho mục đích y tế.

 

Dịch giả: Sadie Pices

Nguồn: European Parliament | Take medical use of cannabis seriously, say MEPs

 

Bài viết được xem nhiều nhất